Chủ nhật 15/03/2026 21:16
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho nhân dân các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc

Điều 2 Luật Trợ giúp pháp lý quy định trợ giúp pháp lý là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý trong vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật. Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý cũng quy định rõ về đối tượng được trợ giúp pháp lý, trong đó bao gồm người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Các tỉnh vùng Tây Bắc là những tỉnh còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, đa số là người dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dân trí thấp, còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu. Vì vậy, việc triển khai chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí tại địa bàn các tỉnh này là phù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhu cầu, nguyện vọng của người dân.


Trong những năm qua, một trong những nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm là công tác xóa đói, giảm nghèo, là nhiệm vụ then chốt để phát triển bền vững kinh tế - xã hội của đất nước. Với mục tiêu xóa đói giảm nghèo toàn diện, bền vững và bảo đảm các chính sách an sinh xã hội trên thực tế, trong đó mục tiêu “xóa nghèo về pháp luật” là một trong các chính sách giảm nghèo có ý nghĩa rất quan trọng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, đối tượng yếu thế trong xã hội, trong đó, lực lượng trợ giúp pháp lý (TGPL) thực hiện là nòng cốt. Công tác TGPL đã trở thành nội dung quan trọng trong tổng thể Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo trong nhiều năm qua. Ý nghĩa của việc giảm nghèo về mặt pháp luật, chính sách TGPL giúp người được TGPL bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Các tỉnh vùng Tây Bắc là những tỉnh còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội, đa số là người dân tộc thiểu số sinh sống tập trung ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, dân trí thấp, còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu. Vì vậy, việc triển khai chính sách TGPL miễn phí tại địa bàn các tỉnh này là phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Cho đến nay, hơn 20 năm hình thành và phát triển, chính sách TGPL tại các tỉnh Tây Bắc đã từng bước khẳng định được vai trò, vị trí của mình và có thể nói đây là một trong những chính sách trong nhóm các chính sách an sinh nhận được sự quan tâm, ủng hộ của các cấp chính quyền và người dân. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng hoạt động TGPL cho nhân dân các dân tộc thiểu số tại khu vực Tây Bắc đang là yêu cầu, là trăn trở của những người làm công tác quản lý nhà nước. Để phát huy được vai trò tích cực của công tác TGPL cho đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc cần xác định một hệ thống toàn diện, không chỉ đáp ứng yêu cầu cấp bách mà còn đảm bảo phát triển bền vững, lâu dài. Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đề xuất các giải pháp như sau:

1. Về vấn đề hoàn thiện pháp luật

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo khuôn khổ pháp lý cho sự phát triển bền vững công tác TGPL theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, xã hội nhằm cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người được TGPL có nhu cầu, tạo bước chuyển biến căn bản, đột phá trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL cần phải có lộ trình hoàn thiện pháp luật theo từng bước đi thích hợp, cụ thể:

Thứ nhất, cần đổi mới tư duy pháp lý trong xây dựng pháp luật về TGPL cho nhân dân các dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc theo hướng: (i) Nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt của các cơ quan, người tiến hành tố tụng về công tác TGPL, vị trí và vai trò của nó đối với người dân, nhất là người yếu thế trong xã hội. Nâng cao vị thế của các cơ quan quản lý nhà nước về TGPL, đặc biệt là Sở Tư pháp tại địa phương. (ii) Cần tiến hành điều tra, khảo sát và tổng kết về thực trạng, nhu cầu điều chỉnh hoàn thiện pháp luật hiện nay. (iii) Tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài. (iv) Thay đổi quan niệm về quy mô, phạm vi điều chỉnh các văn bản pháp luật, nhất là Luật Trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, thực hiện rà soát, đánh giá và tổng kết về thực trạng quy định liên quan đến hoạt động TGPL, cụ thể: Rà soát quy định Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành do Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ban hành, tính tương thích giữa quy định pháp luật với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên để hướng đến hoàn thiện pháp luật cho ngày càng phù hợp hơn.

Thứ ba, nâng cao trình độ, năng lực xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể: (i) Nâng cao trình độ, năng lực của các đại biểu Quốc hội, tăng số lượng đại biểu chuyên trách. Xây dựng được đội ngũ chuyên gia tham gia vào quá trình xây dựng, thẩm định, đánh giá tác động của các văn bản quy phạm pháp luật. (ii) Có cơ chế thu hút, mở rộng sự tham gia đông đảo của xã hội vào quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, nhất là các cơ quan nghiên cứu, các nhà khoa học.

Thứ tư, hoàn thiện các quy định pháp luật về: (i) Mô hình TGPL hỗn hợp, làm rõ vai trò nòng cốt của Nhà nước, cơ chế tham gia của tổ chức hành nghề luật sư, đặc biệt là khuyến khích sự tham gia, đóng góp của xã hội, huy động tính tự nguyện của tổ chức xã hội. (ii) Hình thức tư vấn pháp lý và phân định rõ phạm vi tư vấn. (iii) Phạm vi thực hiện TGPL cho nhân dân các dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc theo đúng bản chất và yêu cầu trên cơ sở định hướng rõ trọng tâm nhiệm vụ của hoạt động TGPL là TGPL theo vụ việc. Bên cạnh đó, để kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong quá trình tố tụng. (iv) Trình tự thực hiện TGPL tạo điều kiện thuận lợi cho người được TGPL, nhất là việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp lý trong hoạt động tố tụng. (v) Chế độ chính sách ưu đãi đối với người thực hiện TGPL tương xứng với nhiệm vụ được giao (phụ cấp thâm niên, nâng mức phụ cấp và chế độ bồi dưỡng cho người thực hiện trợ giúp pháp lý); có văn bản hướng dẫn nâng ngạch, thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức trợ giúp viên pháp lý đảm bảo quyền lợi cho các trợ giúp viên pháp lý. (vi) Xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng vụ việc TGPL công khai, minh bạch, hiệu quả. (vii) Tiếp tục hoàn thiện theo các tiêu chuẩn quốc tế về đánh giá chất lượng tổ chức thực hiện và giám sát kết quả vụ việc. (viii) Đẩy mạnh công tác xã hội hóa hoạt động TGPL. (ix) Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thu nhập cá nhân cho chủ thể thực hiện TGPL. (x) Đơn giản hóa các thủ tục thành lập và các thủ tục hành chính khác.

2. Về triển khai các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ

Một là, khảo sát về việc triển khai các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ TGPL ở nhiều địa phương trong toàn quốc bằng cách thu thập tài liệu, nghiên cứu pháp luật và kinh nghiệm TGPL của một số nước có nền kinh tế phát triển, đang phát triển và các nước đang trong quá trình chuyển đổi.

Hai là, nâng cao hiệu quả truyền thông pháp luật

Truyền thông pháp luật là một trong các phương thức hiệu quả nâng cao sự hiểu biết của người dân về TGPL. Truyền thông về TGPL để người dân biết đến dịch vụ TGPL, đến quyền được TGPL và thực hiện khi có nhu cầu; tăng cường xã hội hóa công tác TGPL. Vì vậy, cần tiếp tục tổ chức các đợt truyền thông và triển khai thực hiện quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành đến các thôn, xóm, xã vùng sâu vùng xa, vùng dân trí thấp, tăng cường truyền thông về pháp luật nói chung nhằm nâng cao nhận thức pháp luật cho những người thuộc diện người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú phù hợp với đặc điểm của người dân tộc thiểu số.

Ba là, xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng vụ việc TGPL công khai, minh bạch và hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện theo các tiêu chuẩn quốc tế về đánh giá chất lượng tổ chức thực hiện TGPL và giám sát kết quả vụ việc để đảm bảo các đánh giá khách quan, trung thực và công bằng.

Bốn là, tập trung thực hiện vụ việc TGPL theo đúng bản chất của hoạt động TGPL. Tiếp tục thực hiện cung cấp dịch vụ TGPL miễn phí cho người dân các dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc dưới nhiều hình thức, đặc biệt chú trọng công tác TGPL trong hoạt động tham gia tố tụng cả về số lượng lẫn chất lượng vụ việc, tham gia đại diện, bào chữa cho người được TGPL. Đảm bảo luôn kịp thời cử trợ giúp viên, luật sư tham gia TGPL tham gia tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL khi đơn có yêu cầu TGPL hoặc yêu cầu TGPL từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng theo đúng quy định của pháp luật theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

Năm là, tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể để triển khai hiệu quả Luật Trợ giúp pháp lý và các văn bản hướng dẫn, quy định chi tiết Luật Trợ giúp pháp lý, nhất là các cơ quan, người tiến hành tố tụng trong việc phối hợp TGPL trong hoạt động TGPL. Tăng cường vai trò của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL ở trung ương và địa phương trong việc triển khai các quy định về phối hợp TGPL trong tố tụng; đặc biệt trong việc nâng cao nhận thức và cơ chế phối hợp trong việc giải thích quyền TGPL, chuyển, gửi vụ việc TGPL của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Tăng cường vai trò chỉ đạo, quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về TGPL, nhất là trong triển khai, theo dõi việc thực hiện pháp luật về TGPL. Nhà nước quản lý tổ chức và hoạt động TGPL sát sao, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đánh giá chất lượng TGPL đối với các tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL trong toàn quốc. Đặc biệt, vai trò của Sở Tư pháp đối với công tác TGPL tại địa phương cần được phát huy tối đa hơn nữa. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp, kết nối giữa Bộ Tư pháp và Sở Tư pháp với tư cách là cơ quan tham mưu cho cơ quan quản lý nhà nước về TGPL ở trung ương và địa phương trong việc quản lý nhà nước về chất lượng TGPL.

Về quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan và việc lồng ghép chính sách TGPL với các chính sách trong các chương trình mục tiêu quốc gia. Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cơ quan có liên quan để triển khai thực hiện có hiệu quả các hoạt động theo các chương trình phối hợp đã ban hành. Phối hợp tốt với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan tổ chức có liên quan trong việc triển khai thực hiện hiệu quả chính sách TGPL trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục kiện toàn và nâng cao năng lực về tố tụng của Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, theo quy định tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BTC-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 29/6/2018. Xây dựng cơ chế phối hợp chi tiết, cụ thể thông qua các chương trình, kế hoạch, quy chế giữa các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình triển khai thực hiện TGPL. Các Sở Tư pháp cần có cơ chế phối hợp với Ban Dân tộc triển khai công tác TGPL tại địa phương. Mặt khác, cần mở rộng, duy trì sinh hoạt, nâng cao chất lượng hoạt động của các câu lạc bộ TGPL tại xã.

Sáu là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động TGPL. Để tạo thuận lợi hơn cho người dân tiếp cận và sử dụng dịch vụ TGPL, cần bổ sung cơ chế cho phép người được TGPL gửi đơn yêu cầu TGPL qua hệ thống trực tuyến điện tử để được xem xét, chấp nhận thụ lý vụ nhằm tạo cơ chế linh hoạt trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho người được TGPL. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động chuyên môn của đơn vị.

3. Về nhân sự, kiện toàn tổ chức, bộ máy

Thứ nhất, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng của người thực hiện TGPL thông qua nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn đa dạng, phong phú, đặc biệt chú trọng đến kỹ năng làm việc đối với người dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ am hiểu pháp luật, nắm vững các đặc điểm của các dân tộc thiểu số… trong tiếp cận vụ việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả. Thường xuyên tổ chức khóa tập huấn định kỳ, các lớp tập huấn chuyên sâu về chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật kiến thức pháp luật cho đội ngũ trợ giúp viên và cán bộ, công chức thực hiện quản lý nhà nước về TGPL. Ngoài ra, đối với những viên chức đủ điều kiện, cử tham dự khóa đào tạo nghiệp vụ luật sư, đào tạo bồi dưỡng nguồn bổ nhiệm trợ giúp viên pháp lý tạo nguồn trợ giúp viên pháp lý nhằm bổ sung nguồn lực thực hiện TGPL đáp ứng nhu cầu, đối tượng TGPL trên địa bàn tỉnh theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý. Bằng các quy định cụ thể trong Luật đã tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức có đủ điều kiện, tiêu chuẩn tham gia thực hiện TGPL và các chủ thể này khi ký hợp đồng thực hiện TGPL được Nhà nước chi trả thù lao thực hiện vụ việc. Trong việc cung cấp dịch vụ đó phải đặt vấn đề chất lượng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu.

Thứ hai, tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức theo đề án vị trí việc làm; chuyển đổi mã số, nâng ngạch chức danh nghề nghiệp. Xây dựng hoàn thiện đội ngũ và chế độ đãi ngộ người thực hiện TGPL. Cụ thể, xây dựng đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm, kỹ năng. Nâng cao chất lượng dịch vụ và chuyên nghiệp hóa hoạt động TGPL thông qua việc chuẩn hóa đội ngũ người thực hiện TGPL, quy định tiêu chuẩn tham gia thực hiện TGPL đối với tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật và quản lý chất lượng vụ việc TGPL.

Thứ ba, huy động các nguồn lực xã hội, khuyến khích các tổ chức hành nghề luật sư, tư vấn pháp luật trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia TGPL. Bảo đảm thu hút thêm nguồn kinh phí cho hoạt động TGPL tương xứng với việc phát triển tổ chức, bộ máy, cán bộ và số lượng, chất lượng vụ việc TGPL.

Thứ tư, Nhà nước cần có chính sách để thu hút các nguồn lực thực hiện TGPL và hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp, công tác TGPL để khích lệ sự tham gia nhiều hơn nữa của các lực lượng xã hội đối với hoạt động TGPL. Đề nghị Bộ Tư pháp, Cục Trợ giúp pháp lý tiếp tục tham mưu trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản liên quan đến chế độ chính sách ưu đãi đối với người thực hiện TGPL tương xứng với nhiệm vụ được giao (phụ cấp thâm niên, nâng mức phụ cấp và chế độ bồi dưỡng cho người thực hiện TGPL); có văn bản hướng dẫn nâng ngạch, thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức trợ giúp viên pháp lý đảm bảo quyền lợi cho các trợ giúp viên pháp lý… Hàng tháng, hàng quý phải có báo cáo sơ kết, tổng kết để kịp thời khen thưởng, tuyên dương, nhân rộng những phương pháp làm hay, đồng thời xử lý nghiêm những vi phạm, khắc phục những hạn chế trong quá trình thực thi pháp luật.

4. Vấn đề kiểm tra, thẩm định, nghiệm thu vụ việc

Thứ nhất, tổ chức việc thẩm định, đánh giá chất lượng TGPL theo quy định tại Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ Tư pháp, có thể phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức nghề nghiệp, xã hội nghề nghiệp có chức năng quản lý các tổ chức và người thực hiện TGPL khác để cùng tham gia việc đánh giá chất lượng, đặc biệt, chú ý đến sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc và giám sát việc đánh giá chất lượng vụ việc theo đúng quy định, qua đó nắm bắt kịp thời thực trạng chất lượng vụ việc TGPL để có những giải pháp bảo đảm chất lượng vụ việc.

Thứ hai, duy trì, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ phận kiểm tra, thẩm định chất lượng và nghiệm thu hồ sơ vụ việc TGPL để đảm bảo công tác thẩm định, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL hiệu quả, kịp thời theo quy định và hướng dẫn cụ thể của Cục Trợ giúp pháp lý - Bộ Tư pháp đặc biệt là vụ việc tham gia tố tụng. Nhà nước bảo đảm tính bền vững của công tác TGPL theo hướng kiểm soát chặt chẽ chất lượng dịch vụ TGPL.

Thứ ba, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra việc thực hiện hoạt động TGPL; khen thưởng, xử lý vi phạm trong hoạt động TGPL. Tăng cường sự kết nối giữa trung ương - địa phương; cơ quan quản lý nhà nước - tổ chức thực hiện TGPL, đặc biệt, chú trọng đến sự tham gia và chất lượng dịch vụ do các tổ chức tham gia TGPL cung cấp. Đổi mới công tác quản lý, tăng cường kiểm tra hoạt động TGPL của Bộ Tư pháp (Cục Trợ giúp pháp lý) và Sở Tư pháp đối với các tổ chức thực hiện TGPL thông qua công tác kiểm tra định kỳ và đột xuất.

Thứ tư, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác TGPL bằng việc thực hiện tiếp nhận, kiểm tra, nghiệm thu hồ sơ, đánh giá chất lượng vụ việc TGPL quy định chỉ tiêu vụ việc tham gia tố tụng năm 2019 do Bộ Tư pháp ban hành.

5. Vấn đề nguồn lực tài chính và các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất cho các hoạt động trợ giúp pháp lý

Tiếp tục nghiên cứu các cơ chế góp phần nâng cao chất lượng hoạt động TGPL về kinh phí, về chế độ, chính sách cho người thực hiện TGPL, cụ thể: (i) Hoàn thiện thể chế, chính sách, cơ chế quản lý và tổ chức cung ứng phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng loại hình dịch vụ công, trong đó tính đến đặc thù đối với những dịch vụ là trách nhiệm của Nhà nước. (ii) Ủy ban nhân dân tỉnh tạo điều kiện quan tâm, tạo điều kiện bảo nguồn lực tài chính cho các hoạt động nghiệp vụ TGPL; tăng cường đầu tư kinh phí đáp ứng các điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện làm việc cần thiết để triển khai nhiệm vụ công tác TGPL tại địa phương đáp ứng với nhu cầu TGPL trên địa bàn bố trí trụ sở độc lập, thuận tiện cho chi nhánh. Tuy nhiên, ngoài nguồn kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, các cơ quan quản lý nhà nước về TGPL và tổ chức thực hiện TGPL cần tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí từ khối doanh nghiệp và cộng đồng xã hội, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp vào hoạt động TGPL dưới sự quản lý của Nhà nước.

6. Tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm

Trong bối cảnh hợp tác quốc tế sâu rộng như hiện nay, các yêu cầu liên quan đến bảo đảm quyền con người, quyền tiếp cận công lý, trong đó có tiếp cận dịch vụ pháp lý và hoạt động TGPL cho người dân tộc thiểu số các tỉnh Tây Bắc. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp quốc ngày 20/12/2012 về các nguyên tắc và hướng dẫn của Liên Hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự đã thừa nhận TGPL là một thành tố cơ bản của hệ thống tư pháp hình sự dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Trong Bản quy tắc và hướng dẫn tiếp cận TGPL trong tư pháp hình sự ngày 20/12/2014, Liên Hợp quốc khuyến nghị các quốc gia “tạo điều kiện tiếp cận TGPL có chất lượng ở mọi vùng của đất nước”. Mặc dù đây là những nguyên tắc mang tính khuyến nghị của Liên Hợp quốc nhưng những khuyến nghị này có tầm ảnh hưởng khá lớn tới thể chế, chính sách của các quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia hợp tác quốc tế sâu rộng như hiện nay, việc nội luật hóa các cam kết quốc tế cũng như đưa pháp luật quốc gia tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế sẽ nâng cao vị thế, vai trò và hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế mà Đảng đề ra.

Bùi Huy Toàn

Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: