Thứ tư 17/06/2026 14:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Tóm tắt: Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng là một nội dung quan trọng trong chế độ tài sản của vợ, chồng. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, pháp luật hôn nhân và gia đình ở Việt Nam không quy định cụ thể, rõ ràng về nội dung này. Trong bài viết này, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các đề xuất hoàn thiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng trên thực tế.

Abstract: Joint and separate obligations on the property of husband and wife are an important content in the property regime of husband and wife. However, for a long time, the law on marriage and family in Vietnam did not provide specific and clear provisions on this content. In this article, the author has researched and made recommendations to improve the legal provisions on joint and separate obligations on the property of husband and wife in practice.

1. Khái niệm, đặc điểm nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng
1.1. Về khái niệm
Theo nghĩa rộng, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc mà theo quy định của pháp luật thì một bên hoặc cả hai bên vợ, chồng (người có nghĩa vụ) phải làm hoặc không được làm công việc vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (người có quyền). Theo nghĩa hẹp, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng là việc vợ, chồng phải dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện bổn phận của mình (chi trả các khoản nợ) cho người có quyền trong những trường hợp do pháp luật quy định.


Tùy thuộc vào chế độ tài sản mà vợ, chồng áp dụng, căn cứ xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng có sự khác biệt. Đối với chế độ tài sản pháp định, luật đã quy định các vấn đề liên quan đến chế độ tài sản này như thành phần tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối với từng loại tài sản cũng như nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Do đó, để xác định nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng trong trường hợp này là trên cơ sở quy định của pháp luật. Bên cạnh chế độ tài sản theo luật định, còn tồn tại chế độ tài sản của vợ, chồng theo thỏa thuận. Đối với loại chế độ tài sản này, pháp luật dành quyền tự chủ cho các cặp vợ, chồng trong việc xác định tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng và các vấn đề có liên quan như quyền, nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản, nghĩa vụ tài sản… Vì vậy, đối với các cặp vợ, chồng áp dụng chế độ tài sản ước định, nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản được xác định dựa vào sự thỏa thuận của hai bên thể hiện trong văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng. Chỉ trong trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận về nghĩa vụ tài sản hoặc thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng dẫn đến không thực hiện được trên thực tế thì khi đó nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản lại được thực hiện theo các quy định tương ứng trong chế độ tài sản theo luật định.


1.2. Về đặc điểm


- Chủ thể của quan hệ nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng phải là vợ, chồng, nghĩa là giữa các bên phải tồn tại một quan hệ hôn nhân hợp pháp, là vợ, chồng của nhau trước pháp luật.


Pháp luật hôn nhân và gia đình nước ta từ trước đến nay đều xác định đăng ký kết hôn là nghi thức duy nhất làm phát sinh quan hệ vợ, chồng (Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Nam và nữ muốn xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận tư cách là vợ, chồng của nhau thì bên cạnh việc phải đáp ứng đủ các điều kiện kết hôn luật định, còn phải tiến hành đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ, nếu nam nữ chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987 không đăng ký kết hôn thì họ có thể vẫn được thừa nhận là vợ, chồng[1].


Chỉ khi được pháp luật thừa nhận là vợ, chồng, giữa hai bên mới phát sinh các quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng, bao gồm các quyền và nghĩa vụ về nhân thân và các quyền, nghĩa vụ về tài sản. Quan hệ hôn nhân hợp pháp là cơ sở để xác định chế độ tài sản giữa vợ, chồng nói chung, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng nói riêng.


- Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng phát sinh và chấm dứt phụ thuộc vào thời kỳ hôn nhân.
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân[2]. Thời điểm bắt đầu của thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn hoặc kể từ ngày hai bên bắt đầu chung sống (trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ, chồng từ trước ngày 03/1/1987 mà chưa đăng ký kết hôn) đến khi quan hệ hôn nhân chấm dứt (khi một bên vợ, chồng chết; một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết hoặc ly hôn).


Thời kỳ hôn nhân là yếu tố quan trọng để xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Theo đó, nghĩa vụ về tài sản phát sinh trước thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân hoặc sau khi hôn nhân chấm dứt được xác định là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Còn trong thời kỳ hôn nhân, nếu phát sinh nghĩa vụ về tài sản thì đó có thể là nghĩa vụ chung hoặc là nghĩa vụ riêng của mỗi bên.


- Nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng xác định trách nhiệm trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể.
Đồng thời với việc dự liệu những nghĩa vụ nào là nghĩa vụ chung, nghĩa vụ nào là nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng thì nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng còn xác định phương thức thực hiện nghĩa vụ của các chủ thể. Đối với nghĩa vụ chung, cả hai vợ, chồng cùng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền, do đó tùy thuộc vào giao dịch vợ, chồng tham gia mà sẽ có cách thức thực hiện nghĩa vụ tương ứng, có thể là nghĩa vụ chuyển giao vật, chuyển giao quyền hoặc giấy tờ có giá. Đối với nghĩa vụ trả tiền thì khối tài sản chung của vợ, chồng sẽ được sử dụng để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp phát sinh nghĩa vụ liên đới giữa vợ, chồng thì người có quyền có thể yêu cầu cả hai vợ, chồng hoặc một bên vợ, chồng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.


Ngược lại, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng về nguyên tắc chỉ do một bên vợ hoặc chồng thực hiện. Nếu đó là nghĩa vụ phải trả một khoản tiền thì tài sản riêng được sử dụng để chi trả khoản nợ này, bên cạnh đó người có quyền chỉ có thể yêu cầu một bên vợ, chồng (người có nghĩa vụ) thực hiện.


2. Nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng
2.1. Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng


Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng được hiểu là việc vợ, chồng phải cùng nhau chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá cho người có quyền hay nói cách khác, cả hai vợ, chồng phải cùng chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với bên có quyền. Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định giữa vợ, chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau:
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ, chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ, chồng cùng phải chịu trách nhiệm.
- Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra mà theo quy định của Bộ luật Dân sự thì cha mẹ phải bồi thường.
- Nghĩa vụ khác theo quy định của các luật có liên quan.


2.2. Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng


Nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng là việc một bên vợ, chồng tự mình thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với người có quyền. Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:
- Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn.
- Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp nghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình.
- Nghĩa vụ phát sinh từ hành vi vi phạm pháp luật của vợ, chồng.


3. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng


Thứ nhất, cần có hướng dẫn về việc xác định nghĩa vụ tài sản phát sinh trong trường hợp phán quyết ly hôn của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật mà hai bên không sống chung, ly thân


Khi một hoặc cả hai bên vợ, chồng có đơn yêu cầu xin ly hôn, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết bằng một quá trình tố tụng cho đến khi có bản án hay quyết định có hiệu lực pháp luật nhằm chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa họ. Nhưng theo pháp luật tố tụng dân sự thì bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên mà phải có một thời hạn nhất định để có thể kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Nếu trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà vợ, chồng không sống chung với nhau và phát sinh nghĩa vụ tài sản thì xác định như thế nào? Tòa án sẽ xác định tiếp nghĩa vụ trả các khoản nợ đó hay do vợ, chồng tự thỏa thuận với nhau? Để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các cặp vợ, chồng, đồng thời, giúp cho quá trình giải quyết vụ việc được đơn giản và thống nhất, hệ thống văn bản pháp luật hôn nhân và gia đình của nước ta cần có thêm những hướng dẫn cụ thể về vấn đề này theo hướng đây là những nghĩa vụ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Mặc dù các bên không còn chung sống với nhau nhưng do bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nên theo quy định tại khoản 1 Điều 57 thì đây là thời điểm quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt, các bên vẫn tồn tại quan hệ vợ, chồng. Do vậy, cần dựa vào quy định tại Điều 37 và Điều 45 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng như yêu cầu của vợ, chồng để giải quyết cho phù hợp.
Pháp luật hôn nhân và gia đình hiện nay chưa quy định về ly thân, tuy nhiên trên thực tế vì nhiều lý do khác nhau mà ly thân ngày càng được nhiều cặp vợ, chồng lựa chọn. Ly thân có thể hiểu là tình trạng vợ, chồng không sống chung với nhau và có thể họ thỏa thuận với nhau hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Bởi vì không quy định về ly thân cho nên dù các bên không sống chung với nhau hoặc kèm theo việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khoảng thời gian các bên không sống chung với nhau vẫn được luật xác định là trong thời kỳ hôn nhân. Do vậy, nếu phát sinh nghĩa vụ tài sản thì tương tự như trường hợp trên, Tòa án dựa vào quy định tại Điều 37 và Điều 45 để xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng.


Thứ hai, cần có quy định cụ thể về việc xác định nghĩa vụ của vợ, chồng đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh trong thời gian một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà trở về


Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về thì quan hệ tài sản giữa họ và người chồng, người vợ còn sống đã được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dự liệu tại khoản 2 Điều 67. Tuy nhiên, quy định này chỉ giải quyết việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của các bên mà không xác định trách nhiệm của mỗi bên đối với nghĩa vụ tài sản phát sinh trong thời gian một bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố chết.
Đối với trường hợp này, nên quy định rõ những nghĩa vụ tài sản phát sinh từ các giao dịch mà vợ, chồng đã xác lập, thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình và chăm sóc, giáo dục con cái, thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng đối với các thành viên gia đình là nghĩa vụ chung của vợ, chồng, cho dù quan hệ hôn nhân giữa họ có được khôi phục hay không, tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp giữa vợ, chồng với nhau và với người thứ ba. Cụ thể:


- Đối với con chung, ngay cả khi quan hệ hôn nhân giữa vợ, chồng không được phục hồi do đã có bản án ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật hoặc người còn sống đã kết hôn với người khác thì bên không trực tiếp nuôi con vẫn phải có trách nhiệm cùng trả khoản nợ mà bên trực tiếp nuôi con đã vay để nuôi con. Bởi lẽ, khi bên vợ hoặc chồng bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, đã có quyết định hủy tuyên bố chết của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì mặc dù quan hệ hôn nhân của họ với người còn sống chấm dứt tuy nhiên quan hệ cha con, mẹ con không chấm dứt. Với tư cách là cha mẹ của con, khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Hơn nữa, khoản vay để nuôi con là nghĩa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình, do vậy làm phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng.


- Đối với con riêng hoặc cha mẹ đẻ của người vợ, người chồng còn sống thì bên bị Tòa án tuyên bố chết cũng phải chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ đã vay để chi phí nuôi dưỡng, cấp dưỡng trong thời điểm người đó bị Tòa án tuyên bố chết. Xuất phát từ quy định trong khoản 1 Điều 79 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 “Cha dượng, mẹ kế có quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con riêng của bên kia cùng sống chung với mình” và “trong trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên có các quyền và nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ nhau theo quy định tại các điều 69, 70, 71 và 72 của Luật này”[3] thì đây là nghĩa vụ với tư cách là cha dượng, mẹ kế đối với con riêng hoặc là con dâu, con rể đối với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ. Do đó, khi con riêng sống chung với cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng cùng sống chung với con rể, con dâu thì giữa họ phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc lẫn nhau.


Thứ ba, hiện nay trong thực tiễn có rất nhiều giao dịch do một bên vợ, chồng thực hiện, không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, cũng không có thỏa thuận giữa vợ, chồng, không thuộc các trường hợp vợ, chồng đại diện cho nhau theo pháp luật hay ủy quyền nhưng khoản hoa lợi, lợi tức từ việc thực hiện giao dịch đó (như vay tiền kinh doanh bất động sản, hụi, họ….) lại phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình như mua nhà cho cả gia đình ở. Khi phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ thì không thể xác định là trách nhiệm liên đới của vợ, chồng, người nào vay người đó phải trả. Người vợ hoặc người chồng còn lại cũng không đồng ý bán tài sản để lấy tiền cho chồng hoặc vợ của họ trả nợ. Trong trường hợp này thường phải thực hiện việc chia tài sản chung của vợ, chồng trước rồi mới có thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của những chủ thể có liên quan. Vì vậy, trong những trường hợp một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch không phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nhưng bên còn lại biết và hoa lợi, lợi tức từ giao dịch đó phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình thì cần xác định nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ chung của vợ, chồng. Có thể coi đây là một trường hợp của nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình.


Thứ tư, về tài sản dùng để thực hiện nghĩa vụ. Trong trường hợp hai vợ chồng thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản, nếu vợ, chồng không có tài sản chung và một bên vợ, chồng không có tài sản riêng còn bên kia có tài sản riêng thì có phải dùng tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ hay không và trong trường hợp này có phát sinh nghĩa vụ hoàn trả giữa vợ, chồng hay không? Trước đây, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” (khoản 4 Điều 33). Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định tương tự “Trong trường hợp vợ, chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên” (khoản 2 Điều 30). Do đó, cần có quy định cụ thể trong trường hợp này theo hướng bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng thì phải dùng tài sản riêng để bồi thường và không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả giữa vợ, chồng, bởi vì trong trường hợp này, nghĩa vụ chung của vợ, chồng trong việc bảo đảm quyền lợi của người thứ ba cũng được coi là cần thiết.


Thứ năm, xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng. Luật Hôn nhân và gia đình cần bổ sung quy định “nghĩa vụ phát sinh khi vợ, chồng tạo ra tài sản cho gia đình” cũng là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng. Trong Luật Hôn nhân và gia đình hiện nay mới chỉ quy định nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng mà bỏ qua nghĩa vụ phát sinh khi vợ, chồng xác lập, thực hiện các giao dịch để tạo ra tài sản chung của vợ, chồng, bởi vì, mục đích của các hoạt động trên đều nhằm tạo lập, phát triển khối tài sản chung của vợ, chồng, tạo dựng cơ sở kinh tế đáp ứng nhu cầu của các thành viên trong gia đình.


Thứ sáu, quy định thống nhất trong các văn bản luật về nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng. Để bảo đảm hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì Luật Hôn nhân và gia đình phải được đặt trong mối liên hệ với các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Các quy định của Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan đến quan hệ hôn nhân và gia đình được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình trong trường hợp Luật này không quy định”. Do vậy, khoản 6 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ rõ nếu trong quy định của các luật khác có liên quan quy định về nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng, thì đó sẽ là căn cứ pháp lý làm phát sinh nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng, theo đó, cả hai vợ, chồng cùng phải thực hiện nghĩa vụ hoặc phải dùng tài sản thuộc sở hữu chung để thanh toán cho người có quyền.


Mặc dù vậy, hiện nay chưa có luật nào quy định liên quan đến vấn đề này. Trong các văn bản luật có liên quan đến chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ, chồng như Luật Nhà ở, Luật Đất đai không quy định về quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng mà thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Các luật khác điều chỉnh việc sử dụng tài sản của vợ, chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh như Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán… đều xác định nghĩa vụ tài sản thuộc về cá nhân người thành lập, tham gia góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp, người đầu tư chứng khoán mà không xác định nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng. Việc xác định nghĩa vụ chung, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ, chồng không thống nhất giữa các văn bản luật đã gây khó khăn trong việc áp dụng cũng như không bảo đảm quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng. Do đó, để vừa bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, của gia đình, vừa bảo đảm sự ổn định của các giao dịch mà vợ, chồng tham gia cần quy định theo hướng áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình để xác định nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng.

ThS. Nông Thị Thoa
Phân hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội tại tỉnh Đắk Lắk



[1]. Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình.
[2]. Khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3]. Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: