Thứ hai 15/06/2026 21:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực sử dụng và bảo vệ quyền quyền của cá nhân trong Hiến pháp năm 2013

Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ. Triển khai thi hành Hiến pháp, nhiều luật và các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Hiến pháp mới. Tuy nhiên, để quyền con người, quyền công dân được bảo đảm thực thi trên thực tiễn, ngoài hệ thống pháp luật điều chỉnh thì nhận thức, hành động của mỗi cá nhân

Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và bảo vệ. Triển khai thi hành Hiến pháp, nhiều luật và các văn bản quy phạm pháp luật được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với Hiến pháp mới. Tuy nhiên, để quyền con người, quyền công dân được bảo đảm thực thi trên thực tiễn, ngoài hệ thống pháp luật điều chỉnh thì nhận thức, hành động của mỗi cá nhân có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các quyền của mình đã được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Theo tác giả bài viết, năng lực sử dụng, bảo vệ quyền của cá nhân là bảo đảm quan trọng để thực hiện quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013. Tác giả cũng nêu lên những thực trạng và một số giải pháp cơ bản nâng cao năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân.


1. Năng lực sử dụng, bảo vệ quyền của cá nhân là bảo đảm quan trọng thực hiện quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp là văn bản quy phạm pháp luật thể hiện tập trung và toàn diện nhất mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân. Nội dung mối quan hệ này là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, bao gồm quyền con người (QCN), quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, mà tương ứng với nó là trách nhiệm của Nhà nước, của công dân. Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện rõ sự phát triển trong nhận thức của Đảng và Nhà nước về mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, về trách nhiệm của Nhà nước và các giá trị khách quan của cá nhân. Chương về QCN, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được nhiều ý kiến đánh giá là “điểm sáng” trong Hiến pháp năm 2013[1]. Tuy nhiên, việc hiện thực hóa những quy định tiến bộ này như thế nào trong thực tiễn còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, chẳng hạn như: Quyết tâm chính trị của hệ thống chính trị, nhận thức chung của xã hội, những người trực tiếp tổ chức thực hiện pháp luật, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức…, trong đó, năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân là một bảo đảm quan trọng.

Dưới góc độ chung nhất, cá nhân vừa là cá thể người được đặc trưng bằng những phẩm chất, năng lực, cá tính riêng, vừa là một thực thể xã hội, cá nhân có sở nguyện độc lập và khả năng tự quyết định, thể hiện thành ý chí, nguyện vọng, lợi ích, giá trị, nhu cầu riêng, đòi hỏi phải được phản ánh và ghi nhận[2]. Từ đó, QCN, quyền công dân (QCD) chính là những giá trị khách quan, phổ biến phản ánh nhu cầu của cá nhân, đó không phải và không thể là những giá trị mà Nhà nước hay các chủ thể khác có thể ban tặng cho cá nhân. Hay nói cách khác, QCN, QCD phải là những giá trị được khẳng định xuất phát từ chính đòi hỏi của cá nhân, đồng thời, là những giá trị được xã hội thừa nhận rộng rãi và được ghi nhận bằng các quy định pháp luật của quốc gia hoặc quốc tế. Vì vậy, nhiều nghiên cứu về QCN, QCD đã chỉ ra rằng: QCN, QCD không phải là những giá trị bất biến; QCN, QCD là những giá trị mang tính nhân loại, nhưng cũng mang tính đặc thù của mỗi quốc gia. Nội dung QCN, QCD phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, xã hội, truyền thống lịch sử văn hóa… của quốc gia trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định.

Nhận thức trên về QCN, QCD cho thấy, việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm QCN, QCD của Nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của cá nhân trong việc sử dụng, bảo vệ QCN, QCD, thể hiện ở kiến thức, kỹ năng, thái độ của cá nhân trong sử dụng và bảo vệ QCN, QCD. Điều này phụ thuộc vào sự trưởng thành của cá nhân về nhân cách độc lập, năng lực làm chủ bản thân và xã hội; phụ thuộc vào nhận thức của cá nhân về QCN, QCD. Đó là:

Trước hết, sự trưởng thành về nhân cách độc lập, năng lực làm chủ bản thân và xã hội, giúp cá nhân ngày càng tự tin trong việc khẳng định nhu cầu, lợi ích, cá tính của mình trước mọi giai cấp, tầng lớp, đòi hỏi xã hội phải phản ánh, ghi nhận. Từ đó, mỗi cá nhân không còn đơn thuần thuộc một giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định, mà đồng thời thuộc các nhóm lợi ích khác nhau. Quan hệ giữa các nhóm lợi ích phát sinh ngày càng phong phú và phức tạp, xen lẫn quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội. Trong bối cảnh đó, đường lối của các đảng phái chính trị, pháp luật của Nhà nước không thể chỉ bó hẹp trong lợi ích của một giai cấp, tầng lớp nhất định mà phải hướng đến các giá trị chung của xã hội, các giá trị phổ biến của con người. Đó là cơ sở cho việc hoàn thiện và thực thi pháp luật về QCN, QCD.

Tiếp theo, hiểu biết của cá nhân về các QCN, QCD giúp cá nhân trở nên bình đẳng hơn trong các mối quan hệ xã hội, bao gồm quan hệ giữa các cá nhân; giữa cá nhân với các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức. Hiểu biết về quyền giúp cá nhân tự tin khẳng định giá trị khách quan của mình trước các chủ thể khác, đòi hỏi các chủ thể liên quan phải tôn trọng, đòi hỏi Nhà nước phải bảo vệ khi bị xâm phạm. Nhu cầu sử dụng quyền của cá nhân thúc đẩy các thiết chế xã hội và Nhà nước hoàn thiện cơ chế bảo vệ, bảo đảm, phát huy QCN, QCD. Đồng thời, kiến thức về QCN, QCD là cơ sở giúp cá nhân củng cố kỹ năng, thái độ trong việc sử dụng quyền của mình để không ngừng phát triển và hoàn thiện bản thân. Kỹ năng, thái độ tốt trong sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân sẽ hạn chế những tranh chấp có ảnh hưởng đến việc thực hiện và phát huy QCN, QCD. Đó là điều kiện cho các QCN, QCD đã được Hiến pháp năm 2013 công nhận được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn.

2. Thực trạng năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân

Trong quá trình đổi mới, năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân không ngừng được củng cố. Một mặt, do pháp luật về QCN, QCD không ngừng được hoàn thiện, trong đó có sự phát triển của thể chế kinh tế thị trường. Mặt khác, trách nhiệm từ phía Nhà nước được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, đó là trách nhiệm tạo điều kiện cần thiết để cá nhân thực hiện quyền; trách nhiệm khi các QCN, QCD bị vi phạm… Bên cạnh đó, những thay đổi của điều kiện xã hội mới đã tác động mạnh mẽ đến quá trình trưởng thành về năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân. Từ đó, QCN, QCD trong Hiến pháp ngày càng được tôn trọng, phát huy, bảo vệ và bảo đảm trong thực tiễn. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, vi phạm QCN, QCD vẫn là hiện tượng xảy ra khá phổ biến ở nước ta trong thời gian qua. Nhiều trường hợp QCN, QCD bị hạn chế một cách tùy tiện bởi chính quy định pháp luật của các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền, chẳng hạn như tình trạng giấy phép “con”, “cháu” trong quản lý kinh doanh[3]; tình trạng nhũng nhiễu trong quản lý hành chính nhà nước, oan sai trong quá trình tố tụng… đã và đang làm ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện QCN, QCD. Đồng thời, hiện tượng cá nhân lạm dụng quyền của mình, gây mất an ninh, an toàn xã hội xâm phạm quyền của nhiều chủ thể khác cũng diễn ra không kém phần phức tạp. Tình trạng này cần được lý giải bởi nhiều nguyên nhân, nhưng sẽ là không đầy đủ, nếu không đánh giá đúng thực trạng năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân ở Việt Nam hiện nay.

2.1. Đối với sự trưởng thành về nhân cách độc lập, năng lực làm chủ bản thân và xã hội của cá nhân

Trước hết, dưới tác động của yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc, với những ảnh hưởng của văn hóa Á Đông. Đó là truyền thống đề cao đạo lý hy sinh cá nhân cho cộng đồng. Chuẩn mực đạo đức này rất được coi trọng vì nó tạo ra sự gắn kết, chia sẻ cộng đồng. Nhưng việc hy sinh cho cộng đồng trong quá khứ đã được đẩy lên đến mức dường như “thủ tiêu” cá nhân.

Thứ hai, dưới chế độ tập trung quan liêu bao cấp, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám, sự phụ thuộc nhân cách của cá nhân tiếp tục được củng cố, tạo nên tâm lý “dựa dẫm” nhà nước, phụ thuộc vào các tập thể lao động như hợp tác xã, nhà máy, xí nghiệp… Mọi cá nhân được định hướng hoàn thiện mình theo những mô hình nhân cách lý tưởng của “con người mới xã hội chủ nghĩa”. Năng lực làm chủ bản thân của cá nhân vì thế mà thiếu cơ hội để trưởng thành.

Thứ ba, dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường đã được hình thành và phát triển trong giai đoạn đổi mới, các quy luật khách quan của thị trường đã tác động đến mỗi cá nhân, đòi hỏi cá nhân phát triển nhân cách độc lập, bình đẳng và cạnh tranh. Kết quả là, sau gần 30 năm đổi mới, nhìn chung cá nhân đã có một sự trưởng thành nhất định về nhân cách độc lập, khả năng tự chủ. Nhưng trong tâm thức chung của mọi người, giá trị con người vẫn dựa vào “sự phô diễn trong cộng đồng”. Trong nhiều trường hợp, xã hội tỏ ra chưa sẵn sàng chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt ở những cá nhân đã và đang có xu hướng vươn lên khẳng định mình. Cá nhân vì trọng cộng đồng mà không ủng hộ những sai biệt cộng đồng, thượng tôn quan quyền và không chủ động sử dụng các quyền cá nhân hợp pháp của mình4.

Thực trạng trên đã tác động lớn đến quá trình hình thành nhân cách độc lập, sự trưởng thành về năng lực làm chủ bản thân và xã hội của cá nhân. Nhu cầu khẳng định những giá trị mà thiếu nó cá nhân không thể tồn tại với tư cách một con người được thể hiện một cách yếu ớt. Thêm vào đó, ảnh hưởng của tư tưởng “thượng tôn quan quyền” khiến cho cá nhân luôn “yếu thế” trong quan hệ với nhà nước. Vì thế, các cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm của nhà nước trong tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, phát huy QCN, QCD chưa được hoàn thiện và thực thi đầy đủ. Cán bộ, công chức còn nặng tư duy “ban phát” trong thực thi công vụ. Đây là một trong những nguyên nhân của vi phạm nhân quyền từ phía nhà nước. Nhà nước còn biểu hiện xem nhẹ yếu tố con người và nguồn nhân lực trong đầu tư phát triển, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và lợi ích chính đáng của cá nhân[5]. Trong khi, các QCN, QCD đã được ghi nhận khá rộng rãi và liên tục phát triển trong các bản Hiến pháp.

2.2. Đối với nhận thức của cá nhân về quyền con người, quyền công dân để phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ của cá nhân trong việc sử dụng và bảo vệ quyền

Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đã và đang có tác động mạnh mẽ đến việc tiếp thu kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ tốt của cá nhân trong sử dụng và bảo vệ quyền. Tuy nhiên, quá trình này cũng chịu những ảnh hưởng không nhỏ từ văn hóa truyền thống và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Từ chỗ không có quyền, sau khi nước nhà độc lập, các quyền của cá nhân được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo bằng các kế hoạch, chỉ tiêu, pháp lệnh của Nhà nước. Khi đó, cá nhân có quyền nhưng ý thức sử dụng và bảo vệ quyền không được củng cố, nuôi dưỡng. Trong điều kiện hiện nay, QCN, QCD không ngừng được hoàn thiện trong Hiến pháp và pháp luật. Nhưng các cá nhân chưa thực sự chủ động trong việc sử dụng và bảo vệ quyền của mình. Từ đó, thiếu chủ động trong tiếp cận các quy định pháp luật về QCN, QCD và nảy sinh hai thái cực trái ngược: (i) Thái độ thờ ơ trước các quyền của mình; (ii) Đòi tuyệt đối hóa các QCN, QCD. Cả hai thái cực này đều ảnh hưởng đến việc thực hiện các QCN, QCD trong thực tiễn, mà lý do là:

- Do kiến thức về QCN, QCD của cá nhân (kể cả cán bộ, công chức) còn hạn chế;

- Tính thiếu phù hợp của cơ chế thực hiện quyền và thiếu hiệu quả của các cơ chế bảo vệ QCN, QCD, đã và đang ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân;

- Sự thiếu tôn trọng QCN, QCD đã được Hiến pháp ghi nhận, từ phía các thiết chế nhà nước còn tồn tại khá phổ biến do thiếu cơ chế kiểm soát;

- Sự thiếu trưởng thành của cá nhân về nhân cách độc lập.

Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền về điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, dẫn đến khả năng tiếp cận, sử dụng và bảo vệ quyền có sự khác biệt đáng kể. Các vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, nhìn chung điều kiện kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, thêm vào đó là các phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng nặng nề, nhu cầu sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân khá thấp. Nhiều chương trình, mục tiêu quốc gia đã được xây dựng và triển khai như: Chương trình xóa đói, giảm nghèo; chương trình trợ giúp pháp lý cho người nghèo… đã tạo được những điều kiện cần thiết cho cá nhân nâng cao nhận thức và tạo ra các bảo đảm về kinh tế, xã hội trong thực hiện QCN, QCD. Tuy nhiên, do tính hiệu quả chưa cao của các chương trình mà các kết quả đạt được trong thực tế còn rất khiêm tốn, chưa khắc phục được một cách cơ bản những bất bình đẳng trong cơ hội tiếp cận kiến thức và điều kiện thực hiện QCN, QCD giữa các vùng, miền. Từ đó, ảnh hưởng đến kỹ năng, thái độ của cá nhân ở các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo trong sử dụng và bảo vệ quyền.

3. Giải pháp cơ bản nâng cao năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân trong Hiến pháp năm 2013

Xuất phát từ thực trạng thực hiện QCN, QCD ở nước ta hiện nay, thiết nghĩ, để các nguyên tắc, quy định tiến bộ về QCN, QCD trong Hiến pháp năm 2013 được thực hiện đầy đủ trong thực tiễn, cần giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề còn tồn tại. Trong đó, việc khắc phục những hạn chế đã phân tích ở trên và nâng cao năng lực sử dụng, bảo vệ quyền của cá nhân là rất cần thiết, với những giải pháp sau:

Thứ nhất, tạo môi trường để cá nhân có điều kiện hoàn thiện nhân cách độc lập, năng lực làm chủ bản thân và xã hội, hạn chế những tác động tiêu cực của văn hóa truyền thống và tư duy của thời kỳ tập trung quan liêu bao cấp. Trước tiên, môi trường giáo dục cần tôn trọng sự khác biệt của cá nhân, hình thành ở cá nhân nhận thức về bản thân mình là một chủ thể độc lập với cá tính, năng lực, phẩm chất riêng và trước pháp luật mọi người đều bình đẳng về cơ hội để phát huy tối đa năng lực của bản thân. Từ đó, mỗi cá nhân tự tin tham gia vào đời sống xã hội để khẳng định và hoàn thiện nhân cách độc lập của mình. Nhưng, sống trong xã hội, tự do của mỗi người bị giới hạn bởi tự do của người khác, nên không thể có tự do tuyệt đối, đó là cơ sở để mỗi cá nhân phải ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội của mình. Nhận thức về quyền và trách nhiệm xã hội cần được coi là hành trang không thể thiếu của mỗi công dân khi bước vào đời sống xã hội. Hành trang này là cơ sở để cá nhân nhận thức đầy đủ hơn về QCN, QCD, những giá trị khách quan gắn liền với sự tồn tại của mỗi cá nhân, mà nếu thiếu nó người ta không thể sống với tính cách là một con người[6]. Khi đó, cá nhân sẽ chủ động trong nhận thức, sử dụng và bảo vệ quyền của mình trước các hành vi vi phạm QCN, QCD từ phía Nhà nước.

Đồng thời, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về QCN, QCD cần được tiến hành một cách thường xuyên, rộng khắp với các đối tượng xã hội, từ cá nhân, đến các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cán bộ, công chức. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tiến hành bằng nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, phù hợp với từng loại đối tượng nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. Thông qua đó, cá nhân nhận thức được đầy đủ nội dung, cách thức sử dụng, bảo vệ quyền và chủ động, tích cực trong thực hiện, đấu tranh bảo vệ quyền của mình, đồng thời tôn trọng quyền của chủ thể khác.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về QCN, QCD, cần bảo đảm nguyên tắc QCN, QCD “chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[7]. Nguyên tắc này củng cố niềm tin của cá nhân về sự tôn trọng của Nhà nước và xã hội với QCN, QCD. Đồng thời, Quốc hội sớm ban hành luật xây dựng cơ chế bảo vệ Hiến pháp theo Điều 119 Hiến pháp năm 2013, nhằm xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, phát huy QCN, QCD trong Hiến pháp. Các quy định này một mặt giúp cho các QCN, QCD trong Hiến pháp năm 2013 được thực thi. Mặt khác, thông qua đó, pháp luật khẳng định Nhà nước là chủ thể phải chịu trách nhiệm khi QCN, QCD không được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm và phát huy. Tức là, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân là quan hệ pháp luật; Nhà nước và cá nhân là những chủ thể bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý. Điều này sẽ có tác động to lớn làm thay đổi căn bản tư tưởng “thượng tôn quan quyền” trong nhân dân. Đồng thời, cán bộ, công chức không thể coi QCN, QCD là những thứ có thể dùng để ban phát, dễ dàng cấm khi không quản lý được hay tùy tiện đặt ra các rào cản khi cần thiết để nhũng nhiễu…

Thứ ba, trước thực trạng sự trưởng thành về nhân cách độc lập, năng lực làm chủ bản thân và xã hội của cá nhân còn nhiều hạn chế, sự phát triển của các thiết chế xã hội mang tính tự nguyện là rất cần thiết. Các thiết chế này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường để cá nhân củng cố và tự tin hơn trong khẳng định năng lực, cá tính, phẩm chất riêng của mình. Đồng thời, mỗi cá nhân vốn “nhỏ bé” trước Nhà nước, nên sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân là rất khó hiện thực. Tuy nhiên, sự ra đời của các tổ chức tự nguyện giúp cho cá nhân có nhiều cơ hội bảo vệ quyền của mình thông qua các tổ chức đại diện. Khi đó, vị thế của cá nhân được củng cố, mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân sẽ ngày càng bình đẳng hơn trong thực tiễn. Đây là điều kiện để cá nhân có thể phát huy năng lực, bảo vệ hiệu quả hơn quyền của mình, hạn chế sự vi phạm từ phía nhà nước. Vì vậy, Quốc hội cần sớm thông qua Luật về hội nhằm hiện thực hoá quyền tự do lập hội của cá nhân đã được Hiến pháp ghi nhận.

Đồng thời, phát huy sức mạnh của báo chí và các phương tiện thông tin, khi mà dưới tác động của cuộc cách mạng thông tin và mạng internet, ở mọi nơi, các hệ thống thứ bậc đang bị thách thức từ bên dưới và phải tự biến đổi thành các cấu trúc theo chiều ngang và có tính cộng tác hơn.

Tóm lại, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc bảo đảm thực hiện đầy đủ các QCN, QCD trong Hiến pháp năm 2013 là mục tiêu cao nhất của quá trình đổi mới. Mục tiêu này cần được thực hiện bằng nhiều giải pháp mang tính tổng thể, phù hợp với điều kiện thực tế về kinh tế, xã hội và con người Việt Nam. Trong đó, nâng cao năng lực sử dụng và bảo vệ quyền của cá nhân ở Việt Nam hiện nay cần được xác định là một đảm bảo quan trọng để các QCN, QCD trong Hiến pháp năm 2013 được thực hiện, khi đó, các giải pháp cơ bản trên phải được thực hiện một cách đồng bộ trong thực tiễn.

TS. Trần Thị Thanh Mai
Học viện Chính trị Khu vực I

Tài liệu tham khảo:

[1]. Quang Vũ - Khiếu Tư, Quyền con người - Điểm sáng trong Hiến pháp mới
[2]. Trần Thị Thanh Mai, Cơ chế điều chỉnh pháp luật mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, Luận án tiến sỹ luật học, tháng 6/2015.

[3]. Báo Vietnamnet online, Giấy phép “con”, “cháu” nhiều gấp mấy lần giấy phép “cha” ngày 19/8/2014.

[4]. Bùi Ngọc Sơn (2009), “Nghĩ lại và tái tạo “mình”“, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (2+3), tr.82.

[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991 - 2011), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.123.

[6]. Viện Thông tin Khoa học xã hội, Trung tâm nghiên cứu quyền con người (1998), Các văn kiện quốc tế về quyền con người, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[7]. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: