Thứ hai 15/06/2026 20:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự

Hiện nay, tranh tụng được xác định là một nguyên tắc của tố tụng hình sự. Xét về mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm, "tranh tụng" tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự có thể được coi là giai đoạn quan trọng nhất, bảo đảm tốt dân chủ, công khai, minh bạch để tìm ra sự thật của vụ án. Đó là cơ sở vững chắc để xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để bỏ lọt tội phạm; đồng thời không làm oan người vô tội, không làm sai lệch vụ án; ràng buộc Tòa án phải "thiết diện vô tư".

1. Quan niệm về năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự

Xét về phương diện dân chủ trong tố tụng hình sự và quyền con người trong xét xử các vụ án hình sự, bị cáo có quyền bình đẳng của người tham gia tố tụng đối với cơ quan, người tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội được coi là người không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, nhân danh Nhà nước có quyền tuyên án đối với bị cáo. Song trước khi tuyên án phải có tranh luận dân chủ, bình đẳng trước pháp luật giữa cơ quan công tố với luật sư (hoặc bị cáo tự bào chữa), người bị hại và những người tham gia tố tụng khác có lợi ích liên quan tới vụ án. Kết quả của cuộc tranh tụng phụ thuộc và đòi hỏi vào năng lực của các bên. Ở đây chỉ xét về năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm.

Để có thể xác định được năng lực tranh tụng, các yếu tố cấu thành năng lực tranh tụng của kiểm sát viên, cần tìm hiểu nghĩa của từ "năng lực". Các nhà biên soạn từ điển tiếng Việt cho rằng, “năng lực là phẩm chất có thể làm việc gì đó, năng động, năng khiếu, năng lực, năng nổ”[1]. “Năng lực được hiểu là: (i) Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì, năng lực tư duy của con người; (ii) Khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc”[2]. Năng lực của kiểm sát viên là tiềm lực của kiểm sát viên, cái có thể xuất hiện trong những điều kiện nhất định[3]. Điều kiện thể hiện năng lực của kiểm sát viên là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố trong quá trình tố tụng hình sự (cả trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử).

Viện kiểm sát nhân dân có hai chức năng: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Đội ngũ kiểm sát viên là nguồn nhân lực của Viện kiểm sát. Kiểm sát viên là một chức danh công chức nhà nước. Nghề nghiệp của kiểm sát viên là loại lao động công vụ - lao động trí óc đặc biệt. Đây là loại lao động trí óc đặc biệt vì thứ nhất, là loại lao động trí óc thực hiện quyền lực nhà nước - quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Nó khác với các loại lao động trí óc khác và các loại lao động quyền lực khác như lao động trí óc trong hoạt động lập pháp và hành pháp. Thứ hai, tính đặc biệt của lao động thực hiện quyền công tố và kiểm soát hoạt động tư pháp nó khác với các loại lao động sản xuất kinh doanh, lao động chân tay... Lao động thực hiện công vụ của kiểm sát viên cũng như bất cứ một loại lao động ở các ngành nghề khác nhau họ đều phải có năng lực thực hiện công việc của mình. Khả năng của họ phải đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của việc thực hiện công việc được giao phó. Với tư cách là người lao động trí óc đặc biệt và nghề nghiệp của họ là kiểm sát viên thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của kiểm sát viên nên trong thực hành quyền công tố đòi hỏi kiểm sát viên phải có năng lực nhất định với những điều kiện cần và đủ: Điều kiện "cần" và "đủ" vốn có của người kiểm sát viên có thể xác định theo các tiêu chuẩn họ phải có để được bổ nhiệm kiểm sát viên. Coi đó là yếu tố cấu thành năng lực của kiểm sát viên trong thực hành quyền công tố nói chung và trong tranh tụng nói riêng. Các yếu tố đó là:

Thứ nhất, yếu tố về sức khoẻ và năng lực hành vi, kiểm sát viên phải là người Việt Nam (có quốc tịch Việt Nam), đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân dự. Yêu cầu về độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên (là người thành niên) là tiêu chuẩn căn cứ đánh giá sự trưởng thành về tâm sinh lý. Họ phải có đủ sức khỏe để thực hiện công việc và là người có năng lực hành vi trong thực hiện công việc, thực hiện công việc bằng chính hành vi của mình.

Thứ hai, yếu tố về phẩm chất chính trị. Kiểm sát viên phải có đủ phẩm cách, nhân cách con người. "Phẩm cách là cái làm nên phẩm chất giá trị con người"[4] là kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân, kiểm sát viên phải có phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức. Phẩm chất chính trị của kiểm sát viên là sự trung thành với tổ quốc; có lòng yêu nước nồng nàn; có tư tưởng của họ là theo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có tinh thần trách nhiệm cao trong bảo vệ Hiến pháp và pháp luật. Coi nhiệm vụ phòng chống tội phạm là nhiệm vụ chính trị hàng đầu của mình.

Thứ ba, là yếu tố về phẩm chất đạo đức, điều kiện và phẩm chất đạo đức của kiểm sát viên đó là đạo đức cách mạng. "Cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư". Tính siêng năng trong công việc thể hiện sự chăm chỉ, năng động, nhậy bén, tìm mọi cách để thực hiện nhiệm vụ, không ngại gian khó; tiết kiệm không lãng phí tiền của của Nhà nước, của nhân dân, không tham nhũng, lợi dụng việc công mưu lợi cho cá nhân; làm việc với tinh thần vô tư vì việc công. Kiểm sát viên phải có phẩm chất đạo đức theo giá trị đạo đức xã hội nhân văn và đạo đức nghề nghiệp - đạo đức công vụ, có lương tâm, trách nghiệm và lòng say mê nghề nghiệp.

Thứ tư, là yếu tố về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Kiểm sát phải có điều kiện đủ về trình độ học vấn. Kiểm sát viên phải qua thời gian đào tạo nghề luật trong các nhà trường (Đại học Luật, Đại học Kiểm sát…) và đã được cấp bằng cử nhân luật trở lên. Đây là vốn kiến thức cần có để thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nói chung và trong tranh tụng nói riêng.

Thứ năm, yếu tố về năng lực tư duy. Điều kiện về năng lực tư duy của người kiểm sát viên. Tư duy là đặc trưng của hoạt động con người trong đời sống xã hội. Đặc biệt là tư duy trong lao động trí óc thể hiện năng lực nội sinh của con người; năng lực tư duy được xem xét ở các cấp độ từ tư duy cảm xúc, cảm tính đến tư duy lôgíc (tư duy biện chứng). Công việc càng phức tạp càng đòi hỏi năng lực tư duy biện chứng ngày càng cao. Những người "có tài" thường là những người có tư duy sáng tạo "đột biến" hơn những người bình thường. Hoạt động thực hành quyền công tố của kiểm sát viên là hoạt động áp dụng pháp luật - một dạng đặc biệt của thực hiện pháp luật. Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật; căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật cụ thể. Vì vậy, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo. Do đó đòi hỏi người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải có năng lực tư duy lôgic. Làm cho ý chí chủ quan của người áp dụng pháp luật phải phản ánh được nhận thức khách quan về sự vật, hiện tượng đã diễn ra ngoài ý chí chủ quan của mình. Năng lực tư duy biện chứng của kiểm sát viên là yếu tố quyết định điều kiện đủ tạo ra khả năng thực hành quyền công tố trong các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật.

- Khả năng phân tích những tình tiết thực tế khách quan của vụ án. Xem xét đánh giá mặt khách quan của tội phạm; hành vi tội phạm có phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến hậu quả của hành vi trái pháp luật không. Các điều kiện nguyên nhân dẫn đến hành vi tội phạm; xác định động cơ mục đích của người phạm tội và xem xét bản chất pháp lý, các tình tiết của sự việc, các yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết tăng.

- Khả năng việc chọn quy phạm pháp luật tương ứng để giải quyết vụ việc. Để tránh việc chọn quy phạm pháp luật một cách chủ quan, cảm tính cần căn cứ vào kết quả của giai đoạn thứ nhất coi đó là căn cứ, cơ sở để đi tìm quy phạm pháp luật tương ứng. Phân tích làm sáng tỏ tư tưởng, nội dung của quy phạm pháp luật cần đưa ra áp dụng. Rõ ràng tư duy lôgic biện chứng giúp cho kiểm sát viên tìm được mối liên hệ tất yếu giữa bản chất của vụ án, sự thật khách quan của tội phạm với những quy định của quy phạm pháp luật hình sự về tội danh và mức hình phạt tương ứng bảo đảm áp dụng pháp luật đúng người, đúng tội.

Các văn bản áp dụng pháp luật của Viện kiểm sát trong thực hành quyền công tố là các quyết định như: Khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định truy tố bị can. Bản cáo trạng, bản luận tội (và các quyết định khác theo thẩm quyền của Viện kiểm sát). Đây là kết quả của quá trình lao động sáng tạo bằng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng vốn kiến thức về pháp luật, kiến thức xã hội học pháp luật và bằng trách nhiệm chính trị và lương tâm đạo đức nghề nghiệp của kiểm sát viên.

Ngoài 4 điều kiện cơ bản, với tư cách là những yếu tố cấu thành năng lực thực hành quyền công tố cũng như năng lực tranh tụng của kiểm sát viên nêu trên, kiểm sát viên cần phải có những điều kiện khác nữa như: Kinh nghiệm thực tế được tích luỹ của quá trình công tác, hiểu biết xã hội ngày càng sâu rộng và kỹ năng nghiệp vụ của kiểm sát viên. Kỹ năng của kiểm sát viên còn được hiểu là tài năng của sự khôn khéo sự chủ động tích cực, năng động[5] trong hoạt động tranh luận với bên "gỡ tội" của kiểm sát viên. Giúp cho việc bảo vệ tính đúng đắn xác đáng được bàn luận tội của mình trước Tòa án; làm cho bị cáo và luật sư của bị cáo "tâm phục, khẩu phục". Năng lực tranh tụng của kiểm sát viên là những điều kiện "cần" và "đủ" nêu trên để thực hành quyền công tố từ giai đoạn khởi tố điều tra, truy tố và xét xử. Tranh tụng tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm là giai đoạn tập trung (đỉnh điểm) thể hiện cao độ năng lực thực hành quyền công tố của kiểm sát viên cũng như năng lực tranh tụng của kiểm sát viên.

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm như sau: "Năng lực tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử án hình sự sơ thẩm là khả năng sử dụng tổng hợp các điều kiện vốn có của kiểm sát viên về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, trình độ kiến thức hiểu biết pháp luật, kiến thức xã hội và kỹ năng tranh luận với luật sư và với những người tham gia tố tụng trong việc bảo vệ lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng hoặc có kết luận về tội danh hình phạt nhẹ hơn làm cơ sở để Tòa án đưa ra quyết định, bản án hình sự sơ thẩm".

2. Giải pháp nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương hiện nay

Để nâng cao năng lực tranh tụng của kiểm sát viên, trước hết cần tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên:

- Đào tạo, bỗi dưỡng kiểm sát viên phải được tiến hành thường xuyên nhằm mục tiêu xây dựng đội ngũ kiểm sát viên trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN. Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp theo hướng cập nhật những kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế xã hội; có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế XHCN”. Trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước tình hình tội phạm diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, công tác đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên là yêu cầu khách quan, cấp bách. Nhiệm vụ cấp thiết là phải xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên thực sự có trình độ, năng lực. Quan tâm đào tạo đội ngũ kiểm sát viên trẻ, có bản lĩnh, trình độ, có kỹ năng nghiệp vụ và năng lực thực tiễn trở thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành.

- Phải căn cứ vào quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng, nếu mặt nào chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định thì có kế hoạch tiếp tục đưa đi đào tạo, bồi dưỡng về mặt đó; lựa chọn những kiểm sát viên có triển vọng và khả năng phát triển để đưa đi đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu, đào tạo sau đại học. Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác đào tạo, bỗi dưỡng đội ngũ kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương, tạo cơ chế hợp lý cho các đơn vị chủ động tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng. Thực hiện triệt để việc phân cấp đào tạo, bồi dưỡng cho Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh. Đồng thời, cần quan tâm phát triển và nâng cao chất lượng hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng theo hướng: Xây dựng trường Đại học Kiểm sát trở thành cơ sở đào tạo trung tâm của ngành, có chức năng đào tạo bậc đại học, sau đại học luật chuyên ngành kiểm sát bên cạnh các hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác. Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các cơ sở bồi dưỡng theo khu vực về nghiệp vụ để thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, thuận tiện cho học viên và sử dụng được những cán bộ có trình độ, năng lực, nhiều kinh nghiệm của Viện kiểm sát nhân dân các địa phương. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh căn cứ vào nhu cầu thực tiễn cần chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kiểm sát viên, đảm bảo cho công tác này có chất lượng và có định hướng phát triển lâu dài.

- Phải sử dụng hợp lý nhiều hình thức khác nhau và kết hợp giữa các hình thức với nhau trong đào tạo, bồi dưỡng kiểm sát viên. Những kiểm sát viên trẻ, có triển vọng, trong quy hoạch lâu dài cần đưa đi đào tạo chính quy tập trung; đối với kiểm sát viên trên 40 tuổi chủ yếu áp dụng các hình thức bồi dưỡng với thời gian ngắn. Trong thời gian tới, công tác đào tạo bồi dưỡng cần được tổ chức nghiên cứu thực hiện một cách khoa học hơn, cụ thể là:

+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn các ngạch kiểm sát viên, kiểm tra viên và các ngạch công chức, viên chức khác của Ngành Kiểm sát nhân dân.

+ Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

+ Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm áp dụng theo từng ngạch công chức, viên chức. Mỗi công chức, viên chức trong một năm phải được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành ít nhất là 5 ngày học, mỗi ngày học 8 tiết (Theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ).

Đồng thời cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng những kiểm tra viên, chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân tạo nguồn bổ nhiệm kiểm sát viên, cần được đào tạo trong một thời gian nhất định (từ 9 - 12 tháng) tại các cơ sở đào tạo của ngành. Chương trình đào tạo nguồn kiểm sát viên một mặt tập trung truyền đạt cho học viên nắm vững chức năng, nhiệm vụ của ngành, vị trí các chức danh tư pháp trong xã hội, những yêu cầu đối với đạo đức nghề nghiệp của các chức danh tư pháp nói chung và của chức danh kiểm sát viên nói riêng. Đặc biệt là đào tạo kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ, trong đó chú trọng đến các nội dung của pháp luật về hình sự, tố tụng dân sự, thi hành án... Chỉ khi hoàn thành chương trình đào tạo này thì mới có đủ điều kiện để tuyển chọn, bổ nhiệm kiểm sát viên.

Việc bồi dưỡng kiểm sát viên cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn với nội dung chủ yếu nhằm bổ sung những kiến thức mới, chuyên sâu, những kỹ năng nghiệp vụ về các lĩnh vực hình sự, dân sự… như kỹ năng tranh tụng tai phiên tòa, kỹ năng viết cáo trạng và luận tội,…về công tác quản lý, chỉ đạo điều hành, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc phức tạp của các đơn vị, địa phương trong toàn quốc; những vấn đề có vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Từng bước khắc phục tình trạng giải quyết công việc theo kinh nghiệm, thói quen. Giảng viên là giáo viên của Đại học Kiểm sát, các chuyên gia đầu ngành về các lĩnh vực pháp luật, lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tối cao, lãnh đạo một số Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố nơi có nhiều kinh nghiệm giải quyết các vụ việc. Ngoài những lớp đào tạo, bồi dưỡng như trên, cần có những hình thức bồi dưỡng không chính thức khác như: Tổ chức các cuộc thi nâng cao chất lượng nghiệp vụ, thi viết cáo trạng, luận tội, thi tuyển chọn kiểm sát viên giỏi, kiểm sát viên tiêu biểu, tổ chức thi kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa... cho toàn thể cán bộ, kiểm sát viên; hội thảo khoa học, giao ban giữa các Viện kiểm sát địa phương; hướng dẫn kịp thời khi có khó khăn, vướng mắc về nghiệp vụ, về các quy định của pháp luật, về xử lý các tình huống đa dạng trong thực tiễn tại hội nghị tổng kết công tác Ngành Kiểm sát hàng năm, thông qua kết luận kiểm tra công tác kiểm sát tại các địa phương, giải đáp pháp luật trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành… để chỉ ra những thiếu sót về mặt nghiệp vụ cần được khắc phục, giúp cho kiểm sát viên tự học tập, nghiên cứu, vận dụng tốt hơn trong quá trình công tác.

Bên cạnh việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ kiểm sát, cần động viên, khuyến khích cán bộ, kiểm sát viên theo học các lớp cao học luật, cao cấp lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ… để không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đặc biệt, trong thời gian tới, phải có quy định rõ hơn về chế độ học tập bắt buộc đối với kiểm sát viên, xác định học tập là để nâng cao trình độ nhận thức nhằm thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ. Khuyến khích việc nâng cao khả năng tự rèn luyện, tự học tập, bồi dưỡng kiến thức của kiểm sát viên là rất cần thiết để đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn; phải làm cho kiểm sát viên nhận thức rõ để thường xuyên học hỏi, tiếp thu những kiến thức pháp luật mới vận dụng vào xử lý công việc. Vì vậy, cùng với việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, cần thực hiện việc điều động, luân chuyển kiểm sát viên để tích lũy kinh nghiệm, nâng cao trình độ năng lực. Đồng thời, có chương trình tổ chức kiểm tra, sát hạch trình độ của kiểm sát viên cả về nhận thức chính trị và chuyên môn nghiệp vụ. Kiên quyết miễn nhiệm hoặc không tái bổ nhiệm và điều động sang làm công tác khác đối với những kiểm sát viên không vượt qua được các kỳ kiểm tra, sát hạch, những kiểm sát viên do năng lực kém có vi phạm pháp luật trong khi thực hiện công tác nghiệp vụ. Có như vậy, kiểm sát viên mới tự giác học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ và năng lực công tác đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra.

Lê Thị Ngọc Dung, Viện kiểm sát nhân dân tối cao


[1] Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.1172.

[2] Như trên, tr.1172.

[3] Như trên, tr.1172.

[4] Như trên, tr.331.

[5] Như trên, tr.1172.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: