Thứ bảy 13/12/2025 23:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nâng cao vai trò của Thừa phát lại trong hoạt động thi hành án dân sự

Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích một số quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của TPL trong THADS và một số bất cập từ thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của TPL đối với hoạt động THADS.

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: “... Từng bước thực hiện việc xã hội hóa và quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án”. Chế định Thừa phát lại (TPL) ra đời nhằm hiện thực hóa chủ trương xã hội hóa một số hoạt động tư pháp. Thông qua TPL, người dân có thêm sự lựa chọn khi yêu cầu thi hành bản án, quyết định của Tòa án, góp phần bảo đảm tốt hơn nữa các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, hoạt động của TPL chủ yếu vẫn là lập vi bằng, việc tham gia vào các hoạt động liên quan đến thi hành án dân sự (THADS) còn hạn chế. Hoạt động tổ chức thi hành án còn chưa tương xứng với tiềm năng của mô hình và năng lực của các Văn phòng TPL, cũng như chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra cho TPL là xã hội hóa THADS.

Trong phạm vi bài viết, tác giả đi sâu phân tích một số quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của TPL trong THADS và một số bất cập từ thực tiễn, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao vai trò của TPL đối với hoạt động THADS.

1. Vai trò của Thừa phát lại trong hoạt động thi hành án dân sự

Theo khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TPL (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP), TPL là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện THADS, tổ chức THADS theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan. Theo Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì công việc TPL được làm trong THADS gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan. TPL không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án.

TPL có vai trò quan trọng trong hoạt động THADS, cụ thể như: Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của TPL giúp hỗ trợ cho người dân khi cần tìm kiếm thông tin, giúp người dân được xem xét miễn phí thi hành án[1]. Việc tống đạt và xác minh của TPL đồng thời cũng giúp cơ quan THADS thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức thi hành án. Việc trực tiếp tổ chức thi hành án của TPL tạo điều kiện để người dân có thêm sự lựa chọn phù hợp với mong muốn, niềm tin của mình khi yêu cầu THADS; góp phần giảm tải cho cơ quan THADS, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động này[2]. Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động chính của các Văn phòng TPL trong THADS vẫn tập trung vào công việc tống đạt còn các công việc khác như xác minh điều kiện thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành án đạt kết quả còn thấp.

2. Một số khó khăn trong hoạt động thi hành án dân sự của Thừa phát lại trong thực tiễn

Một là, về tống đạt văn bản, quyết định về THADS:

Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: “Tống đạt là việc thông báo, giao nhận giấy tờ, hồ sơ, tài liệu do TPL thực hiện theo quy định của Nghị định này và pháp luật có liên quan”. Khoản 1 Điều 32 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định, TPL thực hiện tống đạt các giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS. Giấy tờ, hồ sơ, tài liệu thỏa thuận tống đạt bao gồm: Quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập, thông báo của cơ quan THADS. Trong trường hợp cần thiết, TPL có thể tống đạt các loại giấy tờ, hồ sơ, tài liệu khác theo đề nghị của cơ quan THADS.

Số lượng giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS cần phải tống đạt là rất lớn (quyết định thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án, quyết định ủy thác, quyết định đình chỉ thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập...) và còn cả các loại văn bản khác phát sinh trong quá trình thi hành án. Trong quá trình tổ chức thi hành án, có rất nhiều loại văn bản cần thông báo cho đương sự (người được thi hành án, người phải thi hành án) và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy chưa có thống kê cụ thể về số lượng các loại văn bản mà chấp hành viên cần thông báo nhưng thực tiễn thi hành án cho thấy, với một hồ sơ THADS thì chấp hành viên, cán bộ thi hành án phải tống đạt ít nhất 02 loại văn bản, đó là quyết định thi hành án và giấy triệu tập. Trong trường hợp đương sự tự nguyện thi hành án và trong trường hợp chỉ có hai đương sự (01 người phải thi hành án, 01 người được thi hành án) thì ít nhất cũng phải tống đạt 04 văn bản. Công việc này sẽ tăng lên khi có nhiều đương sự, người liên quan và mức độ phức tạp của vụ việc thi hành án. Cho tới nay, chưa có thống kê chính thức về việc tống đạt của một chấp hành viên là bao nhiêu văn bản trong một năm. Tuy nhiên, theo số liệu bình quân của cả nước năm 2020[3] thì bình quân ở mức thấp nhất việc tống đạt của một chấp hành viên là khoảng gần 900 văn bản/năm. Với số lượng tống đạt là hơn hai văn bản/ngày/chấp hành viên mà chưa trừ ngày lễ, thứ bảy và chủ nhật thì việc tống đạt một lượng lớn văn bản dẫn đến sự quá tải trong công việc của chấp hành viên, làm giảm hiệu quả thi hành án; mặt khác, cũng làm tiêu tốn khá nhiều thời gian và ngân sách nhà nước cấp cho hoạt động THADS, trong khi đó, nếu TPL thực hiện việc tống đạt các văn bản về thi hành án sẽ giúp giảm tải rất nhiều công việc cho chấp hành viên. Tuy nhiên, việc thông báo qua TPL sẽ phát sinh chi phí khá lớn. Theo Điều 62 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, chi phí tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu của cơ quan THADS do cơ quan THADS thỏa thuận với Văn phòng TPL trên cơ sở khung mức chi phí. Khung mức chi phí tống đạt được quy định như sau: Tối thiểu là 65.000 đồng/việc và tối đa là 130.000 đồng/việc; trường hợp tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu ngoài địa bàn cấp tỉnh hoặc ở vùng đảo, quần đảo ngoài địa bàn cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở thì phải thỏa thuận về chi phí tống đạt.

Trong thực tế, cơ quan THADS thường rất ít khi thực hiện việc tống đạt thông qua TPL. Theo số liệu của Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp, từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/7/2020, các Văn phòng TPL đã tống đạt được 587.835 văn bản (trong đó, tống đạt văn bản của Tòa án là 582.876 và của cơ quan THADS là 4.959 văn bản)[4]. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những nguyên nhân chính là do nguồn kinh phí tống đạt được cấp để chi trả cho TPL còn hạn chế, nên việc tống đạt các văn bản về THADS thông qua TPL còn nhiều khó khăn.

Hai là, về xác minh điều kiện thi hành án của TPL:

Theo quy định tại Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận với Văn phòng TPL về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án kể cả trong trường hợp vụ việc đó đang do cơ quan THADS trực tiếp tổ chức thi hành. TPL có quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của các cơ quan THADS trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, TPL có quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở.

Khoản 1 Điều 45 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng dịch vụ, Trưởng Văn phòng TPL phải ra quyết định xác minh điều kiện thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Quyết định xác minh phải được gửi cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở và cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật THADS. Trước đây, Điều 31 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của TPL thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ) quy định: “Các quy định khác của pháp luật về thi hành án dân sự cũng được áp dụng trong việc xác minh điều kiện thi hành án”, không có quy định về việc gửi quyết định xác minh cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở và cơ quan THADS có thẩm quyền thi hành án theo quy định của pháp luật THADS. Đa số ý kiến cho rằng, quy định Văn phòng TPL phải gửi quyết định xác minh cho Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và cơ quan THADS phần nào chưa phù hợp với mục đích xã hội hóa THADS, tạo sự bình đẳng giữa Văn phòng TPL với các cơ quan THADS; mặt khác, điều này cũng dẫn đến mất nhiều thời gian, rườm rà về thủ tục hành chính.

Điều 4 Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/01/2014 của Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của TPL tại các tổ chức tín dụng (Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN) quy định: Người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng có trách nhiệm cung cấp thông tin thông qua biên bản xác minh (trong trường hợp xác minh trực tiếp theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Thông tư liên tịch này) hoặc bằng văn bản cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu cung cấp thông tin. Đồng thời, Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN cũng có quy định về trách nhiệm bảo mật thông tin đối với TPL, Văn phòng TPL, người yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án và các cơ quan, tổ chức có liên quan nhưng lại không đề cập đến trách nhiệm của các tổ chức tín dụng trong việc tiết lộ hoạt động xác minh điều kiện thi hành án của TPL. Điều này cũng phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả xác minh điều kiện thi hành án của TPL.

Theo số liệu thống kê năm 2016[5], các Văn phòng TPL trên cả nước xác minh được 36 vụ, đạt doanh thu 136.000.000 đồng; năm 2017 xác minh được 21 vụ, đạt doanh thu 83.000.000 đồng; năm 2018 xác minh được 12 vụ, đạt doanh thu 22.000.000 đồng; năm 2019 xác minh được 07 vụ, đạt doanh thu 15.000.000 đồng[6]. Còn theo số liệu thống kê của Cục Bổ trợ Tư pháp, Bộ Tư pháp thì từ ngày 01/10/2019 đến ngày 31/7/2020[7], các Văn phòng TPL đã xác minh điều kiện thi hành án 05 việc.

Theo phản ánh của nhiều Văn phòng TPL tại Hà Nội cho thấy[8], bên cạnh các cơ quan nhận thức đầy đủ và phối hợp tích cực với TPL thì còn nhiều cơ quan, tổ chức tín dụng gây khó dễ, thậm chí từ chối yêu cầu của TPL. Tâm lý e ngại TPL không phải là cơ quan nhà nước vẫn còn khá phổ biến. Một số ngân hàng cũng chưa tích cực, hoặc vận dụng quy định bảo mật thông tin về tài khoản của khách hàng để từ chối yêu cầu xác minh về tài khoản, một số trường hợp kéo dài thời gian để chủ tài khoản rút tiền ra khỏi tài khoản né tránh việc thi hành án. Vẫn còn tình trạng một số Ủy ban nhân dân, Công an cấp xã chưa hiểu biết nhiều về TPL, cá biệt có nơi từ chối, không cung cấp yêu cầu xác minh của TPL, hoặc yêu cầu phải gửi lại tài liệu. Nhiều vụ, cán bộ phải đi lại nhiều lần gây tốn kém thời gian, công sức.

Một số quy định pháp luật về TPL còn chưa thống nhất, cụ thể như: Tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án có quyền thỏa thuận với Văn phòng TPL về việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; tại khoản 1 Điều 48 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: Người được thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền sử dụng kết quả xác minh điều kiện thi hành án của TPL để yêu cầu thi hành án hoặc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Như vậy, người phải thi hành án không thuộc đối tượng được sử dụng kết quả xác minh thi hành án của Văn phòng TPL, do đó, cần có sự sửa đổi, bổ sung quy định này sao cho phù hợp.

Ngoài ra, theo quy định của pháp luật hiện hành thì TPL chỉ được xác minh điều kiện thi hành án khi có bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người dân có nhu cầu xác minh điều kiện thi hành án để yêu cầu áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhưng không thuộc thẩm quyền của TPL dẫn đến không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Ba là, về chức năng tổ chức thi hành bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của TPL:

Theo quy định tại Điều 51 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, TPL được quyền tổ chức thi hành án theo yêu cầu của đương sự đối với các bản án, quyết định sau đây: (i) Bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; (ii) Bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện; bản án, quyết định phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định sơ thẩm, chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở; (iii) Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Theo đó, TPL chỉ có thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với bản án, quyết định của Tòa án, không có thẩm quyền tổ chức thi hành án đối với phán quyết, quyết định của trọng tài thương mại và quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. Cũng theo quy định tại Điều 51 nêu trên, TPL không tổ chức thi hành phần bản án, quyết định thuộc diện thủ trưởng cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự hiện hành. Cụ thể, gồm phần bản án, quyết định sau: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước (theo khoản 4 Điều 1 Nghị định số 33/2020/NĐ-CP ngày 17/3/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì các khoản thu khác cho Nhà nước thuộc diện cơ quan THADS chủ động ra quyết định thi hành án bao gồm: Khoản truy thu thuế; khoản viện trợ cho Nhà nước; khoản bồi thường cho Nhà nước, cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ trong các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tham nhũng; khoản thu nộp trực tiếp vào ngân sách nhà nước); thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Tuy nhiên, một bất cập trong thực tiễn là trong các bản án, quyết định của Tòa án chưa ghi nhận việc Văn phòng TPL có chức năng tổ chức thi hành án để đương sự biết mà yêu cầu Văn phòng TPL tổ chức thi hành án cho mình. Điều này cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện trong thời gian tới.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP thì cùng một nội dung yêu cầu, cùng một thời điểm, người yêu cầu chỉ có quyền làm đơn yêu cầu một Văn phòng TPL hoặc một cơ quan THADS tổ chức thi hành án. Việc THADS của Văn phòng TPL được tiến hành sau khi người yêu cầu thi hành án và Trưởng Văn phòng TPL đạt được thỏa thuận về việc thi hành án. Trưởng Văn phòng TPL căn cứ vào nội dung hợp đồng dịch vụ và thẩm quyền thi hành án quy định tại Điều 35 Luật Thi hành án dân sự hiện hành có văn bản đề nghị Chi cục trưởng Chi cục THADS hoặc Cục trưởng Cục THADS nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở ra quyết định thi hành án theo thẩm quyền. Trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan THADS, Văn phòng TPL đã đề nghị phải gửi quyết định thi hành án đó cho người được thi hành án, người phải thi hành án, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp huyện) hoặc Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh (nếu vụ việc thuộc thẩm quyền thi hành án của cơ quan thi hành án cấp tỉnh) nơi Văn phòng TPL đặt trụ sở. Theo đó, TPL không có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định: Khi tổ chức thi hành án, TPL có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: (i) Thực hiện kịp thời, đúng nội dung quyết định thi hành án được thủ trưởng cơ quan THADS ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng TPL; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; (ii) Mời đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án; (iii) Kiến nghị thủ trưởng cơ quan THADS xem xét sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án đã ban hành theo đề nghị của Trưởng Văn phòng TPL; (iv) Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án.

Khoản 2 Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP cũng quy định khi tổ chức thi hành án, TPL không được thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: (i) Áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 66, Điều 71, Điều 72 Luật Thi hành án dân sự hiện hành; (ii) Sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định tại khoản 9 Điều 20 Luật Thi hành án dân sự hiện hành; (iii) Xử phạt vi phạm hành chính; (iv) Yêu cầu Tòa án xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án theo quy định tại Điều 74 Luật Thi hành án dân sự hiện hành; (v) Yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự hiện hành; (vi) Các quyền yêu cầu Tòa án xác định người có quyền sở hữu, sử dụng tài sản, giấy tờ tạm giữ; xác định quyền sở hữu, sử dụng tài sản để thi hành án, giải quyết tranh chấp tài sản; yêu cầu hủy giấy tờ, giao dịch liên quan đến tài sản; giải quyết tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 68, khoản 3 Điều 69, khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự hiện hành.

Như vậy, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã giới hạn một số công việc mà TPL được làm và không được làm trong tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, việc giới hạn này dẫn đến TPL rất khó để có thể chủ động trong việc tổ chức thi hành án, vì phần lớn các việc thi hành án khi người dân đã nhờ đến TPL tổ chức thi hành thường có tính chất khó khăn, phức tạp, trong khi quyền hạn của TPL bị giới hạn nhiều, dẫn đến việc tổ chức thi hành án bị phụ thuộc vào sự phối hợp của các cơ quan khác, phần nào cũng ảnh hưởng đến hiệu quả tổ chức thi hành án.

Ngoài ra, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP cũng chưa quy định trường hợp các bên thỏa thuận, cho phép TPL được ủy thác thi hành án như các cơ quan THADS nhằm đạt hiệu quả cao hơn cũng như giảm bớt chi phí, khó khăn cho các Văn phòng TPL.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao vai trò của TPL trong hoạt động THADS, cần phối hợp thực hiện nhiều giải pháp, trong đó có thể thực hiện một số giải pháp cụ thể như sau:

Một là, nâng cao nhận thức của các cơ quan, tổ chức về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của TPL, tạo thuận lợi cho công tác phối hợp giữa cơ quan, tổ chức nói chung và cơ quan THADS nói riêng với Văn phòng TPL được thuận lợi và hiệu quả hơn. Đồng thời, cần bổ sung các quy định pháp luật quy định rõ về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc hỗ trợ TPL thực hiện tống đạt, xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành án.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế và các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của TPL trong THADS. Cần tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động của TPL trong THADS, về lâu dài, cần xây dựng Luật Thừa phát lại để tạo hành lang pháp lý đầy đủ, toàn diện hơn cho hoạt động này.

Đối với hoạt động tống đạt văn bản về THADS, cần có quy định rõ ràng và cụ thể về việc các cơ quan THADS, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân sử dụng dịch vụ tống đạt của TPL và có cơ chế tài chính rõ ràng để bảo đảm hoạt động này. Đối với hoạt động xác minh điều kiện thi hành án, cần quy định rõ về trình tự, thủ tục thực hiện xác minh của TPL như: Về trách nhiệm của các cơ quan tổ chức trong việc xác minh của TPL; trách nhiệm của việc thực hiện yêu cầu xác minh của TPL; trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc không cung cấp và chậm trễ trong việc cung cấp thông tin theo yêu cầu xác minh điều kiện thi hành án của TPL.

Đối với hoạt động tổ chức thi hành án, nội dung công việc TPL được thực hiện trong THADS chỉ bao gồm 04 nhóm việc được quy định tại khoản 4 Điều 55 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP, bao gồm: Xác minh điều kiện thi hành án; tổ chức thi hành án; thỏa thuận về thi hành án; thanh toán tiền thi hành án, điều này hạn chế chức năng tổ chức thi hành án của TPL. Do đó, cần mở rộng hơn nữa quyền hạn của TPL trong hoạt động THADS. Có thể xem xét trao cho TPL quyền ban hành quyết định thi hành án và được áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án trên cơ sở thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân và cơ quan Công an, bảo đảm tuân theo pháp luật trong việc áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Thông qua hoạt động thực tiễn này, một mặt, giúp cho đội ngũ TPL trưởng thành hơn, mặt khác, giúp nhà quản lý có được kinh nghiệm để có những giải pháp pháp lý thích ứng nhằm quản lý và kiểm soát hoạt động thi hành án của TPL được hiệu quả và thiết thực hơn.

Ba là, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với TPL trong lĩnh vực THADS. Mặc dù Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định TPL theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội đã quy định về việc quản lý khá chặt chẽ đối với việc TPL thực hiện nhiệm vụ THADS, với các cơ chế kiểm soát gồm: Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi đặt Văn phòng TPL kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tống đạt, việc thi hành án theo quy định của pháp luật; có quyền kháng nghị quyết định, hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng Văn phòng TPL, TPL trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc phát hiện hành vi vi phạm (Điều 21, Điều 22). Tuy nhiên, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã có rất nhiều sự thay đổi, do đó, cần sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch này cho phù hợp.

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền về TPL: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền về TPL trên các phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân bằng các hoạt động cụ thể như: Phối hợp với chính quyền địa phương, Phòng Tư pháp… tổ chức tuyên truyền để cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn biết, phối hợp và sử dụng dịch vụ TPL. Lồng ghép việc tuyên truyền về chế định TPL vào kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương với những hình thức ngắn gọn, hiệu quả để nhân dân biết và tin tưởng.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa
Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự, Học viện Tư pháp

[1] Điều 7 Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, thế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự.

[2] Cục bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp, Phát triển nghề Thừa phát lại theo định hướng xã hội hóa lĩnh vực bổ trợ tư pháp, https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/PHAT-TRIEN-NGHE-THUA-PHAT-LAI-THEO-DINH-HUONG-XA-HOI-HOA-CAC-LINH-VUC-BO-TRO-TU-PHAP-5917/, truy cập ngày 11/01/2022.

[3] Trung tâm Thống kê, quản lý dữ liệu và ứng dụng công nghệ thông tin, Số liệu Báo cáo thống kê 12 tháng năm 2020, tổng số việc phải thi hành của toàn quốc là 899.787việc; số lượng chấp hành viên là 4.096 chấp hành viên, trung bình 1 chấp hànhviên phải thi hành 220 việc.

[4] ThS. Đỗ Thị Ngọc, Thừa phát lại trong thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, 2020, tr. 50.

[5] ThS. Đỗ Thị Ngọc, Thừa phát lại trong thi hành án dân sự Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Đại học Luật Hà Nội, 2020, tr. 57.

[6] Số liệu thống kê của Cục Bổ trợ tư pháp, Bộ Tư pháp từ năm 2016 đến năm 2019.

[7] Riêng Thành phố Hồ Chí Minh: Số liệu báo cáo tính đến hết ngày 30/6/2020.

[8] Tuấn Phong, Thừa phát lại xác minh điều kiện thi hành án: Cần quy định rõ trách nhiệm của cơ quan liên quan, https://kinhtedothi.vn/thua-phat-lai-xac-minh-dieu-kien-thi-hanh-an-can-quy-dinh-ro-trach-nhiem-cua-co-quan-lien-quan.html, truy cập ngày 12/01/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: