Thứ hai 19/01/2026 18:19
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc

Công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc đóng vai trò rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Những năm qua, lực lượng Cảnh sát giao thông đã thực hiện tốt chức năng bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh, tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa công tác này, cần nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.

Từ khi các tuyến đường cao tốc được đưa vào khai thác đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các địa phương có tuyến cao tốc đi qua nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời, là một trong những “đòn bẩy” thu hút đầu tư. Có thể nói, đường cao tốc có vai trò đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, giúp đẩy mạnh lưu thông hàng hóa, rút ngắn thời gian đi lại của hành khách, mở rộng thị trường và nâng cao đời sống văn hóa xã hội, đối với lĩnh vực xã hội. Cùng với đó, việc xây dựng, khai thác sử dụng đường bộ cao tốc góp phần giảm thiểu ùn tắc giao thông, tai nạn giao thông, giảm thiểu đáng kể các nguồn ô nhiễm do khói bụi, khí thải, tiếng ồn của hoạt động giao thông gây ra.

Tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng có tổng chiều dài là 105,5 km, đi qua 5 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh), được xây dựng theo tiêu chuẩn đường cao tốc loại A, gồm 06 làn xe chạy và 02 làn dừng khẩn cấp. Đoạn cao tốc Hạ Long - Vân Đồn có chiều dài từ km 0 đến km59+465, toàn tuyến thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh. Từ khi đưa vào sử dụng, tuyến đường cao tốc này đã đem lại được nhiều lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thì vấn đề đảm bảo an toàn giao thông trên đường cao tốc cũng được xã hội quan tâm. Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình trạng phương tiện vi phạm giao thông trên đường cao tốc ngày một gia tăng. Theo thống kê số liệu của Cục Cảnh sát giao thông, Bộ Công an, từ năm 2016 đến năm 2020, đã kiểm tra và lập biên bản, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 5.576 trường hợp, tước giấy phép lái xe 807 trường hợp và nộp Kho bạc Nhà nước 6,8 tỷ đồng...

Trên thực tế, tình hình trật tự, an toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh ngày càng diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội. Công tác phối hợp của lực lượng Cảnh sát giao thông với các lực lượng chức năng khác nhằm bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc này trong những năm qua đã được triển khai và đã đạt được những kết quả nhất định. Số vụ tai nạn giao thông đã giảm đáng kể so với các năm trước đây, các hành vi vi phạm như dừng đỗ, đi ngược chiều, lùi xe trên đường cao tốc cũng đã giảm, đặc biệt tình trạng ùn tắc giao thông không xảy ra, luôn đảm bảo được cho các phương tiện tham gia giao thông được thông suốt. Công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cho người tham gia giao thông cũng được diễn ra liên tục trong năm và các đợt cao điểm. Việc phối hợp với các đơn vị chức năng thực hiện tốt công tác dẫn đoàn, bảo vệ đoàn lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế khi đi trên tuyến đường cao tốc được đảm bảo an toàn. Công tác phối hợp được thực hiện thường xuyên, góp phần gắn kết giữa lực lượng Cảnh sát giao thông và các lực lượng chức năng khác với chung mục đích là bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên tuyến, phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm hành chính, các hành vi vi phạm pháp luật khác diễn ra trên đường cao tốc.

Tuy nhiên, mối quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc còn tồn tại một số hạn chế. Công tác phối hợp chưa được thực sự quan tâm, mô hình tổ chức lực lượng cảnh sát giao thông làm quản lý trật tự, an toàn giao thông nói chung chưa thống nhất, dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến, đặc biệt năng lực trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ vẫn còn nhiều hạn chế, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác phối hợp …


Để khắc phục những bất cập và nâng cao hiệu quả quan hệ phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc nói chung và tuyến cao tốc Hà Nội - Quảng Ninh nói riêng, tác giả cho rằng, cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:

Một là, lực lượng Cảnh sát giao thông cần làm tốt công tác tham mưu xây dựng các chủ trương, kế hoạch cho các cấp uỷ Đảng, chính quyền đề ra các phương pháp, kế hoạch phối hợp với các đơn vị chức năng trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc. Với chức năng là lực lượng trực tiếp được giao nhiệm vụ tiến hành các biện pháp công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên các tuyến cao tốc, địa bàn giao thông, lực lượng Cảnh sát giao thông là những người nắm rõ nhất tình hình trật tự, an toàn giao thông trên các địa bàn khác nhau, vì vậy, cần tham mưu cho lãnh đạo Cục Cảnh sát giao thông và lãnh đạo các đơn vị địa phương xây dựng kế hoạch, chương trình, biện pháp thực hiện bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn các tỉnh, thành phù hợp với tình hình thực tiễn và mang lại hiệu quả công tác cao nhất. Để làm tốt công tác tham mưu này, thì chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ cao tốc phải luôn nâng cao tinh thần trách nhiệm, kịp thời phát hiện những bất cập, thiếu sót trong công tác phối hợp với các đơn vị chức năng, từ đó, trực tiếp tham mưu đề xuất với các đơn vị chức năng có thẩm quyền xây dựng, ban hành các văn bản pháp lý, xây dựng kế hoạch phối hợp cụ thể, rõ ràng để thực hiện công tác phối hợp nhằm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông hiệu quả.

Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, phát hiện, xử lý kịp thời những sai phạm trong công tác phối hợp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Hoạt động phối hợp trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên đường cao tốc là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vì nó liên quan đến rất nhiều ban ngành khác nhau với mục đích là để đảm bảo trật tự, an toàn giao thông và trật tự an toàn xã hội trên tuyến đường cao tốc, vì vậy, lãnh đạo đơn vị phải thường xuyên trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra giám sát tổ công tác thực hiện nhiệm vụ phối hợp với cơ quan chức năng trên tuyến cao tốc, từ đó, phát hiện những sơ hở thiếu sót hoặc những sai phạm trong công tác phối hợp thì phải xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Để thực hiện tốt giải pháp này, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải thường xuyên xây dựng các kế hoạch, tổ chức các buổi kiểm tra công khai, kiểm tra đột xuất, giám sát công việc của cán bộ, chiến sĩ trong tổ công tác khi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát và làm nhiệm vụ khi phối hợp cùng với các cơ quan chức năng khác, từ đó, phát hiện những thiếu sót, sai phạm trong công việc và trực tiếp hướng dẫn chỉ đạo, xử lý nghiêm những sai phạm đó tránh tình trạng làm ảnh hưởng đến lực đơn vị và lực lượng toàn ngành. Bên cạnh đó, lãnh đạo, chỉ huy cần quan tâm đến đời sống vật chất, tâm tư tình cảm chế độ chính sách, nâng cao trình độ mọi mặt cho lực lượng cán bộ, chiến sĩ, đặc biệt nhất là những người trực tiếp làm nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị chức năng, thường xuyên bổ túc nâng cao trình độ, có bản chính trị lĩnh vững vàng khi làm nhiệm vụ phối hợp cho cán bộ để giải quyết bất kỳ công việc gì mà được cấp trên giao phó, cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ luôn phát huy tinh thần sáng tạo học hỏi kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện hơn.

Ba là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sỹ Cảnh sát giao thông, thực hiện văn hoá giao tiếp ứng xử văn minh trong hoạt động phối hợp với cơ quan chức năng trong và ngoài ngành Công an. Để công tác phối hợp nhằm đảm bảo trật tự an, toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc ngày càng đạt hiệu quả cao, lực lượng Cảnh sát giao thông phải có phẩm chất đạo đức tốt, phong cách làm việc văn hoá, chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử khi tiếp xúc với các đơn vị chức năng khác, với nhân dân có một vai trò vô cùng quan trọng nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Nhằm thực hiện tốt giải pháp này, lãnh đạo, chỉ huy đơn vị phải thường xuyên cung cấp các thông tư, văn bản quy định về văn hoá ứng xử của lực lượng Công an nhân dân, trong đó, có quy định riêng về văn hoá ứng xử của lực lượng Cảnh sát giao thông. Cán bộ, chiến sĩ phải tập trung nghiên cứu, bổ sung kiến thức về văn hoá ứng xử khi giao tiếp với đồng chí, đồng đội, với nhân dân cho phù hợp tạo nên những hình ảnh đẹp cho lực lượng toàn ngành.

Bốn là, tăng cường phối hợp tiến hành công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ trên tuyến đường cao tốc. Ngày 19/6/2020, Bộ trưởng Bộ Công an đã ban hành Thông tư số 32/2020/TT-BCA quy định về phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Công an nhân dân. Trong đó, có quy định lực lượng Cảnh sát giao thông khi làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát trên đường cao tốc khi phát hiện hoặc nhận được tin báo về việc xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ cần khẩn trương tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường và tổ chức tiến hành điều tra, giải quyết những vụ tai nạn giao thông đường bộ theo đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân công. Như vậy, quy định này đã có sự thay đổi so với trước đây đó là lực lượng làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát giao thông trên đường cao tốc khi phát hiện ra vụ tai nạn giao thông chỉ tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường và thông báo cho lực lượng Cảnh sát giao thông Công an cấp huyện tới điều tra, giải quyết theo quy định. Do đó, để bảo đảm lực lượng Cảnh sát giao thông làm nhiệm vụ trên đường cao tốc có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, trong đó có nhiệm vụ tiến hành hiệu quả việc phối hợp thực hiện công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ trên đường cao tốc cần phải tăng cường tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực, kiến thức chuyên môn cho lực lượng này.

Để thực hiện có hiệu quả giải pháp này cần tập trung giải quyết một số nội dung cụ thể như sau: (i) Xây dựng nội dung, chương trình tập huấn đặc biệt là những nội dung tập huấn về giải quyết tai nạn giao thông đường bộ liên quan tới ô tô, việc phát hiện, thu thập và đánh giá các dấu vết có liên quan... để tập huấn cho lực lượng Cảnh sát giao thông. Trên cơ sở đó phối hợp với các cơ quan, lực lượng có liên quan báo cáo lãnh đạo để mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho lực lượng Cảnh sát giao thông; (ii) Xây dựng các nội dung, biện pháp phối hợp với các lực lượng có liên quan để tổ chức phối hợp thực hiện phối hợp trao đổi thông tin, tiến hành các biện pháp khẩn cấp tại hiện trường vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường cao tốc...; (iii) Tăng cường phối hợp chặt chẽ với cơ quan Cảnh sát điều tra có thẩm quyền trên phạm vi tuyến cao tốc đi qua trong công tác điều tra, giải quyết các vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm xảy ra trên tuyến cao tốc.

Năm là, xây dựng quy chế, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng có liên quan trong công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc. Mọi hoạt động phối hợp trong bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trên tuyến cao tốc, trước hết phải có sự thống nhất trong lãnh đạo, chỉ huy giữa các lực lượng tham gia quan hệ phối hợp và chủ động xây dựng kế hoạch thực hiện, trong đó, quy chế của từng lượng tham gia phối hợp có ý nghĩa quan trọng đến kết quả quan hệ phối hợp. Quan hệ phối hợp trong đảm bảo trật tự, an toàn giao thông trên tuyến đường cao tốc được tiến hành bởi rất nhiều hoạt động và từng hoạt động cần có sự phối hợp để giải quyết. Căn cứ vào từng nội dung hoạt động để có cơ chế điều hành các hoạt động phối hợp cho phù hợp với thực tiễn. Quy định về quy chế, cơ chế trong phối hợp liên ngành và các kế hoạch đã được ký kết còn rất chung, chưa thực sự rõ ràng đã hạn chế sự điều hành thống nhất trong các hoạt động phối hợp. Vì vậy, cơ chế của từng lực lượng tham gia phối hợp phải được ghi nhận và xác định là một nội dung của quy chế và được thể chế hóa trong các văn bản được ký kết./.

ThS. Nghiêm Xuân Cương
Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: