Chủ nhật 14/06/2026 17:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích nội hàm của việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng, phân tích hoạt động thực thi nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của các chủ thể có liên quan, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực thực thi nghĩa vụ này.

1. Đôi nét về thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Dựa vào tính chất của hoạt động thực thi, có thể hiểu thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH chính là hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức HĐNH trong việc thực hiện toàn bộ các quy định pháp luật về bảo mật thông tin nhằm bảo đảm các thông tin của khách hàng chỉ được tiếp cận bởi những người có thẩm quyền tương ứng. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực nhằm bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng.

Xem xét dưới góc độ bản chất của hoạt động thực thi, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH được hiểu là tổng thể các hành vi hợp pháp, có mục đích của các chủ thể liên quan đến hoạt động bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH, thông qua việc cụ thể hóa các quy định về bảo mật vào thực tiễn nhằm bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng, đồng thời các chủ thể này còn có nghĩa vụ ngăn chặn và chống lại bên thứ ba tiết lộ thông tin bí mật của khách hàng. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng không chỉ là nghĩa vụ phát sinh đối với chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng trong việc ban hành các quy định nội bộ, thực hiện các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng; mà còn của cả cơ quan quản lý nhà nước về HĐNH trong quá trình chi tiết hóa văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và thực hiện quyền thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo mật, áp dụng các biện pháp can thiệp trực tiếp nhằm tăng cường hiệu lực của việc thực thi pháp luật của các chủ thể liên quan theo luật định. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH nên hiểu theo hướng thứ hai. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng không chỉ là nghĩa vụ của các tổ chức HĐNH - chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng, mà còn có Ngân hàng Nhà nước với tư cách là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, HĐNH và chủ thể có liên quan trong quá trình thực hiện nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng. Các chủ thể này có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng, đồng thời ngăn chặn và chống lại người thứ ba tiết lộ thông tin bí mật của khách hàng.

Thứ hai, hình thức thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH là quá trình triển khai các quy định pháp luật về bảo mật thông tin của khách hàng vào thực tiễn đời sống thông qua các hành vi pháp lý: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật.

Thứ ba, nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, HĐNH; chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng và các chủ thể có liên quan phải tiến hành một số hoạt động nhất định nhằm ngăn chặn hành vi tiết lộ bí mật thông tin khách hàng hoặc kiềm chế thực hiện một số hoạt động nhất định nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến khách hàng trong quá trình nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản[1].

Thứ tư, hậu quả pháp lý của việc không thực thi hoặc thực thi không đúng pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Các chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng theo cam kết hoặc theo luật định sẽ phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của mình.

Tóm lại, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ là nghĩa vụ của tổ chức HĐNH phải thực hiện trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, mà còn là nghĩa vụ của chủ thể HĐNHthể hiện trong hoạt động chi tiết hóa quy định pháp luật, thực hiện hoạt động thanh tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ ấy và các chủ thể có liên quan theo luật định trong việc bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng.

2. Nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng

2.1. Chủ thể và hình thức thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng

Một là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Bảo mật thông tin khách hàng sẽ giúp cho các tổ chức HĐNH tối thiểu hóa được các thiệt hại khi có rủi ro xảy ra, đồng thời ảo vệ sự phát triển liên tục, bền vững của các tổ chức HĐNH. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động này trong sự phát triển của các tổ chức HĐNH và của nền kinh tế, cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và HĐNH đã hướng dẫn chi tiết những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực này; đồng thời thực hiện quyền thanh tra, giám sát các tổ chức HĐNH nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng[2].

Bên cạnh đó, cán bộ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - với tư cách là chủ thể có liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nghiệp vụ của mình phải giữ bí mật thông tin hoạt động nghiệp vụ của NHNN, của các tổ chức HĐNH và bí mật tiền gửi của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật[3]. Việc thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của chủ thể này được thực hiện thông qua sự tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến bảo mật thông tin của khách hàng đã được quy định trong pháp luật ngân hàng, đồng thời phải chịu trách nhiệm về các hành vi pháp lý do mình thực hiện.

Hai là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đối với chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin khách hàng. Khi khách hàng thực hiện các giao dịch với các tổ chức HĐNH thì nhân viên, người quản lý, người điều hành tổ chức HĐNH, chi nhánh ngân hàng nước ngoài - những chủ thể có mối quan hệ trực tiếp với khách hàng sẽ sở hữu nhiều thông tin quan trọng về khách hàng. Do đó, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của chủ thể này cũng được thể hiện ở việc thi hành, tuân thủ các quy định pháp luật ngân hàng về nghĩa vụ bảo mật. Điều này có nghĩa là, trong khi thi hành các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng, các chủ thể này phải kiềm chế, không hành động, thỏa thuận trái pháp luật; không thực hiện hoặc cam kết những điều mà pháp luật nghiêm cấm; việc thực hiện luôn phải tự giác, kiềm chế thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo mật.

Ngoài ra, các tổ chức HĐNH cũng có thể thông qua hoạt động áp dụng pháp luật để cụ thể hóa hoặc quy định thêm các văn bản nội bộ như cẩm nang tín dụng hoặc sổ tay tín dụng; quy định nghĩa vụ bảo mật này trong các hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng trong các hợp đồng mẫu phù hợp với quy định của pháp luật để thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng.

Ba là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đối với chủ thể thứ ba có liên quan. Trong quá trình HĐNH, không chỉ có các tổ chức HĐNH nắm giữ thông tin bí mật của khách hàng mà còn có nhiều chủ thể vì những lý do khác nhau (như: Được pháp luật cho phép quyền yêu cầu cung cấp thông tin hoặc được sự chấp thuận của khách hàng[4], được khách hàng ủy quyền; do hoạt động nghề nghiệp….) cũng có được các thông tin của khách hàng trong HĐNH. Các chủ thể này có thể là các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên thực hiện kiểm toán độc lập; các cá nhân được chủ tài khoản ủy quyền được quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong phạm vi ủy quyền; tổng giám đốc tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; cơ quan nhà nước được quyền yêu cầu cung cấp thông tin để thực hiện nhiệm vụ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án[5], thừa phát lại[6]

Bốn là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin đối với khách hàng của các tổ chức HĐNH. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của chủ thể này được thể hiện thông qua việc sử dụng quyền công bố hoặc chia sẻ các thông tin bí mật của mình hoặc thỏa thuận những thông tin cần được giữ bí mật; ngoài ra, chủ thể này còn có thể sử dụng quyền khiếu nại, khởi kiện khi các chủ thể nắm giữ bí mật thông tin vi phạm quyền được bảo mật thông tin của mình; đồng thời, khách hàng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ, các thỏa thuận trong việc giữ bí mật thông tin của chính mình. Đây là nội dung cũng có tác động đến hiệu quả thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng, bởi lẽ bản thân khách hàng khi giao dịch với các tổ chức HĐNH cũng phải thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến tiền gửi, giao dịch của mình, đồng thời khách hàng phải thận trọng hơn trong việc sử dụng quyền của mình liên quan đến việc cung cấp thông tin bí mật cho chủ thể được ủy quyền thực hiện các giao dịch với các tổ chức HĐNH; khách hàng phải có ý thức chủ động giữ bí mật thông tin của mình.

Như vậy, có thể thấy, việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng không chỉ dừng lại ở quy định về việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của các chủ thể trực tiếp cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, mà đó còn phải là nghĩa vụ của chủ thể thứ ba có liên quan nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng trong quá trình hoạt động của mình. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa dự liệu được hết các chủ thể liên quan nào phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng.

2.2. Phạm vi thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Trong quá trình HĐNH, các tổ chức HĐNH nắm giữ rất nhiều thông tin về khách hàng, do khách hàng cung cấp hoặc tổ chức tự thu thập để đáp ứng cho hoạt động của mình. Về nguyên tắc, các tổ chức HĐNH phải có nghĩa vụ bảo mật đối với tất cả các thông tin này. Tuy nhiên, không phải tất cả các thông tin này đều có giá trị, có tính bí mật. Trong số đó, có những thông tin mà người thứ ba có thể dễ dàng thu thập được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc được khách hàng sử dụng công khai trong quan hệ kinh doanh của mình. Do đó, các tổ chức HĐNH, chủ thể thứ ba được cung cấp thông tin hợp pháp không buộc phải giữ bí mật tất cả các thông tin về khách hàng mà mình nắm giữ. Các chủ thể này chỉ có nghĩa vụ đối với những thông tin có giá trị, có tính bí mật đối với nhiều người, nếu tiết lộ sẽ có thể gây thiệt hại cho khách hàng. Vậy tổ chức HĐNH có nghĩa vụ bảo mật những thông tin nào của khách hàng, thời gian nghĩa vụ này phát sinh và chấm dứt, xác định được vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng.

- Đối với nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận những thông tin mà các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo mật đó là những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài[7]. Cụ thể đó là những thông tin liên quan đến tiền gửi của khách hàng bao gồm số hiệu tài khoản, mẫu chữ ký của chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản uỷ quyền, các thông tin về doanh số hoạt động và số dư tài khoản; các thông tin liên quan đến giao dịch gửi, rút tiền, chuyển tiền và tài sản của khách hàng; nội dung các văn bản, giấy tờ, tài liệu; tên và mẫu chữ ký của người gửi tiền và tài sản[8].

Tuy nhiên, HĐNH không chỉ là hoạt động nhận tiền gửi và tài sản gửi mà còn nhiều hoạt động khác như hoạt động cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán[9]: (i) Trong hoạt động hoạt động cấp tín dụng, các TCTD có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng[10]. Ngoài ra, các TCTD còn có thể yêu cầu khách hàng cung cấp toàn bộ các báo cáo hàng quý, năm về tình hình sản xuất kinh doanh và những thông tin khác liên quan đến vốn vay. Như vậy, TCTD thông qua quá trình xét duyệt dự án cho vay đã sở hữu gần như toàn bộ các thông tin liên quan đến tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng, kể cả những bí mật kinh doanh khác của khách hàng; (ii) Trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, các thông tin liên quan đến khách hàng trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán gồm thông tin về chủ tài khoản, giao dịch và số dư trên tài khoản thanh toán của khách hàng[11], ngoài ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán, các thông tin này có thể có một chủ thể khác cũng sở hữu những thông tin này thông qua trung gian là ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều này có nghĩa là, những thông tin liên quan đến khách hàng có thể được biết đến bởi một TCTD khác không trực tiếp giao dịch với khách hàng.

Như vậy, thông tin liên quan đến khách hàng cần được bảo mật rất rộng nhưng pháp luật Việt Nam hiện hành chưa liệt kê đầy đủ phạm vi thông tin khách hàng cần được bảo mật.

- Thời gian thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Về nguyên tắc, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng chỉ phát sinh khi hợp đồng hình thành và chấm dứt khi hợp đồng chấm dứt. Tuy nhiên, bí mật thông tin của khách hàng có thể phát sinh khi chưa có hợp đồng hoặc khi hợp đồng đã chấm dứt. Một cá nhân hay một tổ chức tuy chưa từng có giao dịch với tổ chức HĐNH nhưng có thể đến các tổ chức này để xin vay vốn. Khi đó, trong hồ sơ vay vốn của cá nhân hay tổ chức có những thông tin cần phải giữ bí mật với bên thứ ba như tình hình tài chính của cá nhân, doanh nghiệp và dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh[12]. Nếu tổ chức HĐNH và cá nhân hay tổ chức này chưa hoặc không ký kết hợp đồng tín dụng nhưng thông tin này bị tổ chức HĐNH tiết lộ cho đối thủ cạnh tranh thì việc tiết lộ thông tin này có thể gây thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức. Hoặc một loại khách hàng nữa của các tổ chức HĐNH cũng có những thông tin cần được bảo vệ, đó là khách hàng quá khứ của tổ chức HĐNH - những khách hàng đã chấm dứt giao dịch nhưng vẫn có những thông tin này vẫn còn giá trị nếu bị đối thủ cạnh tranh của khách hàng khai thác hay những thông tin này vẫn cần được giữ bí mật vì vấn đề riêng tư.

Khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác. Đồng thời, khoản 5 Điều 517 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Tuy nhiên, thông tin bí mật nào tổ chức HĐNH phải có nghĩa vụ giữ, thời hạn phải giữ là bao lâu thì không được quy định, nếu không có thỏa thuận thời hạn giữ bí mật thông tin khách hàng thì sẽ giải quyết như thế nào thì lại chưa được pháp luật đề cập.

3. Biện pháp nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Để nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cần xem xét và thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, rà soát các quy định hiện hành về pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng qua đó sửa đổi những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp; ban hành đồng bộ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, nội dung thông tin cần bảo mật, thời hạn bảo mật thông tin của khách hàng; giới hạn, những trường hợp ngoại lệ cung cấp bí mật thông tin khách hàng. Đồng thời, quy định khung pháp lý xử phạt đủ mạnh, trong đó lượng hóa hình phạt dựa trên phạm vi, mức độ tiết lộ bí mật thông tin của khách hàng, cần phải xác định rõ hơn vi phạm nào thì phải xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp nào phải truy cứu trách nhiệm hình sự, từ đó phân định rõ vụ việc thuộc trách nhiệm cụ thể của cơ quan nào, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi khiếu kiện, tránh trường hợp đùn đẩy giữa các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dễ dàng hơn.

Hai là, phải có cơ chế kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Để hoạt động thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH đạt được hiệu quả, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên được bảo đảm, từ đó góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thì một trong những yếu tố không thể thiếu là tổ chức bộ máy quản lý nhà nước có liên quan hoạt động này. Hiện nay, trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta, tham gia quản lý hoạt động kinh doanh tiền tệ có NHNN. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng của NHNN ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi nghĩa này còn thể hiện ở chức năng thanh tra, giám sát. Trong quá trình thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ phát hiện ra các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của tổ chức HĐNH và đưa ra các kiến nghị khắc phục hoặc xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm hoạt động của các đối tượng thanh tra, giám sát thực hiện đúng quy định của pháp luật, chấp hành đúng chính sách, pháp luật về lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.

Như vậy, để thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, NHNN - thông qua các cơ quan chuyên môn trực thuộc phải xác định rõ những nội dung quản lý cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, thời gian phải thực hiện và đặc biệt là trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan này vi phạm nghĩa vụ phối hợp trong hoạt động quản lý. Đồng thời, cần tăng cường giám sát chặt chẽ việc thực thi các văn bản pháp luật của tổ chức HĐNH thông qua các đợt thanh tra định kỳ dưới sự phối hợp của các cơ quan hữu quan, xác định rõ những nội dung thanh tra, giám sát cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, thời gian phải thực hiện và đặc biệt là trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan này vi phạm nghĩa vụ phối hợp trong hoạt động thanh tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm trong lĩnh vực cung cấp thông tin và xử lý vi phạm, khiếu nại trong hoạt động bảo mật thông tin của khách hàng một cách kịp thời, minh bạch.

Ba là, chủ động tạo điều kiện và có cơ chế để tổ chức HĐNH, nhân viên tổ chức HĐNH thực hiện tốt nhất nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng. Pháp luật ngân hàng vẫn chỉ mang tính chất “khung”, do đó để nâng cao hiệu quả của việc thi hành, tuân thủ các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng, tổ chức HĐNH cần chú trọng việc ban hành quy định nội bộ nhằm hướng dẫn cách thức thi hành trách nhiệm bảo mật hoặc cung cấp thông tin bí mật của khách hàng trong những trường hợp luật định. Đây cũng là yếu tố rất quan trọng bảo đảm thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH được hiệu quả và cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật để xét xử kịp thời, đúng pháp luật trong trường hợp tổ chức HĐNH, nhân viên tổ chức HĐNH vi phạm pháp luật bảo mật thông tin khách hàng, bảo đảm cho pháp luật đi vào cuộc sống.

Nguyễn Thị Kim Thoa

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:


[1] Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2] Điều 50 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

[3] Khoản 3 Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

[4] Khoản 3 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5] Xem thêm Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.

[6] Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng, theo đó, Thông tư quy định rõ, người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin thông qua biên bản xác minh hoặc bằng văn bản cung cấp thông tin theo quy định tại Thông tư này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin.

[7] Khoản 2 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[8] Khoản 3, 4 Điều 2 Nghị định số số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ.

[9] Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[10] Khoản 1 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[11] Điều 23 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

[12] Xem Điều 7 và Điều 9 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: