Thứ hai 21/09/2026 18:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá, làm rõ các vấn đề còn bất cập, hạn chế trong hoạt động thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện đối với vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích, đánh giá, làm rõ các vấn đề còn bất cập, hạn chế trong hoạt động thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, trên cơ sở đó đề ra một số giải pháp hoàn thiện đối với vấn đề này.

Abstract: The article focuses on the analysis, assessment, clarification of the issues remaining, limitations in law enforcement activities on the evaluation of environmental impact assessment report, on that basis, sets out several complete solutions for this matter.

Thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được hiểu là việc các chủ thể áp dụng các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM để thẩm tra lại tính chính xác về mặt khoa học cũng như cơ sở pháp lý của báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư. Thông qua hoạt động thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường với tư cách là cơ quan phản biện báo cáo ĐTM sẽ thay mặt Nhà nước xem xét và cân đối một cách toàn diện mối liên hệ giữa lợi ích kinh tế mà các dự án đem lại với lợi ích môi trường cần phải được bảo vệ; giữa lợi ích của một số ngành, lĩnh vực với lợi ích tổng thể của toàn xã hội, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài căn bản của đất nước thông qua việc đánh giá các điều kiện thực thi khả năng bảo vệ môi trường của các chủ đầu tư dự án. Trên cơ sở đó, đưa ra nhận xét về sự phù hợp với các yêu cầu pháp lý cũng như đánh giá tính chính xác, khách quan, khoa học của các giải pháp được đề xuất trong báo cáo ĐTM để từ đó quyết định báo cáo ĐTM có đáp ứng được yêu cầu hay không. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề thực thi pháp luật trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM vẫn chưa được thực hiện một cách hiệu quả. Chính vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM là một vấn đề quan trọng và cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

1. Một số bất cập trong thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường

Trong thời gian vừa qua, đã có nhiều vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng xảy ra và để lại hậu quả vô cùng khủng khiếp[1]. Nguyên nhân của thực trạng trên không chỉ xuất phát từ một số hạn chế trong các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM mà còn xuất phát từ những bất cập nhất định trong việc thực thi pháp luật liên quan đến hoạt động này. Cụ thể:

Thứ nhất, hiện nay, đa phần các báo cáo ĐTM được thẩm định “chay” trên bàn giấy dẫn đến kết quả thẩm định chưa thực sự chính xác, phù hợp. Đây là một trong những lý do quan trọng dẫn đến tình trạng các báo cáo ĐTM sau khi được Hội đồng thẩm định thông qua nhưng vẫn không đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường đặt ra. Bởi lẽ, khi Hội đồng thẩm định không tổ chức đi khảo nghiệm thực tế hiện trường thì sẽ không thể nắm rõ được các vấn đề và nội dung liên quan đến việc chủ đầu tư có đáp ứng các điều kiện về công tác bảo vệ môi trường hay không, để từ đó có các căn cứ thực tiễn chính xác phục vụ cho hoạt động thẩm định. Do đó, hệ quả dẫn đến là, kết quả thẩm định báo cáo ĐTM đôi khi chỉ mang tính chất lý thuyết và không gắn liền với việc đáp ứng các yêu cầu thực tiễn tại nơi triển khai dự án.

Thứ hai, nguồn nhân lực phục vụ cho công tác thẩm định báo cáo ĐTM còn thiếu, gây khó khăn cho hoạt động thẩm định. Đội ngũ thành viên trong Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng thẩm định, một Hội đồng thẩm định có đầy đủ đội ngũ các thành viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi sẽ có thể cho ra một kết quả thẩm định đạt yêu cầu và ngược lại. Tuy nhiên, hiện nay, tại Việt Nam, đội ngũ nhân lực thực sự đáp ứng được các yêu cầu theo quy định, vững về trình độ, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM của các dự án đầu tư trong một số trường hợp vẫn chưa đáp ứng đủ, nhất là đối với các Hội đồng thẩm định tại địa phương. Các địa phương thường gặp nhiều khó khăn trong việc thành lập Hội đồng thẩm định do thiếu các chuyên gia có chuyên môn, kinh nghiệm và năng lực, nhất là đối với các dự án có tác động phức tạp và cần chuyên gia từ nhiều ngành khác nhau. Điều này là một trong những hạn chế gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng kết quả thẩm định báo cáo ĐTM.

Thứ ba, tinh thần trách nhiệm, thái độ làm việc của một bộ phận đội ngũ thực hiện thẩm định báo cáo ĐTM vẫn chưa cao. Đây là một trong những thực trạng đáng báo động hiện nay, điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả thẩm định, đồng thời hệ quả để lại về mặt môi trường là rất lớn. Thực tế, nhiều báo cáo ĐTM chỉ được thực hiện trong thời gian ngắn 02 đến 03 tháng, với một số người làm, sơ sài, cắt ghép, sao chép, mắc lỗi rất nhiều nhưng khi đưa lên Hội đồng thẩm định vẫn được thông qua và kết quả là, khi những dự án này đi vào hoạt động đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt môi trường, gây bức xúc dư luận xã hội. Báo cáo ĐTM của Công ty Formosa là một trong những minh chứng thể hiện rõ nhất điều này. Theo đánh giá của PGS.TS. Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ, báo cáo ĐTM của dự án Formosa có chất lượng quá thấp, mang tính đối phó, như một thủ tục để được phê duyệt chứ không phải một báo cáo có tính khoa học thực sự, nếu dựa trên ĐTM này để giám sát môi trường thì lộ rất nhiều lỗ hổng[2].

Thứ tư, việc tổ chức lấy ý kiến và cho ý kiến phản biện xã hội đối với các nội dung trong các báo cáo ĐTM còn mang nặng tính hình thức, gây ảnh hưởng đến kết quả thẩm định. Một thực tế hiện nay xảy ra đó là, khi Hội đồng thẩm định tổ chức lấy ý kiến phản biện thì một bộ phận các chủ thể được lấy ý kiến không quan tâm, đa phần là thực hiện cho có, cho xong việc hoặc thậm chí không cho ý kiến phản biện. Đây là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho công tác thẩm định của Hội động thẩm định vì thiếu cơ sở dữ liệu ý kiến của người dân trong khi đây là một trong những cơ hội để người dân và các tổ chức đoàn thể chủ động thể hiện quan điểm của mình về vấn đề “được” và “mất” đối với một dự án đầu tư. Tình trạng trên cũng là một trong những lý do làm cho công tác thẩm định báo cáo ĐTM chưa đạt được hiệu quả.

Thứ năm, tư duy “lối mòn” theo kiểu coi trọng thu hút đầu tư, xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường đã chi phối, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Sức ép về kinh tế là một trong những lý do gây áp lực và chi phối rất nhiều đến công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Điều này dẫn đến hệ quả, nhiều báo cáo ĐTM tuy không đáp ứng được yêu cầu về điều kiện thực thi khả năng bảo vệ môi trường nhưng vẫn phải thông qua, nếu không thông qua sẽ có khả năng ảnh hưởng đến chủ trương phát triển kinh tế, tăng cường thu hút đầu tư. Còn trong trường hợp nếu muốn “quyết tâm” không thông qua vì không đạt yêu cầu cũng không phải là điều dễ dàng vì những người thẩm định không có đủ cơ sở khoa học để bác lại các dự án. Đây là một trong những lý do quan trọng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM.

2. Một số giải pháp hoàn thiện

Để hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM đạt chất lượng cao, bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp luật thì đòi hỏi cần có những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong việc thẩm định báo cáo ĐTM.

2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật

Pháp luật môi trường cần tiếp tục quy định bảo đảm tính độc lập trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM theo hướng đưa thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM về một đầu mối thay vì phân chia về cho nhiều cơ quan khác nhau như hiện nay[3]. Đồng thời, các vấn đề về trách nhiệm và hậu quả pháp lý đối với Hội đồng thẩm định và các thành viên tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM cũng cần phải được quy định rõ ràng để tạo cơ chế ràng buộc nhằm bảo đảm các chủ thể này hoạt động hiệu quả, trách nhiệm, từ đó góp phần hạn chế tối đa những sai sót chủ quan có thể xảy ra trong quá trình thẩm định báo cáo ĐTM.

Bên cạnh đó, pháp luật môi trường cần phải tiếp tục quy định tinh gọn các nội dung cần phải thẩm định trong một báo cáo ĐTM theo hướng trọng tâm nhưng vẫn đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường để bảo đảm công tác thẩm định đạt được hiệu quả tối ưu. Ngoài ra, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thẩm định báo cáo ĐTM được hiệu quả thì cũng cần thiết phải quy định điều chỉnh tăng thời gian thẩm định so với hiện nay bởi điều này sẽ tạo cơ sở thuận lợi về mặt thời gian để các chủ thể thẩm định có điều kiện thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ liên quan nhằm đưa ra được những kết quả thẩm định chính xác, phù hợp, đáp ứng được các yêu cầu đặt ra và kịp thời giúp loại bỏ được các dự án không bảo đảm khả năng bảo vệ môi trường.

2.2. Công tác thực thi pháp luật

Một là, cần khắc phục tình trạng thẩm định “chay” báo cáo ĐTM trên bàn giấy. Yêu cầu được đặt ra cho các thành viên Hội đồng thẩm định là khi tiến hành tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM của một dự án đầu tư cụ thể thì Hội đồng đó bắt buộc phải tổ chức kiểm tra thực nghiệm tại nơi triển khai dự án để theo dõi, xem xét, đánh giá và từ đó đưa ra kết luận có thông qua hay không. Trong quá trình thực hiện thẩm định, nếu Hội đồng thẩm định không tổ chức kiểm tra thực nghiệm hiện trường nơi triển khai dự án thì xem như Hội đồng thẩm định đó làm việc không đạt yêu cầu và kết quả thẩm định không được chấp nhận, Hội đồng thẩm định buộc phải thực hiện thẩm định lại cho đúng theo yêu cầu. Như vậy, Hội đồng thẩm định phải tuân thủ và thực hiện đúng theo các yêu cầu trước khi đưa ra kết quả thẩm định, từ đó giúp khắc phục được tình trạng thẩm định “chay” trên thực tế, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường trước những tác động tiêu cực của các dự án đầu tư.

Hai là, bảo đảm tính đột xuất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra để phát huy hiệu quả trong công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Theo đó, để bảo đảm yếu tố bất ngờ cho các hoạt động xem xét, kiểm tra, đánh giá của Hội đồng thẩm định, thay vì phải báo trước thì Hội đồng thẩm định có thể thực hiện kiểm tra thực tế bất cứ khi nào cần thiết và không bị cản trở bởi những thủ tục, chủ thể không cần thiết trên cơ sở đúng quy định pháp luật. Khi bảo đảm thực hiện tốt được những điều trên sẽ giúp công tác thẩm định báo cáo ĐTM của Hội đồng thẩm định đạt được tính khách quan, hiệu quả, chất lượng và đáp ứng được các yêu cầu đặt ra.

Ba là, đẩy mạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ hiệu quả công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Theo đó, để khắc phục vấn đề thiếu hụt nguồn nhân lực như hiện nay đòi hỏi phải tích cực tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nghiệp vụ về thẩm định báo cáo ĐTM cho các đối tượng có liên quan đến công tác thẩm định, đặc biệt là đội ngũ nhân sự cấp tỉnh. Bên cạnh đó, cần tăng cường xây dựng các chương trình đào tạo chuyên ngành về hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM trong môi trường đại học với những ưu đãi hấp dẫn để thu hút người học. Khi được đào tạo kiến thức nền tảng về hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM sẽ giúp các chủ thể trau dồi kiến thức, tích lũy kinh nghiệm để có thể bổ sung nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM. Ngoài ra, để khắc phục tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực có chất lượng, chuyên môn cao trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM thì cũng cần phải mời thêm các chuyên gia khác (công tác ở đơn vị, cơ quan khác) có chuyên môn, nghiệp vụ chuyên sâu cùng tham gia vào Hội đồng thẩm định. Sự tham gia của đội ngũ cán bộ, chuyên gia này không chỉ bổ sung nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công tác thẩm định mà còn giúp cho hoạt động thẩm định đạt hiệu quả, chất lượng.

Bốn là, tăng cường nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức làm việc của đội ngũ thực hiện công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Trước hết, bản thân mỗi thành viên được lựa chọn tham gia Hội đồng thẩm định phải tự ý thức, nêu cao tinh thần trách nhiệm của mình trong quá trình thực hiện công việc được giao. Mỗi cá nhân phải ý thức được rằng, việc thẩm định báo cáo ĐTM không phải là thủ tục để hợp thức hóa cho việc cấp phép đầu tư theo yêu cầu của một cá nhân hay tổ chức nào đó, việc thẩm định này phải được thực hiện đúng vai trò “gác cửa” cho cơ quan cấp phép đầu tư để “thẳng tay” loại bỏ những dự án có nguy cơ gây tổn hại tài nguyên hay gây ô nhiễm môi trường[4]. Bên cạnh sự tự ý thức của mỗi cá nhân thành viên tham gia vào Hội đồng thẩm định thì Nhà nước cần phải xây dựng và áp dụng các cơ chế khen thưởng, kỷ luật công bằng, nghiêm minh với các chủ thể này. Đối với những Hội đồng thẩm định làm việc nhanh chóng, hiệu quả, chất lượng thì sẽ được xem xét khen thưởng dưới nhiều hình thức khác nhau, còn đối với những Hội đồng làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, dẫn đến khi các dự án đi vào hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người dân, gây bất ổn xã hội thì phải kiên quyết xử lý. Đồng thời, những đối tượng yếu kém về năng lực, trình độ, suy thoái về đạo đức, gây nhũng nhiễu, tiêu cực trong quá trình thực hiện thẩm định cần phải được thay thế. Chế tài cho các vi phạm phải được áp dụng nghiêm minh, kiên quyết xử lý những hành vi vô cảm, thiếu trách nhiệm bất kể đó là ai, mức xử phạt phải tương xứng với hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cần phải xây dựng, cụ thể hóa bộ tiêu chí để đánh giá nguồn nhân lực tham gia thẩm định báo cáo ĐTM theo hướng xác định cụ thể công việc, lấy chất lượng, hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ được giao làm thước đo chủ yếu để đánh giá phẩm chất, năng lực của đối tượng tham gia vào Hội đồng thẩm định. Các phương thức đánh giá cần được bổ sung những yếu tố định lượng về công việc, thời gian hoàn thành công việc, tỷ lệ xử lý thỏa đáng tình huống và những giải pháp sáng tạo trong giải quyết công việc thẩm định. Ngoài ra, Nhà nước cần tăng cường năng lực thể chế, kiện toàn bộ máy, hoàn thiện các cơ sở pháp lý, phân công rõ ràng, xác định trách nhiệm cụ thể và phải đồng bộ trong công tác tổ chức thẩm định báo cáo ĐTM từ trung ương đến địa phương. Khi xây dựng và bảo đảm thực hiện được các cơ chế nêu trên sẽ góp phần rất lớn vào việc nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức, thái độ làm việc của các chủ thể tham gia vào hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM. Từ đó, hạn chế tối đa những đối tượng không đáp ứng về chuyên môn và đạo đức tham gia vào Hội đồng thẩm định.

Năm là, tăng cường tính thực chất trong hoạt động phản biện xã hội đối với các nội dung trong báo cáo ĐTM. Bất kỳ dự án phát triển nào cũng gây ra những tác động nhất định tới đời sống người dân và môi trường xung quanh, đặc biệt là những dự án có quy mô liên vùng, liên tỉnh. Vì vậy, việc thực hiện tham vấn cộng đồng trong quá trình thẩm định báo cáo ĐTM có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi cộng đồng là đối tượng chính chịu tác động trực tiếp và gián tiếp từ dự án. Họ có quyền được thông tin đầy đủ về những tác động đó và có quyền đưa ra quan điểm đồng tình hoặc phản đối đối với các nội dung cũng như đề xuất của chủ đầu tư dự án về công tác bảo vệ môi trường. Nếu quá trình tham vấn không được thực hiện hoặc thực hiện chỉ mang tính chất hình thức thì sẽ rất dễ xảy ra những xung đột môi trường về sau và tất yếu dự án khó có thể phát triển bền vững[5]. Vì vậy, để bảo đảm hoạt động lấy ý kiến tham vấn cộng đồng, dân cư được thực chất, hiệu quả thì đòi hỏi trong quá trình thẩm định nếu phát hiện chủ đầu tư nào chưa thực hiện các bước tham vấn ý kiến hoặc có nhưng các ý kiến tham vấn sơ sài thì bắt buộc phải thực hiện lại. Bên cạnh đó, Nhà nước cần phải đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức của các chủ thể trong cộng đồng xã hội về tầm quan trọng của hoạt động cho ý kiến phản biện đối với các dự án đầu tư thuộc đối tượng phải ĐTM. Ngoài ra, chính quyền cấp xã còn phải đẩy mạnh cung cấp thông tin cụ thể đến người dân về việc tổ chức lấy ý kiến tham vấn để người dân nắm bắt được thông tin và tích cực tham gia cho ý kiến.

Sáu là, đẩy mạnh phát triển bền vững trên cơ sơ bảo đảm sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, thay đổi tư duy coi trọng thu hút đầu tư bằng mọi giá, xem nhẹ hoạt động bảo vệ môi trường. Theo đó, cần mạnh dạn xóa bỏ quan điểm xem việc thẩm định các điều kiện thực thi khả năng bảo vệ môi trường trong các báo cáo ĐTM là một thủ tục hành chính để được cấp phép hoặc chấp thuận đầu tư, thay vào đó, cần xác định rằng, kết quả thẩm định báo cáo ĐTM là công cụ, căn cứ quan trọng để đi đến quyết định cho đầu tư hay không cho đầu tư dự án hoặc phải thay đổi phương án khác cho dự án. Đặc biệt, từng dự án phải được xem xét kỹ các yếu tố về chi phí, lợi ích, chẳng hạn như, dự án đó sẽ đóng góp được bao nhiêu cho ngân sách nhà nước, thu hút được bao nhiêu việc làm, mức độ tổn thất môi trường như thế nào… Bên cạnh đó, cần phải quán triệt quan điểm không đánh đổi môi trường lấy kinh tế, kiên quyết xử lý các dự án đầu tư không tuân thủ và vi phạm pháp luật về môi trường, kể cả việc quyết định ngừng hoạt động của dự án để khắc phục vi phạm môi trường hoặc cao hơn có thể là chấm dứt hoạt động của dự án[6]. Phải thực hiện nghiêm túc đầy đủ quy trình thẩm định, cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, quyết định chủ trương đầu tư, đặc biệt là các dự án công nghiệp quy mô lớn, ở ven biển và các khu dân cư. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên hoạt động của dự án trong quá trình lập thiết kế cơ sở, xây dựng nhà xưởng, các hạng mục dự án, đặc biệt là hạng mục bảo vệ môi trường để bảo đảm tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật về xây dựng, môi trường.

Có thể nói, thẩm định báo cáo ĐTM là hoạt động vừa mang tính quản lý nhà nước, vừa mang yếu tố khoa học nên có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường trước sự tác động tiêu cực của các dự án đầu tư[7]. Hơn nữa, đây còn là một trong số công cụ có vai trò quan trọng trong việc đạt được sự bền vững hay tầm nhìn phát triển bền vững8. Tuy nhiên, hiện nay, việc thực thi pháp luật về thẩm định báo cáo ĐTM vẫn còn tồn tại những vấn đề hạn chế, bất cập nhất định. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu để khắc phục, hoàn thiện những vấn đề hạn chế, bất cập nhằm đưa hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM đi vào quỹ đạo hoạt động ổn định, hiệu quả là điều rất quan trọng và cấp thiết.

ThS. Trần Linh Huân
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
ThS. Phạm Thị Hồng Tâm
Trường Đại học Phan Thiết



[1]. Tiêu biểu như vụ việc Công ty Vedan gây ô nhiễm sông Thị Vải, Công ty Formosa xả thải gây ô nhiễm các vùng biển miền Trung…

[2]. Bích Diệp, Bài học Formosa và yếu tố “không khả thi” khi đánh giá tác động môi trường, https://dantri.com.vn/kinh-doanh/bai-hoc-formosa-va-yeu-to-khong-kha-thi-khi-danh-gia-tac-dong-moi-truong-2016081116413129.htm, truy cập ngày 16/11/2022.

[3]. Trần Linh Huân (2020), Hoàn thiện pháp luật về thầm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, số 44/2020, tr. 54.

[4]. Đăng Nguyễn, Lỗ hổng năng lực thực thi bảo vệ môi trường, https://www.thesaigontimes.vn/148270/Lo-hong-nang-luc-thuc-thi-bao-ve-moi-truong.html, truy cập ngày 16/11/2022.

[5]. Nguyễn Đức Tùng, Tham vấn cộng đồng trong ĐTM chưa đi vào thực chất, https://www.thiennhien .net/2013/11/26/tham-van-cong-dong-chua-di-vao-thuc-chat/, truy cập ngày 16/11/2022.

[6]. Thái Bình, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng: Cần từ chối dự án gây hại từ vụ Formosa, nguồn: https://vov.vn/kinh-te/bo-truong-nguyen-chi-dung-can-tu-choi-du-an-gay-hai-tu-vu-formosa-531005.vov, truy cập ngày 16/11/2020.

[7]. Vũ Thị Duyên Thủy (2003), Bàn về hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM, Tạp chí Luật học, số 02, tr. 32.

[8]. Lương Thị Thoa (2020), Đánh giá tác động môi trường theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi, Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, số 42/2020, tr. 103.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.

Theo dõi chúng tôi trên: