Thứ hai 16/03/2026 12:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc đối xử với nhà đầu tư tại hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương

Việt Nam là một trong 11 quốc gia thành viên của Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được ký kết vào ngày 08/3/2018 tại Chile. Hiệp định đã đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới cần nghiên cứu nhằm áp dụng trong tương lai. Một số nguyên tắc đối xử dành cho nhà đầu tư và tài sản đầu tư như đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, đối xử trong trường hợp có xung đột vũ trang và bạo loạn dân sự là một trong những vấn đề như thế.


Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)[1] là một hiệp định toàn diện không chỉ quy định về thương mại mà còn về sở hữu trí tuệ, đầu tư và một số lĩnh vực khác. Hiệp định được ký kết mở ra nhiều vấn đề mới về mặt pháp lý cần được phân tích trước khi nội luật hóa cũng như áp dụng pháp luật, đó là vấn đề bảo hộ nhà đầu tư theo tiêu chuẩn đối xử tối thiểu tại Điều 9.6 (Minimum standard of treatment) và đối xử trong trường hợp bạo loạn vũ trang hoặc xung đột dân sự tại Điều 9.7 (Treatment in case of armed conflict or civil strife).

Trong bài viết này, tác giả đề cập đến các nội dung xoay quanh Chương 9 - Đầu tư (Investment) của Hiệp định CPTPP, trong đó, tập trung phân tích Điều 9.6 và Điều 9.7, cũng như một số án lệ của Tòa án, trọng tài quốc tế có liên quan. Từ những phân tích này, có thể sử dụng để làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và vận dụng áp dụng pháp luật trong thực tiễn quản lý hoạt động đầu tư nước ngoài.

1. Tổng quan Chương 9 - Đầu tư (Investment) của Hiệp định CPTPP

Hiệp định CPTPP có tất cả 30 chương và 4 phụ lục, cùng một số văn kiện có liên quan kèm theo. Trong đó, Chương 9 của Hiệp định có 30 điều và 12 phụ lục của chương được đánh ký hiệu từ A đến L. Nội dung chính của chương này bao gồm các định nghĩa pháp lý của một số nội hàm liên quan, các quy định pháp lý về đầu tư, bảo hộ đầu tư, giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư, cũng như luật áp dụng. Về tổng thể, Chương 9 của Hiệp định CPTPP đã giải quyết gần như đầy đủ các vấn đề liên quan đến đầu tư nói chung và các tranh chấp liên quan đến đầu tư nói riêng. Phạm vi áp dụng của Chương 9 bao gồm:

- Đầu tư của một bên (investors of another Party): Bao gồm Chính phủ, công dân, doanh nghiệp của một bên trong hiệp định chuẩn bị thực hiện, đang thực hiện, đã thực hiện trên lãnh thổ của bên khác.

- Hoạt động đầu tư theo Hiệp định (covered invesment): Là đầu tư của một bên trong Hiệp định trên lãnh thổ của một bên khác, kể từ ngày có hiệu lực của Hiệp định hoặc được thành lập, mua lại hay mở rộng sau đó.

- Các hoạt động đầu tư để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thực thi, nghĩa vụ đối với môi trường, với sức khỏe và mục tiêu quản lý[2].

Về vấn đề chủ thể thực hiện nghĩa vụ của chương, Hiệp định CPTPP quy định là: Cơ quan, chính quyền cấp trung ương, địa phương của bên là thành viên Hiệp định; tổ chức gồm doanh nghiệp nhà nước hay tổ chức bất kỳ, cá nhân mà thực thi quyền hạn do Chính phủ cấp trung ương, địa phương ủy nhiệm.

Các nhà đầu tư theo quy định của Hiệp định CPTPP được hưởng ưu đãi đối xử theo nguyên tắc: Đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, đối xử theo tiêu chuẩn tối thiểu và đối xử trong trường hợp xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự.

2. Đối xử quốc gia (National treatment) và đối xử tối huệ quốc (Most - Favoured - National treatment)

Quy định về đối xử quốc gia tại Điều 9.4 của Hiệp định CPTPP cho phép các nhà đầu tư từ các quốc gia là thành viên của Hiệp định được hưởng các ưu đãi ngang bằng với các nhà đầu tư trong nước. Ưu điểm của đối xử quốc gia là xóa bỏ sự thiên vị giữa công dân quốc gia và nhà đầu tư nước ngoài. Nhưng nhược điểm của đối xử quốc gia là Chính phủ có thể giảm bớt quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài tương tự như giảm bớt quyền lợi của nhà đầu tư nước mình.

Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) tại Điều 9.5 là đối xử ngang bằng giữa các nhà đầu tư bất kỳ mà nhà đầu tư đó có thể đến từ quốc gia là thành viên hay không là thành viên của Hiệp định. Ưu điểm của nguyên tắc MFN là cam kết đảm bảo sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà đầu tư đến từ những quốc gia khác nhau thuộc hay không thuộc Hiệp định, tránh các tác động tiêu cực do sự bóp méo về phân biệt đối xử dựa trên quốc tịch nhà đầu tư.

Nhìn trên bình diện pháp luật quốc gia về đầu tư, thì Hiệp định CPTPP với nội dung về đầu tư là một phần trong hệ thống pháp luật quốc gia để giải quyết vấn đề đầu tư, nhưng các quy định tại Hiệp định không phải là duy nhất mà còn có quy định của Luật Đầu tư. Theo thống kê của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD)[3], cho đến cuối năm 2016, trên thế giới có 108 bộ luật đầu tư của các quốc gia, hầu hết được xây dựng từ các quốc gia đang phát triển và được thông qua từ năm 1989 trở về sau[4]. Tại Việt Nam, Luật Đầu tư năm 2014 đã có nội dung về đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc. Như vậy, nếu so sánh với quy định tại Hiệp định CPTPP thì không phải là nội dung mới. Cụ thể, tại Điều 2 Luật Đầu tư năm 2014 quy định đối tượng áp dụng là nhà đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam không phân biệt trong nước hay nước ngoài; tại Điều 5 Luật Đầu tư quy định, Chính phủ Việt Nam cam kết nguyên tắc đối xử bình đẳng, không phân biệt với tất cả các nhà đầu tư. Những quy định nêu trên tại Luật Đầu tư năm 2014 đã đáp ứng rất tốt mục tiêu thu hút đầu tư và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của các nhà đầu tư.

3. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (Minimum standard of treatment)

Để làm rõ khái niệm tiêu chuẩn đối xử tối thiểu cần phân tích cơ sở pháp lý áp dụng của tiêu chuẩn là Luật Tập quán quốc tế (Customary internatinal law). Khái niệm Luật Tập quán quốc tế trong Hiệp định CPTPP được làm rõ tại Phụ lục 9-A của Hiệp định. Theo đó, Luật Tập quán quốc tế được hình thành từ thực tiễn chung và nhất quán mà các quốc gia thực thi dựa trên các nghĩa vụ pháp lý. Đồng thời, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu dẫn chiếu tất cả các nguyên tắc của Luật Tập quán quốc tế về bảo vệ đầu tư của người nước ngoài. Như vậy, khái niệm này cũng tương thích với khái niệm về Luật Tập quán quốc tế của cơ quan tư pháp chính của Liên Hiệp Quốc[5] - Tòa án Công lý quốc tế (ICJ): Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung, được thừa nhận như những quy phạm pháp luật. Vì vậy, trong quá trình giải quyết các vụ kiện phát sinh từ đầu tư đã có nhiều cách diễn giải, áp dụng khác nhau. Những án lệ của Tòa án trong giải quyết vụ kiện về đối xử và bảo hộ trong đầu tư vẫn gây ra nhiều tranh luận giữa trọng tài và trong giới học giả. Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng có nguồn gốc từ Luật Tập quán quốc tế và nó thường được xem là để che đậy nguyên tắc không phân biệt đối xử, cùng với các nguyên tắc pháp lý khác có liên quan đến việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ý nghĩa trừu tượng hơn tiêu chuẩn của đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc.

Đối xử tối thiểu được hiểu là đối xử công bằng, thỏa đáng và bảo hộ an toàn đầy đủ theo Luật Tập quán quốc tế. Tuy nhiên, sự đối xử này chỉ yêu cầu đến mức tối thiểu, không vượt quá phạm vi và tiêu chuẩn của Luật Tập quán quốc tế. Thuật ngữ đối xử công bằng được tìm thấy nhiều nhất trong “bộ sưu tập” các hiệp định song phương của Hoa Kỳ về hữu nghị, thương mại, hàng hải (The US treaties on Friendship, Commerce and Navigation - FCN), từ các hiệp định này đã sinh ra các nguyên tắc đối xử quốc gia, tối huệ quốc, với hơn 48 quốc gia trên thế giới[6]. Đối với cấp độ tổ chức thế giới thì thuật ngữ này chính thức xuất hiện lần đầu tiên tại Điều 11(2) Hiến chương Havana năm 1948[7] của Tổ chức Thương mại quốc tế, tuy rằng sau đó Hiến chương Havana không được thực thi. Tại tổ chức Asean năm 1987 trong Hiệp định về xúc tiến và bảo hộ đầu tư[8], Điều IV cũng đã đề cập đến đối xử công bằng và thỏa đáng. Hoặc tham khảo Điều 1105(1) Chương XI của Hiệp định Thương mại tự do Bắc - Mỹ (NAFTA) về đối xử công bằng, thỏa đáng và tiêu chuẩn tối thiểu, nhận thấy quy định tại Điều 9.6(1) của Hiệp định CPTPP là tương tự Điều 1105(1) của NAFTA[9]. Như vậy, ngày nay, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu thường là một phần của Hiệp định thương mại, trong đó nước chủ nhà dành sự bảo hộ cho đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.

Nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu dường như trái ngược với nguyên tắc đối xử quốc gia nếu nhìn nhận từ góc độ xác định chính xác pháp luật áp dụng. Tiêu chuẩn đối xử quốc gia sử dụng hành lang pháp lý là luật quốc gia, có tính bắt buộc trong nội dung, diễn giải, hoàn cảnh và phương pháp áp dụng; trong khi tiêu chuẩn đối xử tối thiểu lại căn cứ vào Luật Tập quán quốc tế. Việc áp dụng Luật Tập quán quốc tế còn chưa có bộ quy chuẩn thống nhất, phần lớn phụ thuộc vào sự diễn giải của trọng tài hoặc Tòa án. Câu hỏi đặt ra là, tại sao đã có nguyên tắc đối xử quốc gia, dành sự đối xử đối với đầu tư nước ngoài ngang bằng công dân quốc gia, lại cần có nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. Thật ra, nguyên tắc đối xử tiêu chuẩn tối thiểu là một dạng “nguyên tắc dự phòng”, để dự phòng trong một số trường hợp quốc gia bác bỏ, chấm dứt một số quyền lợi của công dân hoặc quyền hiện có của công dân chưa đáp ứng đầy đủ theo tiêu chuẩn của hệ thống pháp luật cơ bản trên thế giới. Mối quan hệ giữa tiêu chuẩn đối xử tối thiểu và đối xử quốc gia thường là mối quan hệ trước sau. Khi phát sinh một sự kiện pháp lý thì nguyên tắc đối xử quốc gia là bước đi pháp lý đầu tiên để giải quyết vấn đề. Nếu vấn đề không được hoặc không thể giải quyết bằng nguyên tắc đối xử quốc gia thì bước tiếp theo sẽ cần đến nguyên tắc đối xử tiêu chuẩn tối thiểu. Như vậy, luật quốc gia và áp dụng pháp luật quốc gia là hai đĩa cân của “chiếc cân pháp lý” để xem xét và so sánh trách nhiệm và nghĩa vụ của Chính phủ phải áp dụng pháp luật như thế nào trong trường hợp cụ thể đó và đã áp dụng pháp luật để bảo vệ nhà đầu tư chưa. Trong trường hợp Chính phủ đã áp dụng pháp luật quốc gia để bảo vệ quyền của nhà đầu tư nước ngoài như đã bảo vệ công dân quốc gia thì nguyên tắc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu có thể không được kích hoạt và ngược lại. Vụ kiện của Khách sạn Wena và Cộng hòa Ai Cập do Trung tâm Trọng tài quốc tế giải quyết tranh chấp về đầu tư ICSID giải quyết (số tham chiếu ICSID ARB/98/4)[10] là điển hình như thế. Khách sạn Wena bị trưng thu bởi tổ chức nhà nước có tên là EHC, mặc dù Chính phủ Ai Cập không ban hành quyết định trên, nhưng có biết về ý định và quyết định đó, song không có biện pháp, hành động ngăn chặn, chậm trễ giải quyết khôi phục lại khách sạn và không có hành động đáng kể nào trừng phạt tổ chức nhà nước EHC. Vì vậy, ICSID phán quyết: Chính phủ Ai Cập đã vi phạm nghĩa vụ về phải đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho nhà đầu tư. Như vậy, nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ là một tiêu chuẩn pháp lý cơ bản khởi nguồn từ các nguyên tắc chung của luật quốc tế, ngay cả khi điều này không được tuyên bố rõ ràng và là một điều khoản chung có thể được sử dụng cho tất cả các khía cạnh của việc bảo hộ đầu tư, trong trường hợp không có bảo đảm cụ thể hơn. Ngoài ra, nó còn cung cấp hướng dẫn chung cho việc giải thích thỏa thuận và giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh trên thực tế.

Thông qua việc xem xét các bản án của Tòa án và trọng tài về vấn đề áp dụng tiêu chuẩn đối xử tối thiểu, được diễn giải thành nội dung “đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo hộ an toàn và đầy đủ”, nhận thấy có ba yếu tố cấu thành nên nghĩa vụ của Chính phủ, bao gồm: (i) Phải có nghĩa vụ cảnh giác trước các nguy cơ gây thiệt hại cho đầu tư đồng thời thực thi các biện pháp quản lý rủi ro để hạn chế nguy cơ; (ii) Không từ chối công lý và tùy tiện áp dụng pháp luật; (iii) Minh bạch và công bằng trong việc đáp ứng kỳ vọng cơ bản của nhà đầu tư cũng như trong xây dựng và áp dụng pháp luật. Nếu Chính phủ tiếp nhận đầu tư xây dựng và giải quyết tốt ba yếu tố cấu thành nên nghĩa vụ đối xử công bằng thỏa đáng và bảo hộ đầu đủ nhà đầu tư thì một trong hai trụ cột của vấn đề đầu tư cơ bản đã được giải quyết[11].

4. Đối xử trong trường hợp xung đột vũ trang (Armed confict) hoặc bạo loạn dân sự (Civil strife)

Tại Điều 9.7 của Hiệp định CPTPP nêu ra nguyên tắc đối xử đầu tư khi có xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự tại quốc gia tiếp nhận đầu tư. Tuy nhiên, trong Hiệp định không có định nghĩa về xung đột vũ trang, bạo loạn dân sự và cơ sở pháp lý để đánh giá như thế nào là một cuộc xung đột vũ trang hay xung đột không vũ trang và bạo loạn dân sự;cũng như pháp luật áp dụng là pháp luật quốc gia đầu tư hoặc quốc gia tiếp nhận đầu tư, hoặc luật pháp quốc tế.

Theo công tố viên của Tòa án Hình sự quốc tế thì xung đột vũ trang được hiểu là xung đột có thời gian tương đối dài giữa lực lượng vũ trang giữa các quốc gia, giữa các lực lượng vũ trang của Chính phủ, giữa lực lượng vũ trang của Chính phủ và tổ chức khác[12]. Thuật ngữ bạo loạn dân sự thường được hiểu là những cuộc đấu tranh của một nhóm người, được bắt nguồn từ những vấn đề quốc gia, có sử dụng bạo lực, thường được diễn ra trong thời gian tương đối ngắn.

Như vậy, tại Điều 9.7, các thành viên của Hiệp định CPTPP cam kết sẽ dành nguyên tắc đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc đối với các quyết định hoặc biện pháp liên quan đến việc khắc phục, bồi thường thiệt hại hoặc là cả hai cho các nhà đầu tư của Hiệp định. Những quyền lợi mà nhà đầu tư được hưởng từ Chính phủ trong trường hợp này không xuất phát từ quyền được quy định tại Hiệp định mà những đối xử này là ngang bằng giữa các nhà đầu tư, giữa công dân trong cùng một tình huống cụ thể. So sánh quy định tại Điều 9.7 với quy định tại Điều 9.5 và 9.6 nhận thấy, Điều 9.5 và Điều 9.6 dường như thiết kế để bảo vệ tài sản và tính mạng nhà đầu tư chống lại sự tấn công đến từ phía Chính phủ tiếp nhận đầu tư; mà Chính phủ đó có thể suy đoán, hành động có chủ đích thông qua việc xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật gây bất lợi cho nhà đầu tư. Đối lập lại Điều 9.7 thiết kế để bảo vệ nhà đầu tư chống lại sự tấn công đến từ phe đối lập trong Chính phủ hoặc từ quốc gia đối đầu với Chính phủ hoặc từ tổ chức dân sự hoặc từ cá nhân, nhóm người; mà những chủ thể này suy tính, hành động không theo mong muốn hoặc chủ đích của Chính phủ tiếp nhận đầu tư.

Lưu ý, đối với trường hợp trưng dụng trong xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự thì sự khắc phục bồi thường thiệt hại là đương nhiên. Tuy nhiên, Chính phủ quốc gia tiếp nhận đầu tư không phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do phá hủy mà không do lực lượng chính quyền hoặc chính quyền gây ra. Trách nhiệm bồi thường hoặc khắc phục của Chính phủ chỉ dừng lại đối với những thiệt hại bị gây ra do lực lượng chính quyền hoặc chính quyền; hoặc khi lực lượng chính quyền hoặc chính quyền phá hủy một phần hay toàn bộ phần đầu tư trong trường hợp không cần thiết. Ngược lại, những phá hủy từ chính quyền hoặc lực lượng chính quyền mà hợp pháp thì không được bồi thường. Những quy định này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Án lệ AAPL với Sri Lanka[13] được giải quyết tại Trung tâm giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ICSID) là ví dụ điển hình cho trường hợp này. Năm 1983, nhà đầu tư đến từ Hồng Kông đã đầu tư vào miền Đông Sri Lanka, đến năm 1987, toàn bộ tài sản của nhà đầu tư bị phá hủy bởi cuộc xung đột vũ trang giữa lực lượng Chính phủ và tổ chức vũ trang Những con hổ giải phóng Tamil. Nhà đầu tư yêu cầu Chính phủ bồi thường tài sản của họ bị phá hủy trong cuộc xung đột. Kết luận của ICSID về yêu cầu này là: Không có căn cứ để chứng minh Chính phủ đã phá hủy tài sản đầu tư; không có quy định pháp lý quốc tế nào yêu cầu quốc gia nơi có cuộc xung đột diễn ra phải chịu trách nhiệm về những tổn thất cho nhà đầu tư nước ngoài không do Chính phủ gây ra, nếu đã cung cấp đầy đủ những tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo yêu cầu của luật pháp quốc tế. Một trong số các tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo quy định của pháp luật quốc tế trong trường hợp xung đột vũ trang hoặc bạo loạn dân sự thường được các trung tâm trọng tài tham khảo là The Spanish Zone of Morocco Claims (1924-1925)[14]. Tuy nhiên, đối với Hiệp định CPTPP thì quy định về xung đột vũ trang có nhiều khả năng không được vận dụng trên thực tế, vì 11 quốc gia thành viên hầu hết là những quốc gia có an ninh chính trị cao.

Các nguyên tắc đối xử tại Hiệp định CPTPP là những nguyên tắc chung nền tảng để các quốc gia thành viên sử dụng trong việc ưu đãi, bảo hộ nhà đầu tư và tài sản đầu tư. Tuy nhiên, nếu xảy ra các tranh chấp pháp lý liên quan đến nguyên tắc đối xử hoặc xung đột vũ trang hay bạo loạn dân sự mà pháp luật và việc áp dụng pháp luật quốc gia chưa đáp ứng kỳ vọng nhà đầu tư nhà đầu tư có thể sử dụng Mục B Chương 9 Hiệp định CPTPP “Giải quyết tranh chấp giữa Nhà nước và nhà đầu tư” để giải quyết các tranh chấp phát sinh.Các tranh chấp pháp lý này có thể được giải quyết bằng thương lượng, tham vấn hoặc khiếu kiện ra trọng tài do hai bên lựa chọn, hoặc cơ chế trọng tài của ICSID hoặc trọng tài UNCITRAL.

Đầu tư nước ngoài là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế quốc gia phát triển nhanh, mạnh, nhất là đối với Việt Nam một quốc gia đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa và khao khát nguồn vốn đầu tư. Các hiệp định thương mại có liên quan đến vấn đề đầu tư của Việt Nam được ký kết kể từ năm 1994, đi từ quá khứ giản đơn song phương đến các hiệp định thương mại đa phương thế hệ mới là cả một chặng đường dài của lịch sử pháp lý. Những nguyên tắc đối xử mà nhà nước Việt Nam dành cho nhà đầu tư nước ngoài và tài sản của họ trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế nói chung và Hiệp định CPTPP nói riêng là nền tảng pháp lý quan trọng để thực thi cam kết bảo hộ nhà đầu tư. Những vấn đề về đầu tư được quy định trong Hiệp định CPTPP là một minh chứng điển hình cho cam kết của Nhà nước Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ Việt Nam mong muốn đón nhận ngày càng nhiều dòng vốn đầu tư và cam kết bảo hộ nhà đầu tư theo thông lệ quốc tế, tạo dựng môi trường đầu tư thuận lợi, thông thoáng, minh bạch và bình đẳng.

ThS. Nguyễn Quốc Trí

Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương



Tài liệu tham khảo:

[1]. Toàn văn của Hiệp định CPTPP, truy cập tại: http://www.trungtamwto.vn/tpp/van-kien-hiep-dinh-cptpp, truy cập ngày 25/5/2018.

[2]. Các nghĩa vụ này được quy định tại Điều 9.10 và 9.16.

[3]. http://fia.mpi.gov.vn/detail/278/UNCTAD.

[4]. Truy cập tại: http://unctad.org/en/pages/newsdetails.aspx?OriginalVersionID=1388 ngày 01/6/2018.

[5]. Điều 92 Hiến chương Liên Hiệp Quốc năm 1945.

[6]. Friendship, Commerce, and Navigation and Similar Treaties or Other International Agreements in Force in Whole or in Major Part [1981].

[7]. Truy cập tại: https://www.wto.org/english/docs_e/legal_e/havana_e.pdf, ngày truy cập 27/5/2018.

[8]. Truy cập tại: http://asean.org/?static_post=the-1987-asean-agreement-for-the-promotion-and-protection-of-investments, ngày truy cập 28/7/2018.

[9]. Nguyên văn Điều 1105(1) Chương XI của Hiệp định NAFTA: Each Party shall accord to investments of investors of another Party treatment in accordance with international law, including fair and equitable treatment and full protection and security.

[10]. Truy cập tại: http://investmentpolicyhub.unctad.org/ISDS/Details/29 ngày truy cập 29/5/2018.

[11]. Như đã phân tích trong mục tiêu chuẩn đối xử quốc gia phần trên, 02 trụ cột của vấn đề đầu tư cần giải quyết là: Thứ nhất, thu hút đầu tư cho quốc gia; thứ hai, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.

[12]. Định nghĩa từ Công tố viên với Dusko Tadic, số IT-94-1-AR 72, Tòa án Hình sự quốc tế cho Phòng Kháng nghị Nam Tư cũ trong Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), truy cập tại: http://www.icty.org/x/cases/tadic/ acdec/en/51002.htm Phần IV, ngày truy cập 01/6/2018.

[13]. Truy cập tại: investmentpolicyhub.unctad.org/ISDS/Details/1, ngày truy cập 01/6/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: