Thứ năm 12/03/2026 15:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Tóm tắt: Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng là một nội dung quan trọng trong chế độ tài sản của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, pháp luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam không quy định cụ thể, rõ ràng về nội dung này. Trong bài viết này, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng trên thực tế.

Abstract: Joint and separate obligations on the property of husband and wife are an important content in the property regime of husband and wife. However, for a long time, the law on marriage and family in Vietnam did not provide specific and clear provisions on this content. In this article, the author has researched and made recommendations to improve the legal provisions on joint and separate obligations on the property of husband and wife in practice.

1. Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng
1.1. Về khái niệm
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc mà theo quy định của pháp luật thì một bên hoặc cả hai bên vợ, chồng (người có nghĩa vụ) phải làm hoặc không được làm công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (người có quyền). Theo nghĩa hẹp, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc vợ, chồng phải dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện bổn phận của mình (chi trả các khoản nợ) cho người có quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định.


Tùy thuộc vào chế độ tài sản mà vợ, chồng áp dụng, căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng có sự khác biệt. Đối với chế độ tài sản pháp định, luật đã quy định các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản này như thành phần tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản cũng như nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Do đó, để xác định nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng trong trường hợp này là trên cơ sở quy định của pháp luật. Bên cạnh chế độ tài sản theo luật định, còn tồn tại chế độ tài sản của vợ, chồng theo thỏa thuận. Đối với loại chế độ tài sản này, pháp luật dành quyền tự chủ cho các cặp vợ, chồng trong việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng và các vấn đề có liên quan như quyền, nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản, nghĩa vụ tài sản… Vì vậy, đối với các cặp vợ, chồng áp dụng chế độ tài sản ước định, nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản được xác định dựa vào sự thỏa thuận của hai bên thể hiện trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng. Chỉ trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận về nghĩa vụ tài sản hoặc thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng dẫn đến không thực hiện được trên thực tế thì khi đó nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản lại được thực hiện theo các quy định tương ứng trong chế độ tài sản theo luật định.


1.2. Về đặc điểm


- Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng phải là vợ, chồng, nghĩa là giữa các bên phải tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, là vợ, chồng của nhau trước pháp luật.


Pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta từ trước đến nay đều xác định đăng ký kết hôn là nghi thức duy nhất làm phát sinh quan hệ vợ, chồng (Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Nam và nữ muốn xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận tư cách là vợ, chồng của nhau thì bên cạnh việc phải đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn luật định, còn phải tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ, nếu nam nữ chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987 không đăng ký kết hôn thì họ có thể vẫn được thừa nhận là vợ, chồng[1].


Chỉ khi được pháp luật thừa nhận là vợ, chồng, giữa hai bên mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng, bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và các quyền, nghĩa vụ về tài sản. Quan hệ hôn nhân hợp pháp là cơ sở để xác định chế độ tài sản giữa vợ, chồng nói chung, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng nói riêng.


- Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng phát sinh và chấm dứt phụ thuộc vào thời kỳ hôn nhân.
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân[2]. Thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn hoặc kể từ ngày hai bên bắt đầu chung sống (trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ trước ngày 03/1/1987 mà chưa đăng ký kết hôn) đến khi quan hệ hôn nhân chấm dứt (khi một bên vợ, chồng chết; một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết hoặc ly hôn).


Thời kỳ hôn nhân là yếu tố quan trọng để xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Theo đó, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi hôn nhân chấm dứt được xác định là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Còn trong thời kỳ hôn nhân, nếu phát sinh nghĩa vụ về tài sản thì đó có thể là nghĩa vụ chung hoặc là nghĩa vụ riêng của mỗi bên.


- Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng xác định trách nhiệm trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể.
Đồng thời với việc dự liệu những nghĩa vụ nào là nghĩa vụ chung, nghĩa vụ nào là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng thì nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng còn xác định phương thức thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể. Đối với nghĩa vụ chung, cả hai vợ, chồng cùng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền, do đó tùy thuộc vào giao dịch vợ, chồng tham gia mà sẽ có cách thức thực hiện nghĩa vụ tương ứng, có thể là nghĩa vụ chuyển giao vật, chuyển giao quyền hoặc giấy tờ có giá. Đối với nghĩa vụ trả tiền thì khối tài sản chung của vợ, chồng sẽ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ liên đới giữa vợ, chồng thì người có quyền có thể yêu cầu cả hai vợ, chồng hoặc một bên vợ, chồng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.


Ngược lại, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng về nguyên tắc chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện. Nếu đó là nghĩa vụ phải trả một khoản tiền thì tài sản riêng được sử dụng để chi trả khoản nợ này, bên cạnh đó người có quyền chỉ có thể yêu cầu một bên vợ, chồng (người có nghĩa vụ) thực hiện.


2. Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
2.1. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng


Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng được hiểu là việc vợ, chồng phải cùng nhau chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá cho người có quyền hay nói cách khác, cả hai vợ, chồng phải cùng chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với bên có quyền. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giữa vợ, chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ, chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ, chồng cùng phải chịu trách nhiệm.
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường.
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.


2.2. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng


Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng là việc một bên vợ, chồng tự mình thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền. Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình.
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.


3. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng


Thứ nhất, cần có hướng dẫn về việc xác định nghĩa vụ tài sản phát sinh trong trường hợp phán quyết ly hôn của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật mà hai bên không sống chung, ly thân


Khi một hoặc cả hai bên vợ, chồng có đơn yêu cầu xin ly hôn, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết bằng một quá trình tố tụng cho đến khi có bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ. Nhưng theo pháp luật tố tụng dân sự thì bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên mà phải có một thời hạn nhất định để có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà vợ, chồng không sống chung với nhau và phát sinh nghĩa vụ tài sản thì xác định như thế nào? Tòa án sẽ xác định tiếp nghĩa vụ trả các khoản nợ đó hay do vợ, chồng tự thỏa thuận với nhau? Để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp vợ, chồng, đồng thời, giúp cho quá trình giải quyết vụ việc được đơn giản và thống nhất, hệ thống văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta cần có thêm những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng đây là những nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Mặc dù các bên không còn chung sống với nhau nhưng do bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nên theo quy định tại khoản 1 Điều 57 thì đây là thời điểm quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt, các bên vẫn tồn tại quan hệ vợ, chồng. Do vậy, cần dựa vào quy định tại Điều 37 và Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như yêu cầu của vợ, chồng để giải quyết cho phù hợp.
Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay chưa quy định về ly thân, tuy nhiên trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà ly thân ngày càng được nhiều cặp vợ, chồng lựa chọn. Ly thân có thể hiểu là tình trạng vợ, chồng không sống chung với nhau và có thể họ thỏa thuận với nhau hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Bởi vì không quy định về ly thân cho nên dù các bên không sống chung với nhau hoặc kèm theo việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khoảng thời gian các bên không sống chung với nhau vẫn được luật xác định là trong thời kỳ hôn nhân. Do vậy, nếu phát sinh nghĩa vụ tài sản thì tương tự như trường hợp trên, Tòa án dựa vào quy định tại Điều 37 và Điều 45 để xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.


Thứ hai, cần có quy định cụ thể về việc xác định nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh trong thời gian một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về


Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về thì quan hệ tài sản giữa họ và người chồng, người vợ còn sống đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dự liệu tại khoản 2 Điều 67. Tuy nhiên, quy định này chỉ giải quyết việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của các bên mà không xác định trách nhiệm của mỗi bên đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh trong thời gian một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết.
Đối với trường hợp này, nên quy định rõ những nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các giao dịch mà vợ, chồng đã xác lập, thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình và chăm sóc, giáo dục con cái, thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng đối với các thành viên gia đình là nghĩa vụ chung của vợ, chồng, cho dù quan hệ hôn nhân giữa họ có được khôi phục hay không, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp giữa vợ, chồng với nhau và với người thứ ba. Cụ thể:


- Đối với con chung, ngay cả khi quan hệ hôn nhân giữa vợ, chồng không được phục hồi do đã có bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc người còn sống đã kết hôn với người khác thì bên không trực tiếp nuôi con vẫn phải có trách nhiệm cùng trả khoản nợ mà bên trực tiếp nuôi con đã vay để nuôi con. Bởi lẽ, khi bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, đã có quyết định hủy tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì mặc dù quan hệ hôn nhân của họ với người còn sống chấm dứt tuy nhiên quan hệ cha con, mẹ con không chấm dứt. Với tư cách là cha mẹ của con, khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Hơn nữa, khoản vay để nuôi con là nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình, do vậy làm phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng.


- Đối với con riêng hoặc cha mẹ đẻ của người vợ, người chồng còn sống thì bên bị Tòa án tuyên bố chết cũng phải chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ đã vay để chi phí nuôi dưỡng, cấp dưỡng trong thời điểm người đó bị Tòa án tuyên bố chết. Xuất phát từ quy định trong khoản 1 Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình” và “trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền và nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này”[3] thì đây là nghĩa vụ với tư cách là cha dượng, mẹ kế đối với con riêng hoặc là con dâu, con rể đối với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ. Do đó, khi con riêng sống chung với cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng cùng sống chung với con rể, con dâu thì giữa họ phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc lẫn nhau.


Thứ ba, hiện nay trong thực tiễn có rất nhiều giao dịch do một bên vợ, chồng thực hiện, không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, cũng không có thỏa thuận giữa vợ, chồng, không thuộc các trường hợp vợ, chồng đại diện cho nhau theo pháp luật hay ủy quyền nhưng khoản hoa lợi, lợi tức từ việc thực hiện giao dịch đó (như vay tiền kinh doanh bất động sản, hụi, họ….) lại phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình như mua nhà cho cả gia đình ở. Khi phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ thì không thể xác định là trách nhiệm liên đới của vợ, chồng, người nào vay người đó phải trả. Người vợ hoặc người chồng còn lại cũng không đồng ý bán tài sản để lấy tiền cho chồng hoặc vợ của họ trả nợ. Trong trường hợp này thường phải thực hiện việc chia tài sản chung của vợ, chồng trước rồi mới có thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể có liên quan. Vì vậy, trong những trường hợp một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nhưng bên còn lại biết và hoa lợi, lợi tức từ giao dịch đó phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình thì cần xác định nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ chung của vợ, chồng. Có thể coi đây là một trường hợp của nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.


Thứ tư, về tài sản dùng để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp hai vợ chồng thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, nếu vợ, chồng không có tài sản chung và một bên vợ, chồng không có tài sản riêng còn bên kia có tài sản riêng thì có phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ hay không và trong trường hợp này có phát sinh nghĩa vụ hoàn trả giữa vợ, chồng hay không? Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” (khoản 4 Điều 33). Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định tương tự “Trong trường hợp vợ, chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên” (khoản 2 Điều 30). Do đó, cần có quy định cụ thể trong trường hợp này theo hướng bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng thì phải dùng tài sản riêng để bồi thường và không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả giữa vợ, chồng, bởi vì trong trường hợp này, nghĩa vụ chung của vợ, chồng trong việc bảo đảm quyền lợi của người thứ ba cũng được coi là cần thiết.


Thứ năm, xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Luật Hôn nhân và gia đình cần bổ sung quy định “nghĩa vụ phát sinh khi vợ, chồng tạo ra tài sản cho gia đình” cũng là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng. Trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay mới chỉ quy định nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng mà bỏ qua nghĩa vụ phát sinh khi vợ, chồng xác lập, thực hiện các giao dịch để tạo ra tài sản chung của vợ, chồng, bởi vì, mục đích của các hoạt động trên đều nhằm tạo lập, phát triển khối tài sản chung của vợ, chồng, tạo dựng cơ sở kinh tế đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong gia đình.


Thứ sáu, quy định thống nhất trong các văn bản luật về nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng. Để bảo đảm hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì Luật Hôn nhân và gia đình phải được đặt trong mối liên hệ với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Các quy định của Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình trong trường hợp Luật này không quy định”. Do vậy, khoản 6 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ rõ nếu trong quy định của các luật khác có liên quan quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng, thì đó sẽ là căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng, theo đó, cả hai vợ, chồng cùng phải thực hiện nghĩa vụ hoặc phải dùng tài sản thuộc sở hữu chung để thanh toán cho người có quyền.


Mặc dù vậy, hiện nay chưa có luật nào quy định liên quan đến vấn đề này. Trong các văn bản luật có liên quan đến chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ, chồng như Luật Nhà ở, Luật Đất đai không quy định về quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng mà thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Các luật khác điều chỉnh việc sử dụng tài sản của vợ, chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh như Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán… đều xác định nghĩa vụ tài sản thuộc về cá nhân người thành lập, tham gia góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp, người đầu tư chứng khoán mà không xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng. Việc xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng không thống nhất giữa các văn bản luật đã gây khó khăn trong việc áp dụng cũng như không bảo đảm quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng. Do đó, để vừa bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, của gia đình, vừa bảo đảm sự ổn định của các giao dịch mà vợ, chồng tham gia cần quy định theo hướng áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để xác định nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng.

ThS. Nông Thị Thoa
Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk



[1]. Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
[2]. Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: