Thứ hai 26/10/2026 01:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự

Hiện nay, tranh tụng được xác định là một nguyên tắc của tố tụng hình sự. Xét về mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm, "tranh tụng" tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự có thể được coi là giai đoạn quan trọng nhất, bảo đảm tốt dân chủ, công khai, minh bạch để tìm ra sự thật của vụ án. Đó là cơ sở vững chắc để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để bỏ lọt tội phạm; đồng thời không làm oan người vô tội, không làm sai lệch vụ án; ràng buộc Tòa án phải "thiết diện vô tư".

1. Quan niệm về năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự

Xét về phương diện dân chủ trong tố tụng hình sự và quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự, bị cáo có quyền bình đẳng của người tham gia tố tụng đối với cơ quan, người tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội được coi là người không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, nhân danh Nhà nước có quyền tuyên án đối với bị cáo. Song trước khi tuyên án phải có tranh luận dân chủ, bình đẳng trước pháp luật giữa cơ quan công tố với luật sư (hoặc bị cáo tự bào chữa), người bị hại và những người tham gia tố tụng khác có lợi ích liên quan tới vụ án. Kết quả của cuộc tranh tụng phụ thuộc và đòi hỏi vào năng lực của các bên. Ở đây chỉ xét về năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm.

Để có thể xác định được năng lực tranh tụng, các yếu tố cấu thành năng lực tranh tụng của kiểm sát viên, cần tìm hiểu nghĩa của từ "năng lực". Các nhà biên soạn từ điển tiếng Việt cho rằng, “năng lực là phẩm chất có thể làm việc gì đó, năng động, năng khiếu, năng lực, năng nổ”[1]. “Năng lực được hiểu là: (i) Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì, năng lực tư duy của con người; (ii) Khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc”[2]. Năng lực của kiểm sát viên là tiềm lực của kiểm sát viên, cái có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định[3]. Điều kiện thể hiện năng lực của kiểm sát viên là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong quá trình tố tụng hình sự (cả trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử).

Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đội ngũ kiểm sát viên là nguồn nhân lực của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên là một chức danh công chức nhà nước. Nghề nghiệp của kiểm sát viên là loại lao động công vụ - lao động trí óc đặc biệt. Đây là loại lao động trí óc đặc biệt vì thứ nhất, là loại lao động trí óc thực hiện quyền lực nhà nước - quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Nó khác với các loại lao động trí óc khác và các loại lao động quyền lực khác như lao động trí óc trong hoạt động lập pháp và hành pháp. Thứ hai, tính đặc biệt của lao động thực hiện quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp nó khác với các loại lao động sản xuất kinh doanh, lao động chân tay... Lao động thực hiện công vụ của kiểm sát viên cũng như bất cứ một loại lao động ở các ngành nghề khác nhau họ đều phải có năng lực thực hiện công việc của mình. Khả năng của họ phải đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của việc thực hiện công việc được giao phó. Với tư cách là người lao động trí óc đặc biệt và nghề nghiệp của họ là kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên nên trong thực hành quyền công tố đòi hỏi kiểm sát viên phải có năng lực nhất định với những điều kiện cần và đủ: Điều kiện "cần" và "đủ" vốn có của người kiểm sát viên có thể xác định theo các tiêu chuẩn họ phải có để được bổ nhiệm kiểm sát viên. Coi đó là yếu tố cấu thành năng lực của kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố nói chung và trong tranh tụng nói riêng. Các yếu tố đó là:

Thứ nhất, yếu tố về sức khoẻ và năng lực hành vi, kiểm sát viên phải là người Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam), đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân dự. Yêu cầu về độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên (là người thành niên) là tiêu chuẩn căn cứ đánh giá sự trưởng thành về tâm sinh lý. Họ phải có đủ sức khỏe để thực hiện công việc và là người có năng lực hành vi trong thực hiện công việc, thực hiện công việc bằng chính hành vi của mình.

Thứ hai, yếu tố về phẩm chất chính trị. Kiểm sát viên phải có đủ phẩm cách, nhân cách con người. "Phẩm cách là cái làm nên phẩm chất giá trị con người"[4] là kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên phải có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức. Phẩm chất chính trị của kiểm sát viên là sự trung thành với tổ quốc; có lòng yêu nước nồng nàn; có tư tưởng của họ là theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có tinh thần trách nhiệm cao trong bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Coi nhiệm vụ phòng chống tội phạm là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mình.

Thứ ba, là yếu tố về phẩm chất đạo đức, điều kiện và phẩm chất đạo đức của kiểm sát viên đó là đạo đức cách mạng. "Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư". Tính siêng năng trong công việc thể hiện sự chăm chỉ, năng động, nhậy bén, tìm mọi cách để thực hiện nhiệm vụ, không ngại gian khó; tiết kiệm không lãng phí tiền của của Nhà nước, của nhân dân, không tham nhũng, lợi dụng việc công mưu lợi cho cá nhân; làm việc với tinh thần vô tư vì việc công. Kiểm sát viên phải có phẩm chất đạo đức theo giá trị đạo đức xã hội nhân văn và đạo đức nghề nghiệp - đạo đức công vụ, có lương tâm, trách nghiệm và lòng say mê nghề nghiệp.

Thứ tư, là yếu tố về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Kiểm sát phải có điều kiện đủ về trình độ học vấn. Kiểm sát viên phải qua thời gian đào tạo nghề luật trong các nhà trường (Đại học Luật, Đại học Kiểm sát…) và đã được cấp bằng cử nhân luật trở lên. Đây là vốn kiến thức cần có để thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nói chung và trong tranh tụng nói riêng.

Thứ năm, yếu tố về năng lực tư duy. Điều kiện về năng lực tư duy của người kiểm sát viên. Tư duy là đặc trưng của hoạt động con người trong đời sống xã hội. Đặc biệt là tư duy trong lao động trí óc thể hiện năng lực nội sinh của con người; năng lực tư duy được xem xét ở các cấp độ từ tư duy cảm xúc, cảm tính đến tư duy lôgíc (tư duy biện chứng). Công việc càng phức tạp càng đòi hỏi năng lực tư duy biện chứng ngày càng cao. Những người "có tài" thường là những người có tư duy sáng tạo "đột biến" hơn những người bình thường. Hoạt động thực hành quyền công tố của kiểm sát viên là hoạt động áp dụng pháp luật - một dạng đặc biệt của thực hiện pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật; căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Vì vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo. Do đó đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải có năng lực tư duy lôgic. Làm cho ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật phải phản ánh được nhận thức khách quan về sự vật, hiện tượng đã diễn ra ngoài ý chí chủ quan của mình. Năng lực tư duy biện chứng của kiểm sát viên là yếu tố quyết định điều kiện đủ tạo ra khả năng thực hành quyền công tố trong các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật.

- Khả năng phân tích những tình tiết thực tế khách quan của vụ án. Xem xét đánh giá mặt khách quan của tội phạm; hành vi tội phạm có phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả của hành vi trái pháp luật không. Các điều kiện nguyên nhân dẫn đến hành vi tội phạm; xác định động cơ mục đích của người phạm tội và xem xét bản chất pháp lý, các tình tiết của sự việc, các yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết tăng.

- Khả năng việc chọn quy phạm pháp luật tương ứng để giải quyết vụ việc. Để tránh việc chọn quy phạm pháp luật một cách chủ quan, cảm tính cần căn cứ vào kết quả của giai đoạn thứ nhất coi đó là căn cứ, cơ sở để đi tìm quy phạm pháp luật tương ứng. Phân tích làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung của quy phạm pháp luật cần đưa ra áp dụng. Rõ ràng tư duy lôgic biện chứng giúp cho kiểm sát viên tìm được mối liên hệ tất yếu giữa bản chất của vụ án, sự thật khách quan của tội phạm với những quy định của quy phạm pháp luật hình sự về tội danh và mức hình phạt tương ứng bảo đảm áp dụng pháp luật đúng người, đúng tội.

Các văn bản áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố là các quyết định như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định truy tố bị can. Bản cáo trạng, bản luận tội (và các quyết định khác theo thẩm quyền của Viện kiểm sát). Đây là kết quả của quá trình lao động sáng tạo bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng vốn kiến thức về pháp luật, kiến thức xã hội học pháp luật và bằng trách nhiệm chính trị và lương tâm đạo đức nghề nghiệp của kiểm sát viên.

Ngoài 4 điều kiện cơ bản, với tư cách là những yếu tố cấu thành năng lực thực hành quyền công tố cũng như năng lực tranh tụng của kiểm sát viên nêu trên, kiểm sát viên cần phải có những điều kiện khác nữa như: Kinh nghiệm thực tế được tích luỹ của quá trình công tác, hiểu biết xã hội ngày càng sâu rộng và kỹ năng nghiệp vụ của kiểm sát viên. Kỹ năng của kiểm sát viên còn được hiểu là tài năng của sự khôn khéo sự chủ động tích cực, năng động[5] trong hoạt động tranh luận với bên "gỡ tội" của kiểm sát viên. Giúp cho việc bảo vệ tính đúng đắn xác đáng được bàn luận tội của mình trước Tòa án; làm cho bị cáo và luật sư của bị cáo "tâm phục, khẩu phục". Năng lực tranh tụng của kiểm sát viên là những điều kiện "cần" và "đủ" nêu trên để thực hành quyền công tố từ giai đoạn khởi tố điều tra, truy tố và xét xử. Tranh tụng tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm là giai đoạn tập trung (đỉnh điểm) thể hiện cao độ năng lực thực hành quyền công tố của kiểm sát viên cũng như năng lực tranh tụng của kiểm sát viên.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm như sau: "Năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm là khả năng sử dụng tổng hợp các điều kiện vốn có của kiểm sát viên về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trình độ kiến thức hiểu biết pháp luật, kiến thức xã hội và kỹ năng tranh luận với luật sư và với những người tham gia tố tụng trong việc bảo vệ lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng hoặc có kết luận về tội danh hình phạt nhẹ hơn làm cơ sở để Tòa án đưa ra quyết định, bản án hình sự sơ thẩm".

2. Giải pháp nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương hiện nay

Để nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên, trước hết cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên:

- Đào tạo, bỗi dưỡng kiểm sát viên phải được tiến hành thường xuyên nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp theo hướng cập nhật những kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế xã hội; có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN”. Trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước tình hình tội phạm diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, công tác đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên là yêu cầu khách quan, cấp bách. Nhiệm vụ cấp thiết là phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên thực sự có trình độ, năng lực. Quan tâm đào tạo đội ngũ kiểm sát viên trẻ, có bản lĩnh, trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ và năng lực thực tiễn trở thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

- Phải căn cứ vào quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, nếu mặt nào chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định thì có kế hoạch tiếp tục đưa đi đào tạo, bồi dưỡng về mặt đó; lựa chọn những kiểm sát viên có triển vọng và khả năng phát triển để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, đào tạo sau đại học. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác đào tạo, bỗi dưỡng đội ngũ kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương, tạo cơ chế hợp lý cho các đơn vị chủ động tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện triệt để việc phân cấp đào tạo, bồi dưỡng cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, cần quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng theo hướng: Xây dựng trường Đại học Kiểm sát trở thành cơ sở đào tạo trung tâm của ngành, có chức năng đào tạo bậc đại học, sau đại học luật chuyên ngành kiểm sát bên cạnh các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác. Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các cơ sở bồi dưỡng theo khu vực về nghiệp vụ để thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, thuận tiện cho học viên và sử dụng được những cán bộ có trình độ, năng lực, nhiều kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân các địa phương. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh căn cứ vào nhu cầu thực tiễn cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kiểm sát viên, đảm bảo cho công tác này có chất lượng và có định hướng phát triển lâu dài.

- Phải sử dụng hợp lý nhiều hình thức khác nhau và kết hợp giữa các hình thức với nhau trong đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên. Những kiểm sát viên trẻ, có triển vọng, trong quy hoạch lâu dài cần đưa đi đào tạo chính quy tập trung; đối với kiểm sát viên trên 40 tuổi chủ yếu áp dụng các hình thức bồi dưỡng với thời gian ngắn. Trong thời gian tới, công tác đào tạo bồi dưỡng cần được tổ chức nghiên cứu thực hiện một cách khoa học hơn, cụ thể là:

+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn các ngạch kiểm sát viên, kiểm tra viên và các ngạch công chức, viên chức khác của Ngành Kiểm sát nhân dân.

+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

+ Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm áp dụng theo từng ngạch công chức, viên chức. Mỗi công chức, viên chức trong một năm phải được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành ít nhất là 5 ngày học, mỗi ngày học 8 tiết (Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ).

Đồng thời cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng những kiểm tra viên, chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân tạo nguồn bổ nhiệm kiểm sát viên, cần được đào tạo trong một thời gian nhất định (từ 9 - 12 tháng) tại các cơ sở đào tạo của ngành. Chương trình đào tạo nguồn kiểm sát viên một mặt tập trung truyền đạt cho học viên nắm vững chức năng, nhiệm vụ của ngành, vị trí các chức danh tư pháp trong xã hội, những yêu cầu đối với đạo đức nghề nghiệp của các chức danh tư pháp nói chung và của chức danh kiểm sát viên nói riêng. Đặc biệt là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, trong đó chú trọng đến các nội dung của pháp luật về hình sự, tố tụng dân sự, thi hành án... Chỉ khi hoàn thành chương trình đào tạo này thì mới có đủ điều kiện để tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên.

Việc bồi dưỡng kiểm sát viên cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn với nội dung chủ yếu nhằm bổ sung những kiến thức mới, chuyên sâu, những kỹ năng nghiệp vụ về các lĩnh vực hình sự, dân sự… như kỹ năng tranh tụng tai phiên tòa, kỹ năng viết cáo trạng và luận tội,…về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc phức tạp của các đơn vị, địa phương trong toàn quốc; những vấn đề có vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Từng bước khắc phục tình trạng giải quyết công việc theo kinh nghiệm, thói quen. Giảng viên là giáo viên của Đại học Kiểm sát, các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực pháp luật, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo một số Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố nơi có nhiều kinh nghiệm giải quyết các vụ việc. Ngoài những lớp đào tạo, bồi dưỡng như trên, cần có những hình thức bồi dưỡng không chính thức khác như: Tổ chức các cuộc thi nâng cao chất lượng nghiệp vụ, thi viết cáo trạng, luận tội, thi tuyển chọn kiểm sát viên giỏi, kiểm sát viên tiêu biểu, tổ chức thi kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa... cho toàn thể cán bộ, kiểm sát viên; hội thảo khoa học, giao ban giữa các Viện kiểm sát địa phương; hướng dẫn kịp thời khi có khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ, về các quy định của pháp luật, về xử lý các tình huống đa dạng trong thực tiễn tại hội nghị tổng kết công tác Ngành Kiểm sát hàng năm, thông qua kết luận kiểm tra công tác kiểm sát tại các địa phương, giải đáp pháp luật trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành… để chỉ ra những thiếu sót về mặt nghiệp vụ cần được khắc phục, giúp cho kiểm sát viên tự học tập, nghiên cứu, vận dụng tốt hơn trong quá trình công tác.

Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, cần động viên, khuyến khích cán bộ, kiểm sát viên theo học các lớp cao học luật, cao cấp lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ… để không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, trong thời gian tới, phải có quy định rõ hơn về chế độ học tập bắt buộc đối với kiểm sát viên, xác định học tập là để nâng cao trình độ nhận thức nhằm thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ. Khuyến khích việc nâng cao khả năng tự rèn luyện, tự học tập, bồi dưỡng kiến thức của kiểm sát viên là rất cần thiết để đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn; phải làm cho kiểm sát viên nhận thức rõ để thường xuyên học hỏi, tiếp thu những kiến thức pháp luật mới vận dụng vào xử lý công việc. Vì vậy, cùng với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, cần thực hiện việc điều động, luân chuyển kiểm sát viên để tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ năng lực. Đồng thời, có chương trình tổ chức kiểm tra, sát hạch trình độ của kiểm sát viên cả về nhận thức chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Kiên quyết miễn nhiệm hoặc không tái bổ nhiệm và điều động sang làm công tác khác đối với những kiểm sát viên không vượt qua được các kỳ kiểm tra, sát hạch, những kiểm sát viên do năng lực kém có vi phạm pháp luật trong khi thực hiện công tác nghiệp vụ. Có như vậy, kiểm sát viên mới tự giác học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra.

Lê Thị Ngọc Dung, Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1172.

[2] Như trên, tr.1172.

[3] Như trên, tr.1172.

[4] Như trên, tr.331.

[5] Như trên, tr.1172.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.

Theo dõi chúng tôi trên: