Thứ bảy 10/10/2026 05:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc

Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Những năm qua, lực lượng Cảnh sát giao thông đã thực hiện tốt chức năng bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh, tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa công tác này, cần nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.

Từ khi các tuyến đường cao tốc được đưa vào khai thác đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các địa phương có tuyến cao tốc đi qua nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời, là một trong những “đòn bẩy” thu hút đầu tư. Có thể nói, đường cao tốc có vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, giúp đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, rút ngắn thời gian đi lại của hành khách, mở rộng thị trường và nâng cao đời sống văn hóa xã hội, đối với lĩnh vực xã hội. Cùng với đó, việc xây dựng, khai thác sử dụng đường bộ cao tốc góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, giảm thiểu đáng kể các nguồn ô nhiễm do khói bụi, khí thải, tiếng ồn của hoạt động giao thông gây ra.

Tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng có tổng chiều dài là 105,5 km, đi qua 5 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc loại A, gồm 06 làn xe chạy và 02 làn dừng khẩn cấp. Đoạn cao tốc Hạ Long - Vân Đồn có chiều dài từ km 0 đến km59+465, toàn tuyến thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Từ khi đưa vào sử dụng, tuyến đường cao tốc này đã đem lại được nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì vấn đề đảm bảo an toàn giao thông trên đường cao tốc cũng được xã hội quan tâm. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng phương tiện vi phạm giao thông trên đường cao tốc ngày một gia tăng. Theo thống kê số liệu của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an, từ năm 2016 đến năm 2020, đã kiểm tra và lập biên bản, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 5.576 trường hợp, tước giấy phép lái xe 807 trường hợp và nộp Kho bạc Nhà nước 6,8 tỷ đồng...

Trên thực tế, tình hình trật tự, an toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh ngày càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. Công tác phối hợp của lực lượng Cảnh sát giao thông với các lực lượng chức năng khác nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc này trong những năm qua đã được triển khai và đã đạt được những kết quả nhất định. Số vụ tai nạn giao thông đã giảm đáng kể so với các năm trước đây, các hành vi vi phạm như dừng đỗ, đi ngược chiều, lùi xe trên đường cao tốc cũng đã giảm, đặc biệt tình trạng ùn tắc giao thông không xảy ra, luôn đảm bảo được cho các phương tiện tham gia giao thông được thông suốt. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho người tham gia giao thông cũng được diễn ra liên tục trong năm và các đợt cao điểm. Việc phối hợp với các đơn vị chức năng thực hiện tốt công tác dẫn đoàn, bảo vệ đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế khi đi trên tuyến đường cao tốc được đảm bảo an toàn. Công tác phối hợp được thực hiện thường xuyên, góp phần gắn kết giữa lực lượng Cảnh sát giao thông và các lực lượng chức năng khác với chung mục đích là bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên tuyến, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm pháp luật khác diễn ra trên đường cao tốc.

Tuy nhiên, mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc còn tồn tại một số hạn chế. Công tác phối hợp chưa được thực sự quan tâm, mô hình tổ chức lực lượng cảnh sát giao thông làm quản lý trật tự, an toàn giao thông nói chung chưa thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến, đặc biệt năng lực trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ vẫn còn nhiều hạn chế, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác phối hợp …


Để khắc phục những bất cập và nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc nói chung và tuyến cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh nói riêng, tác giả cho rằng, cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, lực lượng Cảnh sát giao thông cần làm tốt công tác tham mưu xây dựng các chủ trương, kế hoạch cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền đề ra các phương pháp, kế hoạch phối hợp với các đơn vị chức năng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc. Với chức năng là lực lượng trực tiếp được giao nhiệm vụ tiến hành các biện pháp công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc, địa bàn giao thông, lực lượng Cảnh sát giao thông là những người nắm rõ nhất tình hình trật tự, an toàn giao thông trên các địa bàn khác nhau, vì vậy, cần tham mưu cho lãnh đạo Cục Cảnh sát giao thông và lãnh đạo các đơn vị địa phương xây dựng kế hoạch, chương trình, biện pháp thực hiện bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn các tỉnh, thành phù hợp với tình hình thực tiễn và mang lại hiệu quả công tác cao nhất. Để làm tốt công tác tham mưu này, thì chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc phải luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những bất cập, thiếu sót trong công tác phối hợp với các đơn vị chức năng, từ đó, trực tiếp tham mưu đề xuất với các đơn vị chức năng có thẩm quyền xây dựng, ban hành các văn bản pháp lý, xây dựng kế hoạch phối hợp cụ thể, rõ ràng để thực hiện công tác phối hợp nhằm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông hiệu quả.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời những sai phạm trong công tác phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Hoạt động phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đường cao tốc là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vì nó liên quan đến rất nhiều ban ngành khác nhau với mục đích là để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội trên tuyến đường cao tốc, vì vậy, lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra giám sát tổ công tác thực hiện nhiệm vụ phối hợp với cơ quan chức năng trên tuyến cao tốc, từ đó, phát hiện những sơ hở thiếu sót hoặc những sai phạm trong công tác phối hợp thì phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Để thực hiện tốt giải pháp này, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải thường xuyên xây dựng các kế hoạch, tổ chức các buổi kiểm tra công khai, kiểm tra đột xuất, giám sát công việc của cán bộ, chiến sĩ trong tổ công tác khi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát và làm nhiệm vụ khi phối hợp cùng với các cơ quan chức năng khác, từ đó, phát hiện những thiếu sót, sai phạm trong công việc và trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo, xử lý nghiêm những sai phạm đó tránh tình trạng làm ảnh hưởng đến lực đơn vị và lực lượng toàn ngành. Bên cạnh đó, lãnh đạo, chỉ huy cần quan tâm đến đời sống vật chất, tâm tư tình cảm chế độ chính sách, nâng cao trình độ mọi mặt cho lực lượng cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt nhất là những người trực tiếp làm nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị chức năng, thường xuyên bổ túc nâng cao trình độ, có bản chính trị lĩnh vững vàng khi làm nhiệm vụ phối hợp cho cán bộ để giải quyết bất kỳ công việc gì mà được cấp trên giao phó, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ luôn phát huy tinh thần sáng tạo học hỏi kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện hơn.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông, thực hiện văn hoá giao tiếp ứng xử văn minh trong hoạt động phối hợp với cơ quan chức năng trong và ngoài ngành Công an. Để công tác phối hợp nhằm đảm bảo trật tự an, toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc ngày càng đạt hiệu quả cao, lực lượng Cảnh sát giao thông phải có phẩm chất đạo đức tốt, phong cách làm việc văn hoá, chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử khi tiếp xúc với các đơn vị chức năng khác, với nhân dân có một vai trò vô cùng quan trọng nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Nhằm thực hiện tốt giải pháp này, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải thường xuyên cung cấp các thông tư, văn bản quy định về văn hoá ứng xử của lực lượng Công an nhân dân, trong đó, có quy định riêng về văn hoá ứng xử của lực lượng Cảnh sát giao thông. Cán bộ, chiến sĩ phải tập trung nghiên cứu, bổ sung kiến thức về văn hoá ứng xử khi giao tiếp với đồng chí, đồng đội, với nhân dân cho phù hợp tạo nên những hình ảnh đẹp cho lực lượng toàn ngành.

Bốn là, tăng cường phối hợp tiến hành công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ trên tuyến đường cao tốc. Ngày 19/6/2020, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 32/2020/TT-BCA quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Công an nhân dân. Trong đó, có quy định lực lượng Cảnh sát giao thông khi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên đường cao tốc khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về việc xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ cần khẩn trương tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường và tổ chức tiến hành điều tra, giải quyết những vụ tai nạn giao thông đường bộ theo đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân công. Như vậy, quy định này đã có sự thay đổi so với trước đây đó là lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông trên đường cao tốc khi phát hiện ra vụ tai nạn giao thông chỉ tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường và thông báo cho lực lượng Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện tới điều tra, giải quyết theo quy định. Do đó, để bảo đảm lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ trên đường cao tốc có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó có nhiệm vụ tiến hành hiệu quả việc phối hợp thực hiện công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ trên đường cao tốc cần phải tăng cường tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực, kiến thức chuyên môn cho lực lượng này.

Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần tập trung giải quyết một số nội dung cụ thể như sau: (i) Xây dựng nội dung, chương trình tập huấn đặc biệt là những nội dung tập huấn về giải quyết tai nạn giao thông đường bộ liên quan tới ô tô, việc phát hiện, thu thập và đánh giá các dấu vết có liên quan... để tập huấn cho lực lượng Cảnh sát giao thông. Trên cơ sở đó phối hợp với các cơ quan, lực lượng có liên quan báo cáo lãnh đạo để mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho lực lượng Cảnh sát giao thông; (ii) Xây dựng các nội dung, biện pháp phối hợp với các lực lượng có liên quan để tổ chức phối hợp thực hiện phối hợp trao đổi thông tin, tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường cao tốc...; (iii) Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền trên phạm vi tuyến cao tốc đi qua trong công tác điều tra, giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm xảy ra trên tuyến cao tốc.

Năm là, xây dựng quy chế, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng có liên quan trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc. Mọi hoạt động phối hợp trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc, trước hết phải có sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy giữa các lực lượng tham gia quan hệ phối hợp và chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện, trong đó, quy chế của từng lượng tham gia phối hợp có ý nghĩa quan trọng đến kết quả quan hệ phối hợp. Quan hệ phối hợp trong đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc được tiến hành bởi rất nhiều hoạt động và từng hoạt động cần có sự phối hợp để giải quyết. Căn cứ vào từng nội dung hoạt động để có cơ chế điều hành các hoạt động phối hợp cho phù hợp với thực tiễn. Quy định về quy chế, cơ chế trong phối hợp liên ngành và các kế hoạch đã được ký kết còn rất chung, chưa thực sự rõ ràng đã hạn chế sự điều hành thống nhất trong các hoạt động phối hợp. Vì vậy, cơ chế của từng lực lượng tham gia phối hợp phải được ghi nhận và xác định là một nội dung của quy chế và được thể chế hóa trong các văn bản được ký kết./.

ThS. Nghiêm Xuân Cương
Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: