Thứ hai 21/09/2026 16:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguồn của chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

Bài viết phân tích các loại nguồn của chứng cứ điện tử và đưa ra một số gợi mở mang tính tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Đặt vấn đề

Khi chúng ta thực hiện hành vi thì thông tin sẽ để lại trong thế giới vật chất, bao gồm thế giới vật chất đặc biệt trên môi trường điện tử, thiết bị điện tử. Những thông tin đó chính là chứng cứ và có thể được sử dụng để chứng minh những tình tiết của vụ việc dân sự. Hiện nay, có rất nhiều vụ án được chứng minh có sử dụng chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử. Trong bối cảnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định dữ liệu điện tử là một trong những nguồn của chứng cứ (khoản 1 Điều 94), từ đó nhiều vấn đề cần nghiên cứu được đặt ra. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích về chứng cứ điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này cũng như đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam.

2. Khái niệm chứng cứ điện tử và nguồn của chứng cứ điện tử

Chứng cứ có vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung của vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, tùy vào yêu cầu mà nghĩa vụ chứng minh có thể thuộc về đương sự, người yêu cầu. Nhóm có nghĩa vụ này phải chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình thông qua các thông tin, tài liệu, sự kiện được coi là chứng cứ. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 thì việc ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng phổ biến trong các hoạt động của con người và ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu để tham gia vào các quan hệ xã hội. Việc sử dụng các công cụ này đã để lại các dấu vết điện tử được ghi lại, lưu truyền dưới dạng dữ liệu điện tử như logfile, IP, mã độc, domain, thời gian, không gian mạng, thư điện tử, nickname, chat, tin nhắn… Thực chất, đây là loại chứng cứ mới được tạo ra và lưu trữ lại trong bộ nhớ của các thiết bị kỹ thuật số một cách tự động, khách quan, tồn tại dưới dạng những tín hiệu điện tử, có thể nhận biết, phát hiện, bảo quản và ghi lại vào ổ USB, đĩa CD/VCD… hoặc in ra giấy, ảnh và có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án[1]. Trong thực tiễn xét xử hiện nay, các bên đương sự, người yêu cầu và từ phía chủ thể tiến hành tố tụng cũng sử dụng các dữ liệu điện tử để chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình; giải quyết vụ việc dân sự và chúng được coi là “chứng cứ điện tử”. Đây là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong hoạt động tố tụng cũng như nghiên cứu khoa học nhưng khái niệm chính thức về chứng cứ điện tử chưa được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh thuật ngữ chứng cứ điện tử, hiện nay còn có một số các thuật ngữ tương tự thuộc nhóm chứng cứ điện tử được ghi nhận như chứng cứ số (Digital Evidence), chứng cứ điện tử (Electronic Evidence), chứng cứ máy tính (Computer Evidence)... Với cách hiểu này, trong bài viết, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “chứng cứ điện tử” là khái niệm rộng nhất, bao hàm cả chứng cứ kỹ thuật số và chứng cứ máy tính.

Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguồn chứng cứ và thông điệp dữ liệu điện tử, tuy nhiên, vẫn chưa đủ thông tin để có thể xác định khái niệm chứng cứ điện tử cũng như nguồn chứng cứ điện tử. Có ý kiến cho rằng, chứng cứ điện tử là thông điệp dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự, do các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch điện tử lưu giữ, thu thập, cung cấp cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do pháp luật về giao dịch điện tử quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ việc dân sự cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp[2]. Cũng có ý kiến cho rằng, để dữ liệu điện tử được xem là chứng cứ hay gọi là chứng cứ điện tử thì dữ liệu điện tử được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về chứng cứ[3]. Ý kiến khác lại cho rằng, chứng cứ điện tử có thể được hiểu là những thông tin, dữ liệu được thu thập từ các thiết bị điện tử như máy tính và các thiết bị lưu trữ thông tin, dữ liệu hay các thông tin, dữ liệu từ mạng máy tính, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số... cũng như từ mạng internet, được các bên tham gia tố tụng cung cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền thu thập nhằm chứng minh cho các yêu cầu của các chủ thể hay các đương sự khi giải quyết các yêu cầu, vụ việc theo trình tự tố tụng[4].

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nguồn chứng cứ bao gồm dữ liệu điện tử (Điều 94); thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử (Điều 95); chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp (Điều 93).

Từ những căn cứ trên, có thể hiểu, một trong những nguồn mà chứng cứ có thể được thu thập đó là dữ liệu điện tử. Theo khoản 7 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023, dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự. Để được coi là chứng cứ thì thông điệp dữ liệu phải bảo đảm các yêu cầu theo quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về tố tụng. Như vậy, có thể thấy, chứng cứ điện tử không đồng nhất là dữ liệu điện tử (với tư cách là một loại nguồn chứng cứ). Dữ liệu điện tử có thể được tìm thấy trong các phương tiện điện tử có bộ nhớ trong có khả năng lưu trữ thông tin... Những phương tiện điện tử này là công cụ có tính năng kỹ thuật số, có thể khởi tạo, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận lại dữ liệu qua các thiết bị kết nối mạng[5]. Tuy nhiên, không phải tất cả dữ liệu điện tử tìm thấy trong các phương tiện điện tử đều được coi là chứng cứ điện tử mà chỉ những thông điệp dữ liệu phải bảo đảm ba thuộc tính của chứng cứ: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Có nghĩa là, thông điệp dữ liệu được lưu giữ trong dữ liệu điện tử phải có thật, tồn tại khách quan, không bị làm cho sai lệch; có liên quan đến vụ việc dân sự đang giải quyết; được thu thập từ nguồn chứng cứ có độ tin cậy cao và thu thập đúng trình tự do luật định. Như vậy, có thể hiểu, chứng cứ điện tử là những thông tin liên quan đến giải quyết vụ việc dân sự, tồn tại trong các dữ liệu điện tử được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.

Nguồn chứng cứ là hình thức tồn tại, chứa đựng chứng cứ[6]. Chứng cứ chỉ có thể hình thành và được thu thập từ những nguồn chứng cứ nhất định. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chứng cứ được thu thập từ nhiều nguồn, trong đó có dữ liệu điện tử. Căn cứ này cho thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thừa nhận nguồn của chứng cứ điện tử chính là dữ liệu điện tử. Như vậy, có thể hiểu, nguồn của chứng cứ điện tử là hình thức, nơi chứa đựng những thông tin ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.

Tùy vào mỗi căn cứ sẽ có nhiều cách phân loại nguồn chứng cứ khác nhau:

- Dựa trên nền tảng hoạt động của các phương tiện điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử có thể tồn tại trong: (i) Hệ thống máy tính thông thường là hệ thống bao gồm phần cứng và phần mềm để xử lý dữ liệu; (ii) Hệ thống truyền thông là hệ thống điện thoại truyền thống, điện thoại không dây, mạng Internet và mạng nói chung.

- Dựa trên cách thức khởi tạo, nguồn của chứng cứ điện tử gồm: (i) Dữ liệu điện tử, do máy tính tự động tạo ra như “cookies”, “URL”, email logs, web server logs, IP...; (ii) Dữ liệu điện tử do con người tạo ra, được lưu giữ trong máy tính hoặc các thiết bị điện tử khác, như các văn bản, bảng biểu, các hình ảnh, thông tin… được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số[7].

- Dựa vào nội dung của dữ liệu điện tử, có thể phân chia thành các nhóm sau: (i) Dữ liệu chương trình; (ii) Hệ thống tin nhắn; (iii) Thông tin dữ liệu từ các ứng dụng cụ thể cho tổ chức; (iv) Thông tin dữ liệu từ các ứng dụng doanh nghiệp tổng quát; (v) Cơ sở dữ liệu là những bộ sưu tập dữ liệu được tổ chức theo hệ thống, có thể dễ dàng truy cập, quản lý và cập nhật; (vi) Thông tin dữ liệu từ websites; (vii) Thông tin dữ liệu từ Intranet (mạng nội bộ); (viii) Thông tin dữ liệu từ metadata hay “dữ liệu về dữ liệu”; (ix) Thông tin từ dữ liệu sao lưu; (x) Thông tin từ dữ liệu phân mảnh.

3. Những vấn đề pháp lý liên quan đến nguồn của chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

3.1. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nguồn của chứng cứ điện tử chưa đầy đủ

Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử. Tuy pháp luật tố tụng dân sự đã thừa nhận nguồn chứng cứ điện tử nhưng lại chưa đưa ra khái niệm chính thức về nguồn của chứng cứ điện tử trong các văn bản pháp luật mặc dù trong các nghiên cứu khoa học đã được sử dụng khá phổ biến. Khoản 1, khoản 2 Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) mới chỉ quy định về giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu mà chưa đưa ra khái niệm về nguồn của chứng cứ điện tử.

Theo khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để xác định chứng cứ điện tử thì nguồn của chứng cứ phải là thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Cũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để được coi là chứng cứ thì phải được cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại không quy định về biện pháp thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử dẫn đến hậu quả là trên thực tế khi thu thập, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, có nhiều Tòa án áp dụng rất khác nhau, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong áp dụng pháp luật.

3.2. Khả năng xâm phạm quyền con người và bí mật cá nhân trong quá trình thu thập nguồn của chứng cứ điện tử

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với quy định mới về nguồn chứng cứ dữ liệu điện tử đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản chứng cứ dữ liệu điện tử đã xuất hiện một số khó khăn trong việc bảo đảm quyền con người và bí mật cá nhân.

Trong xu hướng phát triển công nghệ mạnh mẽ như hiện nay, các phương tiện điện tử nói chung và đặc biệt là máy tính, điện thoại cá nhân có thể lưu trữ rất nhiều các thông tin về đời sống của mỗi cá nhân. Chúng chứa đựng rất nhiều thông tin đời tư của mỗi chủ sở hữu như tin nhắn, hình ảnh, số tài khoản ngân hàng… Khi khai thác chứng cứ điện tử từ các thông tin dữ liệu điện tử trên các phương tiện điện tử, nếu không khoanh vùng được vị trí của chứng cứ thì để đánh giá tính liên quan của chúng, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét hầu hết mọi dữ liệu có trên máy tính, kiểm tra toàn bộ email, tin nhắn, danh bạ, hình ảnh, kể cả những nội dung về bí mật đời tư không liên quan để lọc ra những thông tin có giá trị chứng cứ. Điều đó có thể dẫn tới hậu quả là người tiến hành tố tụng phải đối mặt với trách nhiệm về việc xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về bí mật thư tín, điện tín, bí mật cá nhân. Thậm chí không thể loại trừ trường hợp người nắm thông tin sẽ lợi dụng bí mật cá nhân đó để trục lợi hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

3.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc sử dụng, đánh giá nguồn chứng cứ điện tử chưa thống nhất

Xuất phát từ quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về nguồn của chứng cứ điện tử còn chưa đầy đủ, rõ ràng (như về khái niệm; trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản)[8] nên trong thực tế, việc áp dụng cũng chưa thống nhất giữa các Tòa án. Có thể phân tích qua hai ví dụ sau đây:

- Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân quận H, Thành phố N: Ngày 05/12/2018, bà P và Công ty Ne ký kết Hợp đồng dịch vụ số 22012019/2019/HĐDV để Công ty Ne được phép sử dụng hình ảnh của bà P trong thời hạn từ ngày 05/01/2019 đến hết ngày 04/4/2019 với tổng giá trị hợp đồng là 15.000.000 đồng. Sau đó, bà P đã phối hợp và tạo mọi điều kiện để Công ty Ne sử dụng hình ảnh của bà P một cách thuận lợi và hiệu quả. Đồng thời, Công ty Ne cũng đã hoàn thành việc thanh toán 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi thời hạn sử dụng hình ảnh của bà P chấm dứt, từ ngày 05/4/2019 đến ngày 16/12/2019, Công ty Ne tiếp tục sử dụng trái phép hình ảnh công khai tại rất nhiều website như: Fanpage Facebook “Thẩm mỹ viện Quốc tế Ne”, kênh Youtube “Thẩm mỹ viện Quốc tế Ne”, website https://thammyvienNe.com và một số website khác của Công ty Ne. Tất cả các hình ảnh, video, bài viết... có sử dụng trái phép hình ảnh của bà P tại các phương tiện truyền thông của Công ty Ne đã được ghi nhận, thu thập và được Văn phòng Thừa phát lại quận B, Thành phố C lập Vi bằng số 2161/2019/VB-TPL ngày 16/12/2019. Trên cơ sở chứng cứ từ các nguồn là thông tin dữ liệu trên Fanpage Facebook, Youtube, website mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc đòi Công ty Ne trả số tiền sử dụng hình ảnh từ ngày 06/4/2019 đến ngày 16/12/2019 (làm tròn thành 08 tháng) theo Hợp đồng dịch vụ số 22012019/2019/HĐDV[9].

- Tại Bản án số 735/2019/DS-PT ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C về tranh chấp bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì Tòa án đã không chấp nhận chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử. Cụ thể, nguyên đơn là Trường Mầm non H cung cấp chứng cứ là Vi bằng số 452/2016/VB-TPLQ.TĐ ngày 12/7/2016 của Văn phòng Thừa phát lại quận T về hình ảnh đăng tin: “Ai có con em học ở Trường Mầm non H thì cẩn thận trường đang dùng nước giếng khoan gần nghĩa địa cho các cháu dùng” là Facebook có tên gọi “H.N”. Tòa án đã không chấp nhận chứng cứ điện tử vì không xác định ai là chủ tài khoản Facebook, không bảo đảm tính trọn vẹn của chứng cứ và nội dung trên Facebook dễ dàng thay đổi bởi chủ tài khoản mặc dù phía nguyên đơn có lập vi bằng[10].

Như vậy, trong vụ việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng hình ảnh” trên thì nguồn chứng cứ điện tử là các thông tin dữ liệu từ nguồn chứng cứ điện tử khi được Văn phòng Thừa phát lại quận B, thành phố C lập vi bằng. Trong khi đó, trong vụ việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm” lại không thừa nhận chứng cứ được lấy từ nguồn chứng cứ điện tử là thông tin dữ liệu trên Facebook dù rằng cũng được lập vi bằng. Việc thiếu quy định chi tiết về khái niệm; trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản với chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các địa phưương, từ đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.

4. Một số gợi mở mang tính tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần nhanh chóng xây dựng khái niệm chứng cứ điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử[11] và cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật. Trên cơ sở hai khái niệm này, cần nhận thức và phân biệt chứng cứ điện tử với dữ liệu điện tử (nguồn chứng cứ). Ngoài ra, để bảo đảm thống nhất trên thực tiễn khi xem xét, sử dụng và đánh giá chứng điện tử, cần quy định riêng biệt về các vấn đề như giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử, phương thức thu thập...

Hiện nay, chứng cứ trong tố tụng dân sự được xây dựng thành một chương riêng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Có một số quốc gia ban hành một đạo luật riêng về chứng cứ áp dụng với tất cả các loại án như Hoa Kỳ[12]. Tuy nhiên, lựa chọn quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự hay quy định riêng trong một đạo luật luôn có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả, trước mắt vẫn nên sử dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 làm nguồn chủ đạo, sau đó sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung về nội dung liên quan đến nguồn của chứng cứ điện tử. Lựa chọn này sẽ giúp cho người áp dụng thuận tiện hơn vì chỉ cần sử dụng một đạo luật và không làm xáo trộn hệ thống pháp luật, khi cần thiết vẫn có thể ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn, lựa chọn án lệ…

Thứ hai, trong các vụ việc dân sự, sự tôn trọng quyền riêng tư có ý nghĩa quan trọng cho các bên. Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, Tòa án vẫn có quyền tự mình thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật để tìm ra được sự thật khách quan. Chính vì vậy, khi thu thập chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử cũng sẽ có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để bảo đảm sự hài hòa giữa việc khai thác nguồn chứng cứ điện tử và quyền riêng tư của các chủ thể cần nhanh chóng xây dựng quy trình công nghệ để bảo đảm yếu tố quyền riêng tư, ví dụ như chủ thể thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử chỉ được thu thập thông tin có liên quan đến yêu cầu chứng minh của vụ việc dân sự đang giải quyết[13].

Thứ ba, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng của người tiến hành tố tụng đáp ứng được nhu cầu thực tế công tác thu thập nguồn của chứng cứ điện tử; đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử. Để giải quyết các vụ việc có sử dụng chứng cứ điện tử thì người tiến hành tố tụng phải có hiểu biết nhất định về dữ liệu điện tử, từ đó quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử mới được thực hiện đầy đủ và toàn diện. Do đó, cần có các chương trình đào tạo, tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo thường xuyên cho thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên và thư ký Tòa án về vấn đề này./.

Đào Thị Diệu Thương

Khoa Luật, Trường Đại học Sài Gòn

[1]. Trần Văn Hòa, “Vấn đề chứng cứ điện tử”, Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, Hà Nội, tr. 221.

[2]. Nguyễn Hải An (2019), “Chứng cứ và chứng cứ điện tử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04, tr. 38.

[3]. Nguyễn Thành Minh Chánh (2021), “Pháp luật về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24 (448), tr. 44.

[4]. Đinh Thị Ngọc Hà (2023), “Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 376, tr. 75.

[5]. Lê Nguyên Thanh (2023), Chứng cứ điện tử và thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 161.

[6]. Giáo trình Luật Tố tụng dân sự (2020), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, tr. 216.

[7]. Phan Xuân Tân (2017), Nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 15, 16.

[8]. Đã được phân tích ở mục 4.1.

[9].https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-ve-tranh-chap-hop-dong-su-dung-hinh-anh-so-1632023dspt-282171, truy cập ngày 05/3/2023.

[10]. Nguyễn Thành Minh Chánh (2021), tlđd, tr. 47 - 48.

[11]. Khái niệm đã được tác giả phân tích ở mục 2.

[12].https://www.uscourts.gov/sites/default/files/federal_rules_of_evidence_-_december_2020_0.pdf, truy cập ngày 06/3/2024.

[13]. Olivier Leroux, 2004. Legal Admissibility of Electronic Evidence, International Review of Law, Computers and Technology, 18 IRLCT. 193, 202.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Theo dõi chúng tôi trên: