Thứ bảy 24/10/2026 14:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công của công dân và tổ chức

Tóm tắt: Dưới ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ của xu hướng dân chủ hóa và cải cách khu vực công trên thế giới, các Chính phủ đang nỗ lực để tăng cường tính phục vụ, mang đến sự hài lòng và củng cố niềm tin của người dân đối với Nhà nước. Trong đó, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công là một trong những vấn đề được đặc biệt coi trọng. Bài viết này tập trung phân tích và đánh giá việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của công dân và tổ chức, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận trong thời gian tới.

Abstract: Under the increasing impact of democratization and public sector reform in the world, governments are making efforts to improve the quality of service, satisfactory and the trust of the people on the State in which enhancing the accessibility to public administration services is absolutely paid attention to. This article focuses on analyzing and assessing the accessibility to public administration services of the citizens and organizations, and also proposes measures on enhancing the accessibility in the coming time.

1. Dịch vụ hành chính công và việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của công dân, tổ chức

Dịch vụ hành chính công là một bộ phận cấu thành của dịch vụ công, nhưng nó mang những đặc thù vì nó gắn chặt với việc thực hiện thẩm quyền hành chính - pháp lý, gắn với hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước. Đây là loại hình dịch vụ do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp đáp ứng nhu cầu người dân, thực hiện các quyền và nghĩa vụ có tính pháp lý của công dân và tổ chức (gồm hoạt động cấp các loại giấy phép, hoạt động cấp các loại giấy xác nhận, chứng thực, hoạt động thu các khoản đóng góp vào ngân sách và các quỹ của Nhà nước, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và xử lý vi phạm hành chính). Nhưng nó cũng là một hoạt động thực thi pháp luật của chính bản thân hệ thống cơ quan này. Bởi vì, thông qua việc cung cấp dịch vụ hành chính công, các cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể trực tiếp và duy nhất quản lý lĩnh vực đó. Đồng thời, đây là những hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận, nếu có thu tiền thì cũng thu dưới dạng lệ phí. Người dân được đảm bảo có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ này với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền.

Dịch vụ hành chính công là kết quả của một quá trình bao gồm một loạt các hoạt động và sự hỗ trợ của các nguồn lực cần thiết. Các yếu tố cấu thành dịch vụ hành chính công gồm: Thủ tục hành chính trong giải quyết các công việc của tổ chức và công dân (là những quy định về các loại giấy tờ cần thiết, điều kiện, trình tự và cách thức sử dụng thẩm quyền để giải quyết các công việc đó), mô hình cung ứng (hiện nay là mô hình “một cửa”), cán bộ, công chức với tư cách là chủ thể trực tiếp cung ứng dịch vụ hành chính công và cơ sở vật chất hỗ trợ cho hoạt động này.

Nói đến tiếp cận dịch vụ nghĩa là nói đến việc con người tiến tới, nắm bắt được và sử dụng dịch vụ. Do đó, tiếp cận dịch vụ hành chính công không chỉ bao hàm việc người dân, tổ chức có nhận được dịch vụ hành chính công đó hay không (ví dụ: Có được cấp giấy khai sinh không?) mà còn là cách thức để họ nhận được dịch vụ đó (được cấp giấy khai sinh có thuận lợi không, có dễ dàng không, có hài lòng không?...). Sở dĩ việc tiếp cận dịch vụ hành chính công cần được nghiên cứu bởi vì có một hiện tượng khá phổ biến là dịch vụ hành chính công được Nhà nước quan tâm đầu tư cung ứng, tuy nhiên, người dân vẫn không sử dụng hoặc không được sử dụng hoặc sử dụng hạn chế. Như vậy, theo quan điểm của tác giả, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công nghĩa là gắn kết quá trình cung ứng dịch vụ của các cơ quan hành chính nhà nước với quá trình thụ hưởng dịch vụ của công dân, tổ chức để họ được thụ hưởng dịch vụ mình có nhu cầu, cần thiết cho đời sống của mình một cách hiệu quả nhất, hài lòng nhất.

2. Thực trạng việc cung ứng và tiếp cận dịch vụ hành chính công ở nước ta

2.1. Những mặt đạt được

Trong những năm qua, với nỗ lực cải cách không ngừng của cả hệ thống hành chính nhà nước, nhất là từ khi triển khai Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 và 2011 - 2020, người dân và tổ chức đã nhận thấy sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan có thẩm quyền, cũng như cải thiện đáng kể khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công của mình. Nền hành chính đã bước đầu bảo đảm về số lượng lẫn chất lượng dịch vụ khi người dân có nhu cầu; làm tăng sự hài lòng của người thụ hưởng dịch vụ nói chung vào sự phục vụ, đáp ứng của chính quyền; làm tăng lòng tin của người dân đối với Nhà nước; làm tăng sự tin tưởng, tín nhiệm của các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó đã tạo ra những động lực mạnh mẽ, rõ rệt, kịp thời cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

04 loại hình dịch vụ hành chính công, từ hoạt động cấp phép, chứng nhận, chứng thực, xác nhận, thu thuế, phí, lệ phí đến việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm hành chính đều có những thay đổi theo hướng giảm tải các quy định, thủ tục, cách thức tiến hành ngày càng được hiện đại hóa. Nhờ áp dụng mô hình “một cửa” tại tất cả các cơ quan cung ứng dịch vụ hành chính công, dần áp dụng rộng rãi mô hình “một cửa liên thông”, “một cửa điện tử” tại một số cấp, một số cơ quan, địa phương, việc tiếp cận của công dân và tổ chức đã thay đổi tích cực đáng kể, thậm chí thay đổi hoàn toàn, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của xã hội. Trong phạm vi cả nước, đối với 06 thủ tục hành chính và được triển khai tại 108 xã, phường, thị trấn thuộc 36 quận, huyện, thị xã, thành phố ở 10 tỉnh, thành phố trong cả nước như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Quảng Ninh… cho thấy, với 04 tiêu chí khảo sát (tiếp cận dịch vụ, hài lòng về tiếp cận dịch vụ; thủ tục hành chính; sự phục vụ của công chức; kết quả giải quyết thủ tục hành chính), người dân đánh giá tốt về kết quả giải quyết thủ tục hành chính. Con số hài lòng về toàn bộ quá trình giải quyết thủ tục hành chính là: Thủ tục cấp giấy chứng minh nhân dân: 83,4%; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 74,4%; thủ tục cấp giấy phép xây dựng nhà ở: 78,4%; thủ tục chứng thực: 86%; thủ tục kết hôn: 89,5%; thủ tục cấp giấy khai sinh: 87,5%[1].

Nhờ đó, theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank), năm 2016, Việt Nam được xếp hạng ở vị trí thứ 82/190 nước (tham gia khảo sát) trong bảng đánh giá về môi trường kinh doanh toàn cầu[2]. So với năm 2015, Việt Nam tăng 09 bậc. Thứ hạng này là kết quả của những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, qua đó tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trong các công tác thuế quan và bảo vệ nhà đầu tư. Nhờ môi trường kinh doanh được cải thiện về nhiều mặt như thủ tục thuế được tinh giản, quyền lợi nhà đầu tư được nâng cao, FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tốt. Trong 11 tháng của năm 2016, có 2.240 dự án FDI được cấp mới, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm 2015. Số dự án tăng vốn là 1.075 dự án, tăng 55,3% so với cùng kỳ năm 2015[3].

2.2. Hạn chế

Hạn chế lớn nhất trong việc cung ứng và tiếp cận dịch vụ hành chính công vẫn là căn bệnh “xin - cho” còn tồn tại khá dai dẳng và ăn sâu vào suy nghĩ của cả cán bộ, công chức lẫn người dân. Một bộ phận lớn người cung ứng tự cho mình cái “quyền” ban phát, cho phép; người thụ hưởng dịch vụ vẫn chịu sức ép tâm lý về việc xin xỏ. Chính bởi vậy, vẫn còn tình trạng sai phạm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến dịch vụ hành chính công, tình trạng cấp phép sai thẩm quyền, vi phạm pháp luật, tình trạng tồn đọng giấy phép, chậm giải quyết, ùn tắc kéo dài… Theo Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2015, “có khoảng 44% số người đã làm thủ tục liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong năm 2015 phải đưa hối lộ mới làm xong được thủ tục”[4]. Người dân bày tỏ quan ngại đối với tham nhũng trong khu vực công và trong cung ứng dịch vụ công. Những người được hỏi trên phạm vi toàn quốc cũng cho rằng tình trạng vị thân (thân quen) và tham nhũng trong chính quyền địa phương hiện còn rất phổ biến. Người dân không tin tưởng nhiều vào quyết tâm chống tham nhũng của chính quyền địa phương. Trên toàn quốc, chỉ có 37% số người được hỏi cho rằng chính quyền cấp tỉnh đã thực sự nghiêm túc xử lý vụ việc tham nhũng xảy ra ở địa phương.

Hơn nữa, thời gian chờ đợi thực hiện thủ tục hành chính nhiều hơn so với quy định. Hơn 22% số người đã làm thủ tục quyền sử dụng đất cho biết họ phải chờ hơn 100 ngày mới nhận được kết quả, trong khi theo quy định của pháp luật chỉ là 30 ngày[5]. Chính những tồn tại đó tạo nên một màu xám trong bức tranh về nền hành chính, gây ra cái nhìn thiếu thiện cảm, mất niềm tin của xã hội đối với nhà nước. Nguyên nhân là do môi trường đầu tư, kinh doanh chưa thông thoáng, người dân, doanh nghiệp còn phàn nàn nhiều về thủ tục hành chính phải qua nhiều cửa, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều, đặc biệt là đội ngũ cán bộ công chức cấp xã còn thiếu và yếu, trong phối hợp giữa các cơ quan chức năng vẫn còn tình trạng cục bộ, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm. Một bộ phận cán bộ, công chức còn thiếu trách nhiệm, chưa tận tình hướng dẫn khi giải quyết công việc cho tổ chức, công dân, doanh nghiệp.

Như vậy, để có được dịch vụ hành chính công, nhiều công dân, tổ chức phải mất nhiều hơn thời gian, chi phí, công sức... theo quy định, mà quan trọng nhất là sự bào mòn niềm tin vào hoạt động của chính quyền, của một bộ phận không nhỏ đội ngũ cán bộ, công chức.

3. Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính công của công dân và tổ chức

Về bản chất, công dân, doanh nghiệp là người tạo nguồn thu cho hoạt động của bộ máy nhà nước, họ là người trả phí cho các dịch vụ mà chính quyền cung ứng. Như vậy, công dân, doanh nghiệp là khách hàng của Nhà nước và các cơ quan nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức là công bộc của nhân dân. Chỉ khi điều đó trở thành nhận thức của nền hành chính, để sự phục vụ tốt nhất cho người dân là mục tiêu sống còn của cả hệ thống hành chính thì việc tiếp cận dịch vụ hành chính công của người dân và tổ chức mới đảm bảo sự hài lòng, thuận lợi như mong muốn. Có thể đề xuất một số giải pháp như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các thủ tục hành chính theo hướng công khai, đơn giản hóa, dễ thực hiện

- Rà soát từng thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính theo các tiêu chí đã được chuẩn hóa trên cơ sở bảo đảm tính hợp pháp, tính cần thiết và sự hợp lý của thủ tục hành chính để bãi bỏ, hủy bỏ, sửa đổi các thủ tục hành chính, mẫu đơn, mẫu tờ khai hành chính, các yêu cầu hoặc điều kiện để thực hiện thủ tục hành chính không hợp pháp, không cần thiết, không hợp lý. Đặc biệt chú trọng những thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến đời sống, sản xuất kinh doanh của người dân, doanh nghiệp.

- Tổ chức niêm yết, công khai, đầy đủ, thường xuyên và rõ ràng tất cả thủ tục hành chính theo ngành, lĩnh vực tại trụ sở cơ quan nơi tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính; đăng tải trên trang thông tin điện tử.

- Tiếp tục thực hiện, nghiên cứu để hoàn thiện mô hình “một cửa”, “một cửa điện tử”, “một cửa liên thông” trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp.

Thứ hai, đẩy mạnh phân cấp, xã hội hóa một phần trong cung ứng dịch vụ hành chính công: Đẩy mạnh phân cấp trong cung ứng dịch vụ hành chính công theo hướng trao quyền nhiều hơn cho cấp dưới với nguyên tắc: Những loại dịch vụ hành chính công nào mà nhu cầu xã hội lớn và thiết yếu thì trao cho cấp gần dân hơn, đảm bảo sự tương quan giữa nhu cầu của xã hội với khả năng đáp ứng của hệ thống chính quyền. Đồng thời, tiến tới thực hiện xã hội hóa nhiều hơn trong việc cung ứng dịch vụ hành chính công, khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước với tiêu chí “nhà nước nhỏ nhất có thể, xã hội lớn nhất có thể”.

Thứ ba, bố trí hợp lý và tăng cường chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cung ứng dịch vụ hành chính công: Đảm bảo chuyên môn, năng lực trình độ tốt, kĩ năng giao tiếp tốt, đổi mới công tác đánh giá công chức theo hướng kết hợp giữa đánh giá của cơ quan với khách hàng, gắn kết kết quả đánh giá mức độ hài lòng của người dân và tổ chức với kết quả thi đua, khen thưởng của cán bộ, công chức trong năm.

Thứ tư, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, ứng dụng khoa học công nghệ

- Đảm bảo bố trí 100% cơ quan cung ứng dịch vụ hành chính công có bộ phận tiếp nhận và trả kết quả độc lập, riêng biệt, khang trang, ở vị trí thuận tiện;

- Trang bị đồng bộ, hiện đại các phương tiện cần thiết cho bộ phận tiếp nhận và trả kết quả để vận hành thông suốt mô hình“một cửa điện tử”, “một cửa liên thông” như: Máy tính, máy scan, máy photocopy, điện thoại, máy fax, bàn có ngăn vách kính, ghế ngồi chờ, bảng dán thủ tục, tủ lưu hồ sơ… Ngoài ra, để ngày càng hiện đại hóa hoạt động, có thể trang bị thêm hệ thống mạng internet, mạng LAN, camera...

Thứ năm, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công dân, tổ chức: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức của người dân đối với cải cách thủ tục hành chính nói riêng, hoạt động quản lý nhà nước nói chung, giúp người dân chủ động, tích cực thực hiện quyền của mình, góp phần vào cải cách cung ứng dịch vụ hành chính công của Nhà nước, qua đó, phục vụ cho chính nhu cầu của họ ngày một tốt hơn.

Thứ sáu, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình cung ứng và tiếp cận dịch vụ hành chính công: Cần bảo đảm thực hiện thường xuyên, liên tục, nghiêm túc hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát quá trình cung ứng và tiếp cận dịch vụ hành chính công. Sử dụng kết quả đánh giá cán bộ, công chức, kết quả khảo sát sự hài lòng của người dân trong quá trình tiếp cận dịch vụ hành chính công là một căn cứ quan trọng để khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ, công chức trong thời gian tiếp theo.

Nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công là một trong những nhiệm vụ lớn của Nhà nước ta trong công cuộc cải cách hành chính. Mục tiêu cuối cùng của tất cả những nỗ lực đó chính là sự hài lòng của người dân. Cho nên, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân và tổ chức đối với dịch vụ hành chính công là mảnh ghép còn lại để khép kín cho mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, thể hiện tính tương tác và tinh thần của Nhà nước phục vụ trong thời kỳ mới. Điều này hoàn toàn phù hợp với bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nền hành chính phục vụ, đồng thời cũng đi đúng theo xu hướng dân chủ phổ biến trên toàn thế giới.

TS. Phùng Thị Phong Lan

Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Nội vụ (2016), Báo cáo khảo sát Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) năm 2015.

[2]. World Bank (Ngân hàng Thế giới-WB) (2016), Báo cáo Khảo sát Môi trường Kinh doanh toàn cầu - Doing Business 2017 “Môi trường kinh doanh 2017: Cơ hội bình đẳng cho mọi người”.

[3]. Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin= 35116&idcm=188).

[4]. CECODES, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, UNDP Việt Nam (2016), Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2015 (PAPI 2015).

[5]. CECODES, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, UNDP Việt Nam (2016), Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2015 (PAPI 2015).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: