Thứ bảy 24/10/2026 04:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích nội hàm của việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng, phân tích hoạt động thực thi nghĩa vụ giữ bí mật thông tin khách hàng của các chủ thể có liên quan, từ đó đưa ra một vài khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu lực thực thi nghĩa vụ này.

1. Đôi nét về thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Dựa vào tính chất của hoạt động thực thi, có thể hiểu thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH chính là hoạt động nghề nghiệp của các tổ chức HĐNH trong việc thực hiện toàn bộ các quy định pháp luật về bảo mật thông tin nhằm bảo đảm các thông tin của khách hàng chỉ được tiếp cận bởi những người có thẩm quyền tương ứng. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó chủ thể nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng phải thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực nhằm bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng.

Xem xét dưới góc độ bản chất của hoạt động thực thi, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH được hiểu là tổng thể các hành vi hợp pháp, có mục đích của các chủ thể liên quan đến hoạt động bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH, thông qua việc cụ thể hóa các quy định về bảo mật vào thực tiễn nhằm bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng, đồng thời các chủ thể này còn có nghĩa vụ ngăn chặn và chống lại bên thứ ba tiết lộ thông tin bí mật của khách hàng. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng không chỉ là nghĩa vụ phát sinh đối với chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng trong việc ban hành các quy định nội bộ, thực hiện các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng; mà còn của cả cơ quan quản lý nhà nước về HĐNH trong quá trình chi tiết hóa văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành và thực hiện quyền thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo mật, áp dụng các biện pháp can thiệp trực tiếp nhằm tăng cường hiệu lực của việc thực thi pháp luật của các chủ thể liên quan theo luật định. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH nên hiểu theo hướng thứ hai. Theo cách hiểu này, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, về chủ thể thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng không chỉ là nghĩa vụ của các tổ chức HĐNH - chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng, mà còn có Ngân hàng Nhà nước với tư cách là chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, HĐNH và chủ thể có liên quan trong quá trình thực hiện nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng. Các chủ thể này có nghĩa vụ bảo đảm bí mật thông tin của khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng, đồng thời ngăn chặn và chống lại người thứ ba tiết lộ thông tin bí mật của khách hàng.

Thứ hai, hình thức thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH là quá trình triển khai các quy định pháp luật về bảo mật thông tin của khách hàng vào thực tiễn đời sống thông qua các hành vi pháp lý: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật.

Thứ ba, nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Chủ thể thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, HĐNH; chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng và các chủ thể có liên quan phải tiến hành một số hoạt động nhất định nhằm ngăn chặn hành vi tiết lộ bí mật thông tin khách hàng hoặc kiềm chế thực hiện một số hoạt động nhất định nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến khách hàng trong quá trình nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản[1].

Thứ tư, hậu quả pháp lý của việc không thực thi hoặc thực thi không đúng pháp luật bảo mật thông tin khách hàng: Các chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng theo cam kết hoặc theo luật định sẽ phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của mình.

Tóm lại, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH không chỉ là nghĩa vụ của tổ chức HĐNH phải thực hiện trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, mà còn là nghĩa vụ của chủ thể HĐNHthể hiện trong hoạt động chi tiết hóa quy định pháp luật, thực hiện hoạt động thanh tra, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ ấy và các chủ thể có liên quan theo luật định trong việc bảo đảm bí mật thông tin khách hàng chỉ được tiếp cận với những người có thẩm quyền tương ứng.

2. Nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng trong hoạt động ngân hàng

2.1. Chủ thể và hình thức thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng

Một là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Bảo mật thông tin khách hàng sẽ giúp cho các tổ chức HĐNH tối thiểu hóa được các thiệt hại khi có rủi ro xảy ra, đồng thời ảo vệ sự phát triển liên tục, bền vững của các tổ chức HĐNH. Nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động này trong sự phát triển của các tổ chức HĐNH và của nền kinh tế, cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và HĐNH đã hướng dẫn chi tiết những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lĩnh vực này; đồng thời thực hiện quyền thanh tra, giám sát các tổ chức HĐNH nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng[2].

Bên cạnh đó, cán bộ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) - với tư cách là chủ thể có liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nghiệp vụ của mình phải giữ bí mật thông tin hoạt động nghiệp vụ của NHNN, của các tổ chức HĐNH và bí mật tiền gửi của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật[3]. Việc thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng của chủ thể này được thực hiện thông qua sự tuân thủ các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến bảo mật thông tin của khách hàng đã được quy định trong pháp luật ngân hàng, đồng thời phải chịu trách nhiệm về các hành vi pháp lý do mình thực hiện.

Hai là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đối với chủ thể trực tiếp nắm giữ bí mật thông tin khách hàng. Khi khách hàng thực hiện các giao dịch với các tổ chức HĐNH thì nhân viên, người quản lý, người điều hành tổ chức HĐNH, chi nhánh ngân hàng nước ngoài - những chủ thể có mối quan hệ trực tiếp với khách hàng sẽ sở hữu nhiều thông tin quan trọng về khách hàng. Do đó, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của chủ thể này cũng được thể hiện ở việc thi hành, tuân thủ các quy định pháp luật ngân hàng về nghĩa vụ bảo mật. Điều này có nghĩa là, trong khi thi hành các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng, các chủ thể này phải kiềm chế, không hành động, thỏa thuận trái pháp luật; không thực hiện hoặc cam kết những điều mà pháp luật nghiêm cấm; việc thực hiện luôn phải tự giác, kiềm chế thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật về bảo mật.

Ngoài ra, các tổ chức HĐNH cũng có thể thông qua hoạt động áp dụng pháp luật để cụ thể hóa hoặc quy định thêm các văn bản nội bộ như cẩm nang tín dụng hoặc sổ tay tín dụng; quy định nghĩa vụ bảo mật này trong các hợp đồng hoặc cam kết với khách hàng trong các hợp đồng mẫu phù hợp với quy định của pháp luật để thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng.

Ba là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng đối với chủ thể thứ ba có liên quan. Trong quá trình HĐNH, không chỉ có các tổ chức HĐNH nắm giữ thông tin bí mật của khách hàng mà còn có nhiều chủ thể vì những lý do khác nhau (như: Được pháp luật cho phép quyền yêu cầu cung cấp thông tin hoặc được sự chấp thuận của khách hàng[4], được khách hàng ủy quyền; do hoạt động nghề nghiệp….) cũng có được các thông tin của khách hàng trong HĐNH. Các chủ thể này có thể là các tổ chức kiểm toán và kiểm toán viên thực hiện kiểm toán độc lập; các cá nhân được chủ tài khoản ủy quyền được quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong phạm vi ủy quyền; tổng giám đốc tổ chức bảo hiểm tiền gửi khi tổ chức này thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; cơ quan nhà nước được quyền yêu cầu cung cấp thông tin để thực hiện nhiệm vụ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án[5], thừa phát lại[6]…

Bốn là, thực thi pháp luật bảo mật thông tin đối với khách hàng của các tổ chức HĐNH. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của chủ thể này được thể hiện thông qua việc sử dụng quyền công bố hoặc chia sẻ các thông tin bí mật của mình hoặc thỏa thuận những thông tin cần được giữ bí mật; ngoài ra, chủ thể này còn có thể sử dụng quyền khiếu nại, khởi kiện khi các chủ thể nắm giữ bí mật thông tin vi phạm quyền được bảo mật thông tin của mình; đồng thời, khách hàng cũng phải thực hiện các nghĩa vụ, các thỏa thuận trong việc giữ bí mật thông tin của chính mình. Đây là nội dung cũng có tác động đến hiệu quả thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng, bởi lẽ bản thân khách hàng khi giao dịch với các tổ chức HĐNH cũng phải thực thi nghĩa vụ bảo mật thông tin liên quan đến tiền gửi, giao dịch của mình, đồng thời khách hàng phải thận trọng hơn trong việc sử dụng quyền của mình liên quan đến việc cung cấp thông tin bí mật cho chủ thể được ủy quyền thực hiện các giao dịch với các tổ chức HĐNH; khách hàng phải có ý thức chủ động giữ bí mật thông tin của mình.

Như vậy, có thể thấy, việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng không chỉ dừng lại ở quy định về việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng của các chủ thể trực tiếp cung cấp dịch vụ ngân hàng cho khách hàng, mà đó còn phải là nghĩa vụ của chủ thể thứ ba có liên quan nắm giữ bí mật thông tin của khách hàng trong quá trình hoạt động của mình. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam hiện hành chưa dự liệu được hết các chủ thể liên quan nào phải có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng.

2.2. Phạm vi thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Trong quá trình HĐNH, các tổ chức HĐNH nắm giữ rất nhiều thông tin về khách hàng, do khách hàng cung cấp hoặc tổ chức tự thu thập để đáp ứng cho hoạt động của mình. Về nguyên tắc, các tổ chức HĐNH phải có nghĩa vụ bảo mật đối với tất cả các thông tin này. Tuy nhiên, không phải tất cả các thông tin này đều có giá trị, có tính bí mật. Trong số đó, có những thông tin mà người thứ ba có thể dễ dàng thu thập được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc được khách hàng sử dụng công khai trong quan hệ kinh doanh của mình. Do đó, các tổ chức HĐNH, chủ thể thứ ba được cung cấp thông tin hợp pháp không buộc phải giữ bí mật tất cả các thông tin về khách hàng mà mình nắm giữ. Các chủ thể này chỉ có nghĩa vụ đối với những thông tin có giá trị, có tính bí mật đối với nhiều người, nếu tiết lộ sẽ có thể gây thiệt hại cho khách hàng. Vậy tổ chức HĐNH có nghĩa vụ bảo mật những thông tin nào của khách hàng, thời gian nghĩa vụ này phát sinh và chấm dứt, xác định được vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng.

- Đối với nội dung thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận những thông tin mà các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải bảo mật đó là những thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài[7]. Cụ thể đó là những thông tin liên quan đến tiền gửi của khách hàng bao gồm số hiệu tài khoản, mẫu chữ ký của chủ tài khoản hoặc người được chủ tài khoản uỷ quyền, các thông tin về doanh số hoạt động và số dư tài khoản; các thông tin liên quan đến giao dịch gửi, rút tiền, chuyển tiền và tài sản của khách hàng; nội dung các văn bản, giấy tờ, tài liệu; tên và mẫu chữ ký của người gửi tiền và tài sản[8].

Tuy nhiên, HĐNH không chỉ là hoạt động nhận tiền gửi và tài sản gửi mà còn nhiều hoạt động khác như hoạt động cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán[9]: (i) Trong hoạt động hoạt động cấp tín dụng, các TCTD có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh phương án sử dụng vốn khả thi, khả năng tài chính của mình, mục đích sử dụng vốn hợp pháp, biện pháp bảo đảm tiền vay trước khi quyết định cấp tín dụng[10]. Ngoài ra, các TCTD còn có thể yêu cầu khách hàng cung cấp toàn bộ các báo cáo hàng quý, năm về tình hình sản xuất kinh doanh và những thông tin khác liên quan đến vốn vay. Như vậy, TCTD thông qua quá trình xét duyệt dự án cho vay đã sở hữu gần như toàn bộ các thông tin liên quan đến tài chính và hoạt động kinh doanh của khách hàng, kể cả những bí mật kinh doanh khác của khách hàng; (ii) Trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán, các thông tin liên quan đến khách hàng trong hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán gồm thông tin về chủ tài khoản, giao dịch và số dư trên tài khoản thanh toán của khách hàng[11], ngoài ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán, các thông tin này có thể có một chủ thể khác cũng sở hữu những thông tin này thông qua trung gian là ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán. Điều này có nghĩa là, những thông tin liên quan đến khách hàng có thể được biết đến bởi một TCTD khác không trực tiếp giao dịch với khách hàng.

Như vậy, thông tin liên quan đến khách hàng cần được bảo mật rất rộng nhưng pháp luật Việt Nam hiện hành chưa liệt kê đầy đủ phạm vi thông tin khách hàng cần được bảo mật.

- Thời gian thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng

Về nguyên tắc, nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng chỉ phát sinh khi hợp đồng hình thành và chấm dứt khi hợp đồng chấm dứt. Tuy nhiên, bí mật thông tin của khách hàng có thể phát sinh khi chưa có hợp đồng hoặc khi hợp đồng đã chấm dứt. Một cá nhân hay một tổ chức tuy chưa từng có giao dịch với tổ chức HĐNH nhưng có thể đến các tổ chức này để xin vay vốn. Khi đó, trong hồ sơ vay vốn của cá nhân hay tổ chức có những thông tin cần phải giữ bí mật với bên thứ ba như tình hình tài chính của cá nhân, doanh nghiệp và dự án đầu tư, phương thức sản xuất, kinh doanh[12]. Nếu tổ chức HĐNH và cá nhân hay tổ chức này chưa hoặc không ký kết hợp đồng tín dụng nhưng thông tin này bị tổ chức HĐNH tiết lộ cho đối thủ cạnh tranh thì việc tiết lộ thông tin này có thể gây thiệt hại lớn cho cá nhân, tổ chức. Hoặc một loại khách hàng nữa của các tổ chức HĐNH cũng có những thông tin cần được bảo vệ, đó là khách hàng quá khứ của tổ chức HĐNH - những khách hàng đã chấm dứt giao dịch nhưng vẫn có những thông tin này vẫn còn giá trị nếu bị đối thủ cạnh tranh của khách hàng khai thác hay những thông tin này vẫn cần được giữ bí mật vì vấn đề riêng tư.

Khoản 2 Điều 387 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác. Đồng thời, khoản 5 Điều 517 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định giữ bí mật thông tin mà mình biết được trong thời gian thực hiện công việc, nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Tuy nhiên, thông tin bí mật nào tổ chức HĐNH phải có nghĩa vụ giữ, thời hạn phải giữ là bao lâu thì không được quy định, nếu không có thỏa thuận thời hạn giữ bí mật thông tin khách hàng thì sẽ giải quyết như thế nào thì lại chưa được pháp luật đề cập.

3. Biện pháp nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Để nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH cần xem xét và thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, rà soát các quy định hiện hành về pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng qua đó sửa đổi những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp; ban hành đồng bộ các quy phạm pháp luật để điều chỉnh chủ thể có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, nội dung thông tin cần bảo mật, thời hạn bảo mật thông tin của khách hàng; giới hạn, những trường hợp ngoại lệ cung cấp bí mật thông tin khách hàng. Đồng thời, quy định khung pháp lý xử phạt đủ mạnh, trong đó lượng hóa hình phạt dựa trên phạm vi, mức độ tiết lộ bí mật thông tin của khách hàng, cần phải xác định rõ hơn vi phạm nào thì phải xử phạt vi phạm hành chính, trường hợp nào phải truy cứu trách nhiệm hình sự, từ đó phân định rõ vụ việc thuộc trách nhiệm cụ thể của cơ quan nào, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi khiếu kiện, tránh trường hợp đùn đẩy giữa các cơ quan có thẩm quyền, đồng thời giúp các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc dễ dàng hơn.

Hai là, phải có cơ chế kiểm soát và điều chỉnh quá trình thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH. Để hoạt động thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH đạt được hiệu quả, quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên được bảo đảm, từ đó góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội thì một trong những yếu tố không thể thiếu là tổ chức bộ máy quản lý nhà nước có liên quan hoạt động này. Hiện nay, trong tổ chức bộ máy của Nhà nước ta, tham gia quản lý hoạt động kinh doanh tiền tệ có NHNN. Thực thi pháp luật bảo mật thông tin của khách hàng của NHNN ngoài việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn chi tiết việc thực thi nghĩa này còn thể hiện ở chức năng thanh tra, giám sát. Trong quá trình thanh tra, giám sát ngân hàng sẽ phát hiện ra các tồn tại, sai phạm trong hoạt động của tổ chức HĐNH và đưa ra các kiến nghị khắc phục hoặc xử lý các hành vi vi phạm, bảo đảm hoạt động của các đối tượng thanh tra, giám sát thực hiện đúng quy định của pháp luật, chấp hành đúng chính sách, pháp luật về lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.

Như vậy, để thực thi tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, NHNN - thông qua các cơ quan chuyên môn trực thuộc phải xác định rõ những nội dung quản lý cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, thời gian phải thực hiện và đặc biệt là trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan này vi phạm nghĩa vụ phối hợp trong hoạt động quản lý. Đồng thời, cần tăng cường giám sát chặt chẽ việc thực thi các văn bản pháp luật của tổ chức HĐNH thông qua các đợt thanh tra định kỳ dưới sự phối hợp của các cơ quan hữu quan, xác định rõ những nội dung thanh tra, giám sát cần có sự phối hợp giữa các cơ quan, thời gian phải thực hiện và đặc biệt là trách nhiệm pháp lý khi các cơ quan này vi phạm nghĩa vụ phối hợp trong hoạt động thanh tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm trong lĩnh vực cung cấp thông tin và xử lý vi phạm, khiếu nại trong hoạt động bảo mật thông tin của khách hàng một cách kịp thời, minh bạch.

Ba là, chủ động tạo điều kiện và có cơ chế để tổ chức HĐNH, nhân viên tổ chức HĐNH thực hiện tốt nhất nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng. Pháp luật ngân hàng vẫn chỉ mang tính chất “khung”, do đó để nâng cao hiệu quả của việc thi hành, tuân thủ các quy định pháp luật về bảo mật thông tin khách hàng, tổ chức HĐNH cần chú trọng việc ban hành quy định nội bộ nhằm hướng dẫn cách thức thi hành trách nhiệm bảo mật hoặc cung cấp thông tin bí mật của khách hàng trong những trường hợp luật định. Đây cũng là yếu tố rất quan trọng bảo đảm thực thi pháp luật bảo mật thông tin khách hàng trong HĐNH được hiệu quả và cũng là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng pháp luật để xét xử kịp thời, đúng pháp luật trong trường hợp tổ chức HĐNH, nhân viên tổ chức HĐNH vi phạm pháp luật bảo mật thông tin khách hàng, bảo đảm cho pháp luật đi vào cuộc sống.

Nguyễn Thị Kim Thoa

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh



Tài liệu tham khảo:


[1] Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[2] Điều 50 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

[3] Khoản 3 Điều 38 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.

[4] Khoản 3 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[5] Xem thêm Điều 5 Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng.

[6] Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/1/2014 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng, theo đó, Thông tư quy định rõ, người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin thông qua biên bản xác minh hoặc bằng văn bản cung cấp thông tin theo quy định tại Thông tư này trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin.

[7] Khoản 2 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[8] Khoản 3, 4 Điều 2 Nghị định số số 70/2000/NĐ-CP ngày 21/11/2000 của Chính phủ.

[9] Khoản 12 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[10] Khoản 1 Điều 94 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

[11] Điều 23 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

[12] Xem Điều 7 và Điều 9 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: