Thứ sáu 20/03/2026 09:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguồn của chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

Bài viết phân tích các loại nguồn của chứng cứ điện tử và đưa ra một số gợi mở mang tính tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam trong thời gian tới.

1. Đặt vấn đề

Khi chúng ta thực hiện hành vi thì thông tin sẽ để lại trong thế giới vật chất, bao gồm thế giới vật chất đặc biệt trên môi trường điện tử, thiết bị điện tử. Những thông tin đó chính là chứng cứ và có thể được sử dụng để chứng minh những tình tiết của vụ việc dân sự. Hiện nay, có rất nhiều vụ án được chứng minh có sử dụng chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử. Trong bối cảnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định dữ liệu điện tử là một trong những nguồn của chứng cứ (khoản 1 Điều 94), từ đó nhiều vấn đề cần nghiên cứu được đặt ra. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích về chứng cứ điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử, đánh giá quy định của pháp luật tố tụng dân sự về vấn đề này cũng như đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam.

2. Khái niệm chứng cứ điện tử và nguồn của chứng cứ điện tử

Chứng cứ có vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung của vụ việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, tùy vào yêu cầu mà nghĩa vụ chứng minh có thể thuộc về đương sự, người yêu cầu. Nhóm có nghĩa vụ này phải chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình thông qua các thông tin, tài liệu, sự kiện được coi là chứng cứ. Trong thời đại Cách mạng công nghiệp 4.0 thì việc ứng dụng công nghệ thông tin ngày càng phổ biến trong các hoạt động của con người và ngày càng trở thành công cụ hữu hiệu để tham gia vào các quan hệ xã hội. Việc sử dụng các công cụ này đã để lại các dấu vết điện tử được ghi lại, lưu truyền dưới dạng dữ liệu điện tử như logfile, IP, mã độc, domain, thời gian, không gian mạng, thư điện tử, nickname, chat, tin nhắn… Thực chất, đây là loại chứng cứ mới được tạo ra và lưu trữ lại trong bộ nhớ của các thiết bị kỹ thuật số một cách tự động, khách quan, tồn tại dưới dạng những tín hiệu điện tử, có thể nhận biết, phát hiện, bảo quản và ghi lại vào ổ USB, đĩa CD/VCD… hoặc in ra giấy, ảnh và có thể sử dụng làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án[1]. Trong thực tiễn xét xử hiện nay, các bên đương sự, người yêu cầu và từ phía chủ thể tiến hành tố tụng cũng sử dụng các dữ liệu điện tử để chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình; giải quyết vụ việc dân sự và chúng được coi là “chứng cứ điện tử”. Đây là một thuật ngữ được sử dụng nhiều trong hoạt động tố tụng cũng như nghiên cứu khoa học nhưng khái niệm chính thức về chứng cứ điện tử chưa được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh thuật ngữ chứng cứ điện tử, hiện nay còn có một số các thuật ngữ tương tự thuộc nhóm chứng cứ điện tử được ghi nhận như chứng cứ số (Digital Evidence), chứng cứ điện tử (Electronic Evidence), chứng cứ máy tính (Computer Evidence)... Với cách hiểu này, trong bài viết, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ “chứng cứ điện tử” là khái niệm rộng nhất, bao hàm cả chứng cứ kỹ thuật số và chứng cứ máy tính.

Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về nguồn chứng cứ và thông điệp dữ liệu điện tử, tuy nhiên, vẫn chưa đủ thông tin để có thể xác định khái niệm chứng cứ điện tử cũng như nguồn chứng cứ điện tử. Có ý kiến cho rằng, chứng cứ điện tử là thông điệp dữ liệu điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu trữ bằng phương tiện điện tử thể hiện dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự, do các chủ thể tham gia quan hệ giao dịch điện tử lưu giữ, thu thập, cung cấp cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do pháp luật về giao dịch điện tử quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ việc dân sự cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp[2]. Cũng có ý kiến cho rằng, để dữ liệu điện tử được xem là chứng cứ hay gọi là chứng cứ điện tử thì dữ liệu điện tử được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về chứng cứ[3]. Ý kiến khác lại cho rằng, chứng cứ điện tử có thể được hiểu là những thông tin, dữ liệu được thu thập từ các thiết bị điện tử như máy tính và các thiết bị lưu trữ thông tin, dữ liệu hay các thông tin, dữ liệu từ mạng máy tính, điện thoại di động, máy ảnh kỹ thuật số... cũng như từ mạng internet, được các bên tham gia tố tụng cung cấp cho Tòa án hoặc do Tòa án và các cơ quan có thẩm quyền thu thập nhằm chứng minh cho các yêu cầu của các chủ thể hay các đương sự khi giải quyết các yêu cầu, vụ việc theo trình tự tố tụng[4].

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, nguồn chứng cứ bao gồm dữ liệu điện tử (Điều 94); thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử (Điều 95); chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định và được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp (Điều 93).

Từ những căn cứ trên, có thể hiểu, một trong những nguồn mà chứng cứ có thể được thu thập đó là dữ liệu điện tử. Theo khoản 7 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023, dữ liệu điện tử là dữ liệu được tạo ra, xử lý, lưu trữ bằng phương tiện điện tử. Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự. Để được coi là chứng cứ thì thông điệp dữ liệu phải bảo đảm các yêu cầu theo quy định của Luật Giao dịch điện tử và pháp luật về tố tụng. Như vậy, có thể thấy, chứng cứ điện tử không đồng nhất là dữ liệu điện tử (với tư cách là một loại nguồn chứng cứ). Dữ liệu điện tử có thể được tìm thấy trong các phương tiện điện tử có bộ nhớ trong có khả năng lưu trữ thông tin... Những phương tiện điện tử này là công cụ có tính năng kỹ thuật số, có thể khởi tạo, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận lại dữ liệu qua các thiết bị kết nối mạng[5]. Tuy nhiên, không phải tất cả dữ liệu điện tử tìm thấy trong các phương tiện điện tử đều được coi là chứng cứ điện tử mà chỉ những thông điệp dữ liệu phải bảo đảm ba thuộc tính của chứng cứ: Tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Có nghĩa là, thông điệp dữ liệu được lưu giữ trong dữ liệu điện tử phải có thật, tồn tại khách quan, không bị làm cho sai lệch; có liên quan đến vụ việc dân sự đang giải quyết; được thu thập từ nguồn chứng cứ có độ tin cậy cao và thu thập đúng trình tự do luật định. Như vậy, có thể hiểu, chứng cứ điện tử là những thông tin liên quan đến giải quyết vụ việc dân sự, tồn tại trong các dữ liệu điện tử được tạo ra, được gửi, được nhận, được lưu trữ bằng phương tiện điện tử.

Nguồn chứng cứ là hình thức tồn tại, chứa đựng chứng cứ[6]. Chứng cứ chỉ có thể hình thành và được thu thập từ những nguồn chứng cứ nhất định. Theo Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, chứng cứ được thu thập từ nhiều nguồn, trong đó có dữ liệu điện tử. Căn cứ này cho thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thừa nhận nguồn của chứng cứ điện tử chính là dữ liệu điện tử. Như vậy, có thể hiểu, nguồn của chứng cứ điện tử là hình thức, nơi chứa đựng những thông tin ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.

Tùy vào mỗi căn cứ sẽ có nhiều cách phân loại nguồn chứng cứ khác nhau:

- Dựa trên nền tảng hoạt động của các phương tiện điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử có thể tồn tại trong: (i) Hệ thống máy tính thông thường là hệ thống bao gồm phần cứng và phần mềm để xử lý dữ liệu; (ii) Hệ thống truyền thông là hệ thống điện thoại truyền thống, điện thoại không dây, mạng Internet và mạng nói chung.

- Dựa trên cách thức khởi tạo, nguồn của chứng cứ điện tử gồm: (i) Dữ liệu điện tử, do máy tính tự động tạo ra như “cookies”, “URL”, email logs, web server logs, IP...; (ii) Dữ liệu điện tử do con người tạo ra, được lưu giữ trong máy tính hoặc các thiết bị điện tử khác, như các văn bản, bảng biểu, các hình ảnh, thông tin… được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số[7].

- Dựa vào nội dung của dữ liệu điện tử, có thể phân chia thành các nhóm sau: (i) Dữ liệu chương trình; (ii) Hệ thống tin nhắn; (iii) Thông tin dữ liệu từ các ứng dụng cụ thể cho tổ chức; (iv) Thông tin dữ liệu từ các ứng dụng doanh nghiệp tổng quát; (v) Cơ sở dữ liệu là những bộ sưu tập dữ liệu được tổ chức theo hệ thống, có thể dễ dàng truy cập, quản lý và cập nhật; (vi) Thông tin dữ liệu từ websites; (vii) Thông tin dữ liệu từ Intranet (mạng nội bộ); (viii) Thông tin dữ liệu từ metadata hay “dữ liệu về dữ liệu”; (ix) Thông tin từ dữ liệu sao lưu; (x) Thông tin từ dữ liệu phân mảnh.

3. Những vấn đề pháp lý liên quan đến nguồn của chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự

3.1. Quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nguồn của chứng cứ điện tử chưa đầy đủ

Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lần đầu tiên quy định nguồn chứng cứ là dữ liệu điện tử. Tuy pháp luật tố tụng dân sự đã thừa nhận nguồn chứng cứ điện tử nhưng lại chưa đưa ra khái niệm chính thức về nguồn của chứng cứ điện tử trong các văn bản pháp luật mặc dù trong các nghiên cứu khoa học đã được sử dụng khá phổ biến. Khoản 1, khoản 2 Điều 11 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (khoản 1, khoản 2 Điều 14 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) mới chỉ quy định về giá trị dùng làm chứng cứ của thông điệp dữ liệu mà chưa đưa ra khái niệm về nguồn của chứng cứ điện tử.

Theo khoản 3 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để xác định chứng cứ điện tử thì nguồn của chứng cứ phải là thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Cũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, để được coi là chứng cứ thì phải được cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 lại không quy định về biện pháp thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử dẫn đến hậu quả là trên thực tế khi thu thập, đánh giá chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử, có nhiều Tòa án áp dụng rất khác nhau, dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong áp dụng pháp luật.

3.2. Khả năng xâm phạm quyền con người và bí mật cá nhân trong quá trình thu thập nguồn của chứng cứ điện tử

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với quy định mới về nguồn chứng cứ dữ liệu điện tử đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động chứng minh trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, trong quá trình cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản chứng cứ dữ liệu điện tử đã xuất hiện một số khó khăn trong việc bảo đảm quyền con người và bí mật cá nhân.

Trong xu hướng phát triển công nghệ mạnh mẽ như hiện nay, các phương tiện điện tử nói chung và đặc biệt là máy tính, điện thoại cá nhân có thể lưu trữ rất nhiều các thông tin về đời sống của mỗi cá nhân. Chúng chứa đựng rất nhiều thông tin đời tư của mỗi chủ sở hữu như tin nhắn, hình ảnh, số tài khoản ngân hàng… Khi khai thác chứng cứ điện tử từ các thông tin dữ liệu điện tử trên các phương tiện điện tử, nếu không khoanh vùng được vị trí của chứng cứ thì để đánh giá tính liên quan của chúng, cơ quan tiến hành tố tụng phải xem xét hầu hết mọi dữ liệu có trên máy tính, kiểm tra toàn bộ email, tin nhắn, danh bạ, hình ảnh, kể cả những nội dung về bí mật đời tư không liên quan để lọc ra những thông tin có giá trị chứng cứ. Điều đó có thể dẫn tới hậu quả là người tiến hành tố tụng phải đối mặt với trách nhiệm về việc xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về bí mật thư tín, điện tín, bí mật cá nhân. Thậm chí không thể loại trừ trường hợp người nắm thông tin sẽ lợi dụng bí mật cá nhân đó để trục lợi hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.

3.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về việc sử dụng, đánh giá nguồn chứng cứ điện tử chưa thống nhất

Xuất phát từ quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về nguồn của chứng cứ điện tử còn chưa đầy đủ, rõ ràng (như về khái niệm; trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản)[8] nên trong thực tế, việc áp dụng cũng chưa thống nhất giữa các Tòa án. Có thể phân tích qua hai ví dụ sau đây:

- Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 22/02/2022 của Tòa án nhân dân quận H, Thành phố N: Ngày 05/12/2018, bà P và Công ty Ne ký kết Hợp đồng dịch vụ số 22012019/2019/HĐDV để Công ty Ne được phép sử dụng hình ảnh của bà P trong thời hạn từ ngày 05/01/2019 đến hết ngày 04/4/2019 với tổng giá trị hợp đồng là 15.000.000 đồng. Sau đó, bà P đã phối hợp và tạo mọi điều kiện để Công ty Ne sử dụng hình ảnh của bà P một cách thuận lợi và hiệu quả. Đồng thời, Công ty Ne cũng đã hoàn thành việc thanh toán 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi thời hạn sử dụng hình ảnh của bà P chấm dứt, từ ngày 05/4/2019 đến ngày 16/12/2019, Công ty Ne tiếp tục sử dụng trái phép hình ảnh công khai tại rất nhiều website như: Fanpage Facebook “Thẩm mỹ viện Quốc tế Ne”, kênh Youtube “Thẩm mỹ viện Quốc tế Ne”, website https://thammyvienNe.com và một số website khác của Công ty Ne. Tất cả các hình ảnh, video, bài viết... có sử dụng trái phép hình ảnh của bà P tại các phương tiện truyền thông của Công ty Ne đã được ghi nhận, thu thập và được Văn phòng Thừa phát lại quận B, Thành phố C lập Vi bằng số 2161/2019/VB-TPL ngày 16/12/2019. Trên cơ sở chứng cứ từ các nguồn là thông tin dữ liệu trên Fanpage Facebook, Youtube, website mà Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P về việc đòi Công ty Ne trả số tiền sử dụng hình ảnh từ ngày 06/4/2019 đến ngày 16/12/2019 (làm tròn thành 08 tháng) theo Hợp đồng dịch vụ số 22012019/2019/HĐDV[9].

- Tại Bản án số 735/2019/DS-PT ngày 21/8/2019 của Tòa án nhân dân Thành phố C về tranh chấp bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì Tòa án đã không chấp nhận chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử. Cụ thể, nguyên đơn là Trường Mầm non H cung cấp chứng cứ là Vi bằng số 452/2016/VB-TPLQ.TĐ ngày 12/7/2016 của Văn phòng Thừa phát lại quận T về hình ảnh đăng tin: “Ai có con em học ở Trường Mầm non H thì cẩn thận trường đang dùng nước giếng khoan gần nghĩa địa cho các cháu dùng” là Facebook có tên gọi “H.N”. Tòa án đã không chấp nhận chứng cứ điện tử vì không xác định ai là chủ tài khoản Facebook, không bảo đảm tính trọn vẹn của chứng cứ và nội dung trên Facebook dễ dàng thay đổi bởi chủ tài khoản mặc dù phía nguyên đơn có lập vi bằng[10].

Như vậy, trong vụ việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng hình ảnh” trên thì nguồn chứng cứ điện tử là các thông tin dữ liệu từ nguồn chứng cứ điện tử khi được Văn phòng Thừa phát lại quận B, thành phố C lập vi bằng. Trong khi đó, trong vụ việc “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm” lại không thừa nhận chứng cứ được lấy từ nguồn chứng cứ điện tử là thông tin dữ liệu trên Facebook dù rằng cũng được lập vi bằng. Việc thiếu quy định chi tiết về khái niệm; trình tự, thủ tục cung cấp, thu thập, đánh giá, bảo quản với chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử sẽ dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật chưa thống nhất giữa các địa phưương, từ đó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các chủ thể.

4. Một số gợi mở mang tính tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, cần nhanh chóng xây dựng khái niệm chứng cứ điện tử, nguồn của chứng cứ điện tử[11] và cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật. Trên cơ sở hai khái niệm này, cần nhận thức và phân biệt chứng cứ điện tử với dữ liệu điện tử (nguồn chứng cứ). Ngoài ra, để bảo đảm thống nhất trên thực tiễn khi xem xét, sử dụng và đánh giá chứng điện tử, cần quy định riêng biệt về các vấn đề như giá trị chứng cứ của dữ liệu điện tử, phương thức thu thập...

Hiện nay, chứng cứ trong tố tụng dân sự được xây dựng thành một chương riêng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Có một số quốc gia ban hành một đạo luật riêng về chứng cứ áp dụng với tất cả các loại án như Hoa Kỳ[12]. Tuy nhiên, lựa chọn quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự hay quy định riêng trong một đạo luật luôn có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay, theo tác giả, trước mắt vẫn nên sử dụng Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 làm nguồn chủ đạo, sau đó sẽ tiến hành sửa đổi, bổ sung về nội dung liên quan đến nguồn của chứng cứ điện tử. Lựa chọn này sẽ giúp cho người áp dụng thuận tiện hơn vì chỉ cần sử dụng một đạo luật và không làm xáo trộn hệ thống pháp luật, khi cần thiết vẫn có thể ban hành văn bản dưới luật để hướng dẫn, lựa chọn án lệ…

Thứ hai, trong các vụ việc dân sự, sự tôn trọng quyền riêng tư có ý nghĩa quan trọng cho các bên. Tuy nhiên, trong những trường hợp cần thiết, Tòa án vẫn có quyền tự mình thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật để tìm ra được sự thật khách quan. Chính vì vậy, khi thu thập chứng cứ từ nguồn chứng cứ điện tử cũng sẽ có thể ảnh hưởng đến quyền riêng tư của các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Để bảo đảm sự hài hòa giữa việc khai thác nguồn chứng cứ điện tử và quyền riêng tư của các chủ thể cần nhanh chóng xây dựng quy trình công nghệ để bảo đảm yếu tố quyền riêng tư, ví dụ như chủ thể thu thập chứng cứ từ nguồn dữ liệu điện tử chỉ được thu thập thông tin có liên quan đến yêu cầu chứng minh của vụ việc dân sự đang giải quyết[13].

Thứ ba, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng của người tiến hành tố tụng đáp ứng được nhu cầu thực tế công tác thu thập nguồn của chứng cứ điện tử; đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử. Để giải quyết các vụ việc có sử dụng chứng cứ điện tử thì người tiến hành tố tụng phải có hiểu biết nhất định về dữ liệu điện tử, từ đó quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ điện tử mới được thực hiện đầy đủ và toàn diện. Do đó, cần có các chương trình đào tạo, tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo thường xuyên cho thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên và thư ký Tòa án về vấn đề này./.

Đào Thị Diệu Thương

Khoa Luật, Trường Đại học Sài Gòn

[1]. Trần Văn Hòa, “Vấn đề chứng cứ điện tử”, Những nội dung mới trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia, 2016, Hà Nội, tr. 221.

[2]. Nguyễn Hải An (2019), “Chứng cứ và chứng cứ điện tử theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam, số 04, tr. 38.

[3]. Nguyễn Thành Minh Chánh (2021), “Pháp luật về chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24 (448), tr. 44.

[4]. Đinh Thị Ngọc Hà (2023), “Chứng cứ điện tử trong tố tụng dân sự theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 376, tr. 75.

[5]. Lê Nguyên Thanh (2023), Chứng cứ điện tử và thu thập chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chứng cứ và chứng minh trong giải quyết vụ án hình sự, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 161.

[6]. Giáo trình Luật Tố tụng dân sự (2020), Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng Đức, tr. 216.

[7]. Phan Xuân Tân (2017), Nguồn chứng cứ điện tử trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 15, 16.

[8]. Đã được phân tích ở mục 4.1.

[9].https://thuvienphapluat.vn/banan/ban-an/ban-an-ve-tranh-chap-hop-dong-su-dung-hinh-anh-so-1632023dspt-282171, truy cập ngày 05/3/2023.

[10]. Nguyễn Thành Minh Chánh (2021), tlđd, tr. 47 - 48.

[11]. Khái niệm đã được tác giả phân tích ở mục 2.

[12].https://www.uscourts.gov/sites/default/files/federal_rules_of_evidence_-_december_2020_0.pdf, truy cập ngày 06/3/2024.

[13]. Olivier Leroux, 2004. Legal Admissibility of Electronic Evidence, International Review of Law, Computers and Technology, 18 IRLCT. 193, 202.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 404), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: