Thứ hai 07/09/2026 04:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc đối xử với nhà đầu tư tại hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Việt Nam là một trong 11 quốc gia thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết vào ngày 08/3/2018 tại Chile. Hiệp định đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới cần nghiên cứu nhằm áp dụng trong tương lai. Một số nguyên tắc đối xử dành cho nhà đầu tư và tài sản đầu tư như đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, đối xử trong trường hợp có xung đột vũ trang và bạo loạn dân sự là một trong những vấn đề như thế.


Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)[1] là một hiệp định toàn diện không chỉ quy định về thương mại mà còn về sở hữu trí tuệ, đầu tư và một số lĩnh vực khác. Hiệp định được ký kết mở ra nhiều vấn đề mới về mặt pháp lý cần được phân tích trước khi nội luật hóa cũng như áp dụng pháp luật, đó là vấn đề bảo hộ nhà đầu tư theo tiêu chuẩn đối xử tối thiểu tại Điều 9.6 (Minimum standard of treatment) và đối xử trong trường hợp bạo loạn vũ trang hoặc xung đột dân sự tại Điều 9.7 (Treatment in case of armed conflict or civil strife).

Trong bài viết này, tác giả đề cập đến các nội dung xoay quanh Chương 9 - Đầu tư (Investment) của Hiệp định CPTPP, trong đó, tập trung phân tích Điều 9.6 và Điều 9.7, cũng như một số án lệ của Tòa án, trọng tài quốc tế có liên quan. Từ những phân tích này, có thể sử dụng để làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và vận dụng áp dụng pháp luật trong thực tiễn quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.

1. Tổng quan Chương 9 - Đầu tư (Investment) của Hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP có tất cả 30 chương và 4 phụ lục, cùng một số văn kiện có liên quan kèm theo. Trong đó, Chương 9 của Hiệp định có 30 điều và 12 phụ lục của chương được đánh ký hiệu từ A đến L. Nội dung chính của chương này bao gồm các định nghĩa pháp lý của một số nội hàm liên quan, các quy định pháp lý về đầu tư, bảo hộ đầu tư, giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư, cũng như luật áp dụng. Về tổng thể, Chương 9 của Hiệp định CPTPP đã giải quyết gần như đầy đủ các vấn đề liên quan đến đầu tư nói chung và các tranh chấp liên quan đến đầu tư nói riêng. Phạm vi áp dụng của Chương 9 bao gồm:

- Đầu tư của một bên (investors of another Party): Bao gồm Chính phủ, công dân, doanh nghiệp của một bên trong hiệp định chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện, đã thực hiện trên lãnh thổ của bên khác.

- Hoạt động đầu tư theo Hiệp định (covered invesment): Là đầu tư của một bên trong Hiệp định trên lãnh thổ của một bên khác, kể từ ngày có hiệu lực của Hiệp định hoặc được thành lập, mua lại hay mở rộng sau đó.

- Các hoạt động đầu tư để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thực thi, nghĩa vụ đối với môi trường, với sức khỏe và mục tiêu quản lý[2].

Về vấn đề chủ thể thực hiện nghĩa vụ của chương, Hiệp định CPTPP quy định là: Cơ quan, chính quyền cấp trung ương, địa phương của bên là thành viên Hiệp định; tổ chức gồm doanh nghiệp nhà nước hay tổ chức bất kỳ, cá nhân mà thực thi quyền hạn do Chính phủ cấp trung ương, địa phương ủy nhiệm.

Các nhà đầu tư theo quy định của Hiệp định CPTPP được hưởng ưu đãi đối xử theo nguyên tắc: Đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, đối xử theo tiêu chuẩn tối thiểu và đối xử trong trường hợp xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự.

2. Đối xử quốc gia (National treatment) và đối xử tối huệ quốc (Most - Favoured - National treatment)

Quy định về đối xử quốc gia tại Điều 9.4 của Hiệp định CPTPP cho phép các nhà đầu tư từ các quốc gia là thành viên của Hiệp định được hưởng các ưu đãi ngang bằng với các nhà đầu tư trong nước. Ưu điểm của đối xử quốc gia là xóa bỏ sự thiên vị giữa công dân quốc gia và nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng nhược điểm của đối xử quốc gia là Chính phủ có thể giảm bớt quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài tương tự như giảm bớt quyền lợi của nhà đầu tư nước mình.

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) tại Điều 9.5 là đối xử ngang bằng giữa các nhà đầu tư bất kỳ mà nhà đầu tư đó có thể đến từ quốc gia là thành viên hay không là thành viên của Hiệp định. Ưu điểm của nguyên tắc MFN là cam kết đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư đến từ những quốc gia khác nhau thuộc hay không thuộc Hiệp định, tránh các tác động tiêu cực do sự bóp méo về phân biệt đối xử dựa trên quốc tịch nhà đầu tư.

Nhìn trên bình diện pháp luật quốc gia về đầu tư, thì Hiệp định CPTPP với nội dung về đầu tư là một phần trong hệ thống pháp luật quốc gia để giải quyết vấn đề đầu tư, nhưng các quy định tại Hiệp định không phải là duy nhất mà còn có quy định của Luật Đầu tư. Theo thống kê của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)[3], cho đến cuối năm 2016, trên thế giới có 108 bộ luật đầu tư của các quốc gia, hầu hết được xây dựng từ các quốc gia đang phát triển và được thông qua từ năm 1989 trở về sau[4]. Tại Việt Nam, Luật Đầu tư năm 2014 đã có nội dung về đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc. Như vậy, nếu so sánh với quy định tại Hiệp định CPTPP thì không phải là nội dung mới. Cụ thể, tại Điều 2 Luật Đầu tư năm 2014 quy định đối tượng áp dụng là nhà đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam không phân biệt trong nước hay nước ngoài; tại Điều 5 Luật Đầu tư quy định, Chính phủ Việt Nam cam kết nguyên tắc đối xử bình đẳng, không phân biệt với tất cả các nhà đầu tư. Những quy định nêu trên tại Luật Đầu tư năm 2014 đã đáp ứng rất tốt mục tiêu thu hút đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư.

3. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (Minimum standard of treatment)

Để làm rõ khái niệm tiêu chuẩn đối xử tối thiểu cần phân tích cơ sở pháp lý áp dụng của tiêu chuẩn là Luật Tập quán quốc tế (Customary internatinal law). Khái niệm Luật Tập quán quốc tế trong Hiệp định CPTPP được làm rõ tại Phụ lục 9-A của Hiệp định. Theo đó, Luật Tập quán quốc tế được hình thành từ thực tiễn chung và nhất quán mà các quốc gia thực thi dựa trên các nghĩa vụ pháp lý. Đồng thời, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu dẫn chiếu tất cả các nguyên tắc của Luật Tập quán quốc tế về bảo vệ đầu tư của người nước ngoài. Như vậy, khái niệm này cũng tương thích với khái niệm về Luật Tập quán quốc tế của cơ quan tư pháp chính của Liên Hiệp Quốc[5] - Tòa án Công lý quốc tế (ICJ): Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật. Vì vậy, trong quá trình giải quyết các vụ kiện phát sinh từ đầu tư đã có nhiều cách diễn giải, áp dụng khác nhau. Những án lệ của Tòa án trong giải quyết vụ kiện về đối xử và bảo hộ trong đầu tư vẫn gây ra nhiều tranh luận giữa trọng tài và trong giới học giả. Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng có nguồn gốc từ Luật Tập quán quốc tế và nó thường được xem là để che đậy nguyên tắc không phân biệt đối xử, cùng với các nguyên tắc pháp lý khác có liên quan đến việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ý nghĩa trừu tượng hơn tiêu chuẩn của đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc.

Đối xử tối thiểu được hiểu là đối xử công bằng, thỏa đáng và bảo hộ an toàn đầy đủ theo Luật Tập quán quốc tế. Tuy nhiên, sự đối xử này chỉ yêu cầu đến mức tối thiểu, không vượt quá phạm vi và tiêu chuẩn của Luật Tập quán quốc tế. Thuật ngữ đối xử công bằng được tìm thấy nhiều nhất trong “bộ sưu tập” các hiệp định song phương của Hoa Kỳ về hữu nghị, thương mại, hàng hải (The US treaties on Friendship, Commerce and Navigation - FCN), từ các hiệp định này đã sinh ra các nguyên tắc đối xử quốc gia, tối huệ quốc, với hơn 48 quốc gia trên thế giới[6]. Đối với cấp độ tổ chức thế giới thì thuật ngữ này chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Điều 11(2) Hiến chương Havana năm 1948[7] của Tổ chức Thương mại quốc tế, tuy rằng sau đó Hiến chương Havana không được thực thi. Tại tổ chức Asean năm 1987 trong Hiệp định về xúc tiến và bảo hộ đầu tư[8], Điều IV cũng đã đề cập đến đối xử công bằng và thỏa đáng. Hoặc tham khảo Điều 1105(1) Chương XI của Hiệp định Thương mại tự do Bắc - Mỹ (NAFTA) về đối xử công bằng, thỏa đáng và tiêu chuẩn tối thiểu, nhận thấy quy định tại Điều 9.6(1) của Hiệp định CPTPP là tương tự Điều 1105(1) của NAFTA[9]. Như vậy, ngày nay, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu thường là một phần của Hiệp định thương mại, trong đó nước chủ nhà dành sự bảo hộ cho đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu dường như trái ngược với nguyên tắc đối xử quốc gia nếu nhìn nhận từ góc độ xác định chính xác pháp luật áp dụng. Tiêu chuẩn đối xử quốc gia sử dụng hành lang pháp lý là luật quốc gia, có tính bắt buộc trong nội dung, diễn giải, hoàn cảnh và phương pháp áp dụng; trong khi tiêu chuẩn đối xử tối thiểu lại căn cứ vào Luật Tập quán quốc tế. Việc áp dụng Luật Tập quán quốc tế còn chưa có bộ quy chuẩn thống nhất, phần lớn phụ thuộc vào sự diễn giải của trọng tài hoặc Tòa án. Câu hỏi đặt ra là, tại sao đã có nguyên tắc đối xử quốc gia, dành sự đối xử đối với đầu tư nước ngoài ngang bằng công dân quốc gia, lại cần có nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. Thật ra, nguyên tắc đối xử tiêu chuẩn tối thiểu là một dạng “nguyên tắc dự phòng”, để dự phòng trong một số trường hợp quốc gia bác bỏ, chấm dứt một số quyền lợi của công dân hoặc quyền hiện có của công dân chưa đáp ứng đầy đủ theo tiêu chuẩn của hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. Mối quan hệ giữa tiêu chuẩn đối xử tối thiểu và đối xử quốc gia thường là mối quan hệ trước sau. Khi phát sinh một sự kiện pháp lý thì nguyên tắc đối xử quốc gia là bước đi pháp lý đầu tiên để giải quyết vấn đề. Nếu vấn đề không được hoặc không thể giải quyết bằng nguyên tắc đối xử quốc gia thì bước tiếp theo sẽ cần đến nguyên tắc đối xử tiêu chuẩn tối thiểu. Như vậy, luật quốc gia và áp dụng pháp luật quốc gia là hai đĩa cân của “chiếc cân pháp lý” để xem xét và so sánh trách nhiệm và nghĩa vụ của Chính phủ phải áp dụng pháp luật như thế nào trong trường hợp cụ thể đó và đã áp dụng pháp luật để bảo vệ nhà đầu tư chưa. Trong trường hợp Chính phủ đã áp dụng pháp luật quốc gia để bảo vệ quyền của nhà đầu tư nước ngoài như đã bảo vệ công dân quốc gia thì nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu có thể không được kích hoạt và ngược lại. Vụ kiện của Khách sạn Wena và Cộng hòa Ai Cập do Trung tâm Trọng tài quốc tế giải quyết tranh chấp về đầu tư ICSID giải quyết (số tham chiếu ICSID ARB/98/4)[10] là điển hình như thế. Khách sạn Wena bị trưng thu bởi tổ chức nhà nước có tên là EHC, mặc dù Chính phủ Ai Cập không ban hành quyết định trên, nhưng có biết về ý định và quyết định đó, song không có biện pháp, hành động ngăn chặn, chậm trễ giải quyết khôi phục lại khách sạn và không có hành động đáng kể nào trừng phạt tổ chức nhà nước EHC. Vì vậy, ICSID phán quyết: Chính phủ Ai Cập đã vi phạm nghĩa vụ về phải đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho nhà đầu tư. Như vậy, nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ là một tiêu chuẩn pháp lý cơ bản khởi nguồn từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế, ngay cả khi điều này không được tuyên bố rõ ràng và là một điều khoản chung có thể được sử dụng cho tất cả các khía cạnh của việc bảo hộ đầu tư, trong trường hợp không có bảo đảm cụ thể hơn. Ngoài ra, nó còn cung cấp hướng dẫn chung cho việc giải thích thỏa thuận và giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trên thực tế.

Thông qua việc xem xét các bản án của Tòa án và trọng tài về vấn đề áp dụng tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, được diễn giải thành nội dung “đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ”, nhận thấy có ba yếu tố cấu thành nên nghĩa vụ của Chính phủ, bao gồm: (i) Phải có nghĩa vụ cảnh giác trước các nguy cơ gây thiệt hại cho đầu tư đồng thời thực thi các biện pháp quản lý rủi ro để hạn chế nguy cơ; (ii) Không từ chối công lý và tùy tiện áp dụng pháp luật; (iii) Minh bạch và công bằng trong việc đáp ứng kỳ vọng cơ bản của nhà đầu tư cũng như trong xây dựng và áp dụng pháp luật. Nếu Chính phủ tiếp nhận đầu tư xây dựng và giải quyết tốt ba yếu tố cấu thành nên nghĩa vụ đối xử công bằng thỏa đáng và bảo hộ đầu đủ nhà đầu tư thì một trong hai trụ cột của vấn đề đầu tư cơ bản đã được giải quyết[11].

4. Đối xử trong trường hợp xung đột vũ trang (Armed confict) hoặc bạo loạn dân sự (Civil strife)

Tại Điều 9.7 của Hiệp định CPTPP nêu ra nguyên tắc đối xử đầu tư khi có xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, trong Hiệp định không có định nghĩa về xung đột vũ trang, bạo loạn dân sự và cơ sở pháp lý để đánh giá như thế nào là một cuộc xung đột vũ trang hay xung đột không vũ trang và bạo loạn dân sự;cũng như pháp luật áp dụng là pháp luật quốc gia đầu tư hoặc quốc gia tiếp nhận đầu tư, hoặc luật pháp quốc tế.

Theo công tố viên của Tòa án Hình sự quốc tế thì xung đột vũ trang được hiểu là xung đột có thời gian tương đối dài giữa lực lượng vũ trang giữa các quốc gia, giữa các lực lượng vũ trang của Chính phủ, giữa lực lượng vũ trang của Chính phủ và tổ chức khác[12]. Thuật ngữ bạo loạn dân sự thường được hiểu là những cuộc đấu tranh của một nhóm người, được bắt nguồn từ những vấn đề quốc gia, có sử dụng bạo lực, thường được diễn ra trong thời gian tương đối ngắn.

Như vậy, tại Điều 9.7, các thành viên của Hiệp định CPTPP cam kết sẽ dành nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đối với các quyết định hoặc biện pháp liên quan đến việc khắc phục, bồi thường thiệt hại hoặc là cả hai cho các nhà đầu tư của Hiệp định. Những quyền lợi mà nhà đầu tư được hưởng từ Chính phủ trong trường hợp này không xuất phát từ quyền được quy định tại Hiệp định mà những đối xử này là ngang bằng giữa các nhà đầu tư, giữa công dân trong cùng một tình huống cụ thể. So sánh quy định tại Điều 9.7 với quy định tại Điều 9.5 và 9.6 nhận thấy, Điều 9.5 và Điều 9.6 dường như thiết kế để bảo vệ tài sản và tính mạng nhà đầu tư chống lại sự tấn công đến từ phía Chính phủ tiếp nhận đầu tư; mà Chính phủ đó có thể suy đoán, hành động có chủ đích thông qua việc xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật gây bất lợi cho nhà đầu tư. Đối lập lại Điều 9.7 thiết kế để bảo vệ nhà đầu tư chống lại sự tấn công đến từ phe đối lập trong Chính phủ hoặc từ quốc gia đối đầu với Chính phủ hoặc từ tổ chức dân sự hoặc từ cá nhân, nhóm người; mà những chủ thể này suy tính, hành động không theo mong muốn hoặc chủ đích của Chính phủ tiếp nhận đầu tư.

Lưu ý, đối với trường hợp trưng dụng trong xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự thì sự khắc phục bồi thường thiệt hại là đương nhiên. Tuy nhiên, Chính phủ quốc gia tiếp nhận đầu tư không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do phá hủy mà không do lực lượng chính quyền hoặc chính quyền gây ra. Trách nhiệm bồi thường hoặc khắc phục của Chính phủ chỉ dừng lại đối với những thiệt hại bị gây ra do lực lượng chính quyền hoặc chính quyền; hoặc khi lực lượng chính quyền hoặc chính quyền phá hủy một phần hay toàn bộ phần đầu tư trong trường hợp không cần thiết. Ngược lại, những phá hủy từ chính quyền hoặc lực lượng chính quyền mà hợp pháp thì không được bồi thường. Những quy định này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Án lệ AAPL với Sri Lanka[13] được giải quyết tại Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID) là ví dụ điển hình cho trường hợp này. Năm 1983, nhà đầu tư đến từ Hồng Kông đã đầu tư vào miền Đông Sri Lanka, đến năm 1987, toàn bộ tài sản của nhà đầu tư bị phá hủy bởi cuộc xung đột vũ trang giữa lực lượng Chính phủ và tổ chức vũ trang Những con hổ giải phóng Tamil. Nhà đầu tư yêu cầu Chính phủ bồi thường tài sản của họ bị phá hủy trong cuộc xung đột. Kết luận của ICSID về yêu cầu này là: Không có căn cứ để chứng minh Chính phủ đã phá hủy tài sản đầu tư; không có quy định pháp lý quốc tế nào yêu cầu quốc gia nơi có cuộc xung đột diễn ra phải chịu trách nhiệm về những tổn thất cho nhà đầu tư nước ngoài không do Chính phủ gây ra, nếu đã cung cấp đầy đủ những tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo yêu cầu của luật pháp quốc tế. Một trong số các tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo quy định của pháp luật quốc tế trong trường hợp xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự thường được các trung tâm trọng tài tham khảo là The Spanish Zone of Morocco Claims (1924-1925)[14]. Tuy nhiên, đối với Hiệp định CPTPP thì quy định về xung đột vũ trang có nhiều khả năng không được vận dụng trên thực tế, vì 11 quốc gia thành viên hầu hết là những quốc gia có an ninh chính trị cao.

Các nguyên tắc đối xử tại Hiệp định CPTPP là những nguyên tắc chung nền tảng để các quốc gia thành viên sử dụng trong việc ưu đãi, bảo hộ nhà đầu tư và tài sản đầu tư. Tuy nhiên, nếu xảy ra các tranh chấp pháp lý liên quan đến nguyên tắc đối xử hoặc xung đột vũ trang hay bạo loạn dân sự mà pháp luật và việc áp dụng pháp luật quốc gia chưa đáp ứng kỳ vọng nhà đầu tư nhà đầu tư có thể sử dụng Mục B Chương 9 Hiệp định CPTPP “Giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư” để giải quyết các tranh chấp phát sinh.Các tranh chấp pháp lý này có thể được giải quyết bằng thương lượng, tham vấn hoặc khiếu kiện ra trọng tài do hai bên lựa chọn, hoặc cơ chế trọng tài của ICSID hoặc trọng tài UNCITRAL.

Đầu tư nước ngoài là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển nhanh, mạnh, nhất là đối với Việt Nam một quốc gia đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa và khao khát nguồn vốn đầu tư. Các hiệp định thương mại có liên quan đến vấn đề đầu tư của Việt Nam được ký kết kể từ năm 1994, đi từ quá khứ giản đơn song phương đến các hiệp định thương mại đa phương thế hệ mới là cả một chặng đường dài của lịch sử pháp lý. Những nguyên tắc đối xử mà nhà nước Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước ngoài và tài sản của họ trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế nói chung và Hiệp định CPTPP nói riêng là nền tảng pháp lý quan trọng để thực thi cam kết bảo hộ nhà đầu tư. Những vấn đề về đầu tư được quy định trong Hiệp định CPTPP là một minh chứng điển hình cho cam kết của Nhà nước Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ Việt Nam mong muốn đón nhận ngày càng nhiều dòng vốn đầu tư và cam kết bảo hộ nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế, tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, minh bạch và bình đẳng.

ThS. Nguyễn Quốc Trí

Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương



Tài liệu tham khảo:

[1]. Toàn văn của Hiệp định CPTPP, truy cập tại: http://www.trungtamwto.vn/tpp/van-kien-hiep-dinh-cptpp, truy cập ngày 25/5/2018.

[2]. Các nghĩa vụ này được quy định tại Điều 9.10 và 9.16.

[3]. http://fia.mpi.gov.vn/detail/278/UNCTAD.

[4]. Truy cập tại: http://unctad.org/en/pages/newsdetails.aspx?OriginalVersionID=1388 ngày 01/6/2018.

[5]. Điều 92 Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945.

[6]. Friendship, Commerce, and Navigation and Similar Treaties or Other International Agreements in Force in Whole or in Major Part [1981].

[7]. Truy cập tại: https://www.wto.org/english/docs_e/legal_e/havana_e.pdf, ngày truy cập 27/5/2018.

[8]. Truy cập tại: http://asean.org/?static_post=the-1987-asean-agreement-for-the-promotion-and-protection-of-investments, ngày truy cập 28/7/2018.

[9]. Nguyên văn Điều 1105(1) Chương XI của Hiệp định NAFTA: Each Party shall accord to investments of investors of another Party treatment in accordance with international law, including fair and equitable treatment and full protection and security.

[10]. Truy cập tại: http://investmentpolicyhub.unctad.org/ISDS/Details/29 ngày truy cập 29/5/2018.

[11]. Như đã phân tích trong mục tiêu chuẩn đối xử quốc gia phần trên, 02 trụ cột của vấn đề đầu tư cần giải quyết là: Thứ nhất, thu hút đầu tư cho quốc gia; thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.

[12]. Định nghĩa từ Công tố viên với Dusko Tadic, số IT-94-1-AR 72, Tòa án Hình sự quốc tế cho Phòng Kháng nghị Nam Tư cũ trong Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), truy cập tại: http://www.icty.org/x/cases/tadic/ acdec/en/51002.htm Phần IV, ngày truy cập 01/6/2018.

[13]. Truy cập tại: investmentpolicyhub.unctad.org/ISDS/Details/1, ngày truy cập 01/6/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.

Theo dõi chúng tôi trên: