Thứ tư 11/03/2026 18:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Hội nhập quốc tế có tác động và ảnh hưởng rất lớn đến chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam. Để phù hợp với tình hình, chức năng quản lý kinh tế bước đầu đã có sự thay đổi và có những chuyển biến quan trọng. Điều này được thể hiện khi nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế đã được Nhà nước điều chỉnh kịp thời, phù hợp với quá trình phát triển kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế.


Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa đang là xu hướng phát triển tất yếu của mọi quốc gia. Khi tham gia hội nhập quốc tế thì yếu tố hội nhập đầu tiên và chịu tác động rất mạnh mẽ luôn là vấn đề kinh tế[1]. Vì thế, để quản lý nền kinh tế Việt Nam phù hợp, linh động thích ứng với các biến động và hoàn cảnh mới, đòi hỏi chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước phải đổi mới về tư duy sáng tạo, hình thức và phương pháp thực hiện cũng phải linh hoạt, phù hợp hơn trước. Vì vậy, nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế, hiệu quả thực tế mà chúng mang lại là những vấn đề rất cần có sự nghiên cứu, tìm hiểu để từ đó tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong giai đoạn hội nhập quốc tế.

1. Những vấn đề cơ bản về nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

1.1. Các nguyên tắc cơ bản của việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Về cơ bản, các nguyên tắc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế được kế thừa từ chính các nguyên tắc trong các thời kỳ trước đây. Theo đó, các nguyên tắc cơ bản thực hiện chức năng quản lý kinh tế hiện nay bao gồm:

Thứ nhất, nguyên tắc quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng: Có thể khẳng định, đây là nguyên tắc nền tảng, không thể thiếu trong mọi hoạt động hiện nay của Nhà nước ở Việt Nam[2]. Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp lãnh đạo luôn là nguyên tắc cơ bản, nền tảng, cốt lõi cho tất cả các nguyên tắc trong bộ máy nhà nước. Nguyên tắc này thể hiện, Đảng trực tiếp chỉ đạo và vạch ra những đường lối về quản lý và phát triển kinh tế để rồi Nhà nước chịu trách nhiệm thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, đưa những tư tưởng, đường lối đó vào thực tiễn quản lý kinh tế. Hiện nay, trong giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề quản lý kinh tế luôn là vấn đề hết sức quan trọng, là một trọng tâm lãnh đạo của Đảng. Mặt khác, kinh tế thời hội nhập thường xuyên biến động nên tác động, ảnh hưởng của nó sẽ gây những khó khăn cho công tác lãnh đạo và quản lý của Đảng. Tuy nhiên, Đảng ta luôn xây dựng các phương hướng lãnh đạo và quản lý kinh tế một cách linh hoạt, kịp thời để thích nghi với các hoàn cảnh của kinh tế thời hội nhập.

Thứ hai, nguyên tắc dân chủ hóa mọi hoạt động trong quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế: Hiện nay, nhằm phù hợp với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoạt động xã hội hóa đang diễn ra công khai và rộng rãi trên nhiều phương diện hoạt động khác nhau của Nhà nước. Điều này thể hiện sự văn minh, dân chủ và đề cao quyền làm chủ của người dân. Nhờ đó, người dân được quyền trực tiếp tham gia vào các công việc quản lý kinh tế của Nhà nước dưới nhiều hình thức và cách thức khác nhau. Bên cạnh đó, trong giai đoạn hội nhập quốc tế thì các nguồn thông tin khá đa dạng, phong phú và cách thức tiếp cận thông tin của nhân dân cũng ngày càng dễ dàng, đơn giản, thuận tiện hơn trước. Nhờ vậy, việc tham gia, giám sát của người dân vào các hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước càng trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn.

Thứ ba, nguyên tắc có sự phân công phối hợp và tổ chức chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý kinh tế từ trung ương xuống địa phương trong giai đoạn hội nhập quốc tế: Bộ máy nhà nước là một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương xuống địa phương và luôn có sự phối hợp chặt chẽ, phân công trách nhiệm rõ ràng trong từng cơ quan, ban ngành. Trong đó, cơ quan nhà nước cấp trên đưa ra những chính sách, pháp luật cho các cơ quan nhà nước cấp dưới thi hành và các cơ quan nhà nước cấp dưới phải chịu trách nhiệm trong phạm vi thẩm quyền mà mình được phân công[3]. Điều này chứng tỏ sự phối hợp và tổ chức chặt chẽ giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý kinh tế nói riêng. Trên thực tế, việc phân công này làm tăng cường khả năng tự chủ, tự chịu trách nhiệm và nâng cao khả năng điều hành, thực thi cho các cơ quan nhà nước ở từng địa phương, đồng thời làm giảm tải gánh nặng quản lý cho các cơ quan ở cấp trung ương. Đây cũng là nguyên tắc cơ bản của tổ chức và quản lý bộ máy nhà nước tại Việt Nam.

Thứ tư, nguyên tắc công khai hóa, minh bạch, hiệu quả và tiết kiệm trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế: Với bản chất là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nên Nhà nước thường thể hiện sự công khai, minh bạch trong mọi hoạt động quản lý, điều hành kinh tế đất nước. Đây vốn là bản chất tốt đẹp của Nhà nước Việt Nam. Nhờ đó, điều này không những giúp cho nhân dân dễ dàng nắm bắt được tình hình thực tế, mà nó còn cho thấy sự lãnh đạo khách quan, trong sáng của Đảng và Nhà nước. Có thể nói, đây không những là nguyên tắc quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế mà nó còn là nguyên tắc chung trong hệ thống các chức năng quản lý nhà nước.

Tóm lại, các nguyên tắc trên chi phối hoạt động của Nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế. Bởi vậy, việc tuân thủ và thực hiện đầy đủ các nguyên tắc trên sẽ góp phần làm cho việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế trở nên hiệu quả và đạt được các mục tiêu quan trọng về quản lý kinh tế của Nhà nước giai đoạn hội nhập quốc tế.

1.2. Các hình thức chủ yếu thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Hình thức thực hiện chức năng quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế, được xem xét dưới góc độ hình thức thực hiện về mặt pháp lý, biểu hiện qua các đặc điểm sau:

Nhà nước xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế: Hoạt động xây dựng, ban hành các chính sách và pháp luật là hoạt động cơ bản và thường xuyên của Nhà nước. Tuy nhiên, đây là cả một quá trình hoạt động rất rộng lớn bao gồm tất cả các khâu từ việc nghiên cứu đánh giá các nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, thực trạng của nền kinh tế, xã hội, xác định các chủ trương, đường lối, chính sách, cơ chế và giải pháp tổ chức hoạt động của các thiết chế kinh tế đến việc xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ liên quan đến quản lý kinh tế. Tất cả các công việc trên sẽ được Nhà nước tổng hợp lại, từ đó mới có thể ban hành ra pháp luật về quản lý kinh tế. Khi phân tích, pháp luật về quản lý kinh tế là hệ thống các quy phạm pháp luật cụ thể được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực kinh tế và quản lý kinh tế[4].

Nhà nước tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế: Về cơ bản, sau khi Nhà nước xây dựng, ban hành các chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế thì sẽ đến giai đoạn tổ chức thực hiện các chính sách, pháp luật này. Hay nói cách khác, đây là giai đoạn cụ thể hóa các chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế vào đời sống kinh tế, xã hội. Giai đoạn tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế cũng là hoạt động tổ chức mang tính bắt buộc của Nhà nước. Tuy vậy, bên cạnh Nhà nước là người trực tiếp thực hiện còn có sự trợ giúp của cả xã hội để nhằm mục đích đưa các quan điểm mang tính chủ trương của Nhà nước và các quy phạm pháp luật về quản lý kinh tế vào thực tiễn đời sống kinh tế, xã hội.

Nhà nước bảo vệ chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế giai đoạn hội nhập quốc tế: Hoạt động này bao gồm hai nội dung chính là kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế và công tác xử lý các vi phạm chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế. Trong đó, hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế và bảo vệ chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế được tiến hành nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế được đúng với tinh thần và mục tiêu do Nhà nước đề ra. Mục đích của hoạt động này là nhằm phát hiện nhanh chóng những sai lầm, thiếu sót trong lĩnh vực quản lý kinh tế để kịp thời khắc phục và xử lý. Còn công tác xử lý các vi phạm chính sách pháp luật về quản lý kinh tế hiện nay cũng đang được Nhà nước tiến hành khẩn trương, quyết liệt và liên tục. Trên thực tế, chúng ta đã phát hiện ra nhiều hành vi vi phạm chính sách pháp luật về quản lý kinh tế (EPCO của Tăng Minh Phụng năm 1999, PMU 18 của Bùi Tiến Dũng năm 2006, Dương Chí Dũng năm 2013...).

Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế để đáp ứng tình hình và đòi hỏi trong giai đoạn hội nhập quốc tế: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thì kinh tế là lĩnh vực rất quan trọng. Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội thì việc điều chỉnh chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế lại càng thường xuyên và cấp bách hơn trước. Mặt khác, trong giai đoạn hội nhập quốc tế thì ảnh hưởng của hội nhập đã tác động rất lớn đến hệ thống các chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế. Khi nghiên cứu “hệ thống nguyên tắc của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)”[5], càng thấy rõ sự tác động mạnh mẽ của chúng lên đời sống kinh tế của Việt Nam. Trước tình hình đó, đối với công tác tổ chức, quản lý, xây dựng và ban hành các chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế thì Nhà nước luôn là chủ thể chịu trách nhiệm chính. Vì thế, Nhà nước phải có trách nhiệm thường xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh liên quan đến lĩnh vực kinh tế và quản lý kinh tế. Điều này đòi hỏi sự nhạy bén nắm bắt tình hình kinh tế, xã hội và trách nhiệm cao của Nhà nước.

1.3. Các phương pháp chung thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước ở Việt Nam giai đoạn hội nhập quốc tế

Các chức năng của Nhà nước được thực hiện thông qua các phương pháp hoạt động nhất định của bộ máy nhà nước[6]. Bản chất phương pháp thực hiện chức năng của Nhà nước là những biện pháp, cách thức mà Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý các lĩnh vực kinh tế, xã hội. Phương pháp thực hiện chức năng do yêu cầu, mục tiêu của chức năng nhà nước quyết định. Tùy theo yêu cầu, mục tiêu, nội dung chức năng của Nhà nước mà có những cách thức thực hiện phù hợp. Về cơ bản, trong lĩnh vực quản lý kinh tế, Nhà nước thường sử dụng các phương pháp chủ yếu gồm phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục và phương pháp hành chính:

Phương pháp kinh tế trong quản lý nhà nước về kinh tế: Đây là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm làm cho họ quan tâm tới hiệu quả cuối cùng của sự hoạt động, từ đó mà tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao[7]. Thực chất, phương pháp kinh tế thường được sử dụng khi muốn tác động vào các đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế. Nhờ có lợi ích chi phối, nên các đối tượng bị quản lý sẽ lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động cho phép. Thực tế cho thấy, phương pháp kinh tế là phương pháp rất hiệu quả trong quản lý nhà nước về kinh tế, bởi có thể mang lại lợi ích cho cả chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý. Phương pháp này không đòi hỏi sự quyết liệt trong thực hiện hay thời gian kéo dài như phương pháp hành chính và phương pháp giáo dục.

Phương pháp giáo dục trong quản lý nhà nước về kinh tế: Khác với phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục là các cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Nếu thành công thì hiệu quả của phương pháp giáo dục mang lại là sự ý thức tự nguyện của các chủ thể nên sẽ là hiệu quả lâu dài. Hiện nay, phương pháp giáo dục luôn được triển khai ở tất cả các hoạt động quản lý kinh tế, từ khâu hình thành cơ chế, chính sách, ban hành luật pháp đến tổ chức triển khai thi hành và kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Trên thực tế, Nhà nước thường sử dụng một số hình thức giáo dục trong quản lý kinh tế như thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (sách, báo, phát thanh, truyền hình...), các đoàn thể, các hội nghị tổng kết, hội thi[8]… Tuy nhiên, đây là phương pháp tác động vào ý thức, giáo dục ý thức nên muốn đạt được kết quả tốt sẽ phải chờ đợi. Vì vậy, phương pháp giáo dục không thể mang lại hiệu quả trước mắt, nhanh chóng như phương pháp hành chính hay phương pháp kinh tế.

Phương pháp hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế: Là cách tác động trực tiếp bằng các quyết định mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm thực hiện những mục tiêu của quản lý kinh tế vĩ mô trong những tình huống nhất định[9]. Phương pháp hành chính còn được gọi là phương pháp cưỡng chế. Bản chất của phương pháp hành chính trong quản lý kinh tế thể hiện tính mệnh lệnh, quyền uy hay tính bắt buộc. Theo đó, tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng chịu sự quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính. Trường hợp các đối tượng chịu sự quản lý không chấp hành thì có thể bị xử lý bằng các chế tài thích đáng. Đây là phương pháp sử dụng quyền lực nhà nước nhiều nhất, để trực tiếp tác động lên các chủ thể nhằm buộc chủ thể phải nghiêm chỉnh chấp hành. Phương pháp này chỉ tiến hành khi các chủ thể không tự giác, tự nguyện cũng như không còn phương pháp nào có thể tác động lên các chủ thể.

2. Những kiến nghị, đề xuất

Để nguyên tắc, hình thức và phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế đạt được hiệu quả thực hiện cao hơn thì có thể xem xét các giải pháp sau:

Thứ nhất, đối với nguyên tắc thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế: Hiện nay, phần lớn các quốc gia trên thế giới đã và đang xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại. Một trong các “nguyên tắc của kinh tế thị trường là tự do kinh tế”[10]. Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước giảm dần vai trò và ảnh hưởng trong việc quản lý điều hành môi trường kinh tế. Nhà nước chỉ thực hiện vai trò giám sát, điều tiết nền kinh tế khi nền kinh tế phát sinh sự bất ổn định. Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế thì Nhà nước nên xây dựng và quán triệt theo tinh thần của nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do ý chí của các chủ thể kinh tế. Nguyên tắc này là nền tảng quan trọng cho sự phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế. Thực tế cho thấy, hiện nay, Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo và chi phối đối với tất cả các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế. Chính vì điều này dễ dẫn đến tình trạng “chây ỳ” của các doanh nghiệp nhà nước cũng như của người lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước. Điều này còn gây ra sự thất thoát, lãng phí và độc quyền trong nền kinh tế. Vì vậy, để thực hiện theo đúng nguyên tắc tự do kinh doanh, tự do ý chí của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế thì Nhà nước nên rút dần vai trò và ảnh hưởng khỏi nền kinh tế và để nền kinh tế tự do điều chỉnh. Đây cũng là tinh thần chung của nền kinh tế thị trường hiện đại đang được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Thứ hai, đối với hình thức thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế: Thực tế cho thấy, hình thức thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước còn khá nhiều bất cập. Hệ thống pháp luật về quản lý kinh tế của Việt Nam được xây dựng và kế thừa từ giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Bởi vậy, phần lớn văn bản pháp luật về quản lý kinh tế của Việt Nam hiện nay đã trở nên lỗi thời, lạc hậu và không phù hợp với sự phát triển của môi trường thương mại trong nền kinh tế thị trường giai đoạn hội nhập quốc tế. Mặt khác, việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế còn khá chậm chạp và chưa phù hợp với tốc độ tăng trưởng, phát triển kinh tế. Chính vì vậy, để chức năng quản lý kinh tế có thể hoạt động hiệu quả thì Nhà nước nên nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về quản lý kinh tế từ các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, tiên tiến, hiện đại. Đồng thời, chú trọng nghiên cứu, xem xét các điều kiện áp dụng tại Việt Nam. Trong quá trình xây dựng hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế cần có sự tham gia góp ý của các chuyên gia kinh tế, chuyên gia pháp lý ở trong và ngoài nước cũng như sự tham gia của đông đảo tầng lớp thương nhân và doanh nghiệp. Đối với dự thảo những chính sách pháp luật lớn về quản lý kinh tế thì trước và trong quá trình xây dựng, Nhà nước nên tổ chức trưng cầu dân ý để lấy ý kiến từ tất cả tầng lớp nhân dân. Có như vậy, hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế mới thực sự đổi mới và việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước mới dễ dàng và hiệu quả hơn.

Thứ ba, đối với phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế: Để có thể đạt hiệu quả tốt trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế thì đòi hỏi Nhà nước phải kết hợp sử dụng hợp lý, khoa học giữa phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục và phương pháp hành chính. Tuy nhiên, theo chúng tôi, sẽ là hiệu quả tốt hơn khi Nhà nước nên chú trọng khai thác sử dụng nhiều hơn phương pháp kinh tế. Bởi lẽ, đây là phương pháp tác động trực tiếp vào lợi ích của các chủ thể. Vì lợi ích mang lại thì các chủ thể sẽ dễ dàng hợp tác với Nhà nước để thực hiện các quy định cũng như hợp tác trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh khi tiến hành các hoạt động về kinh tế. Phương pháp hành chính nên xây dựng theo hướng tăng cường mạnh mẽ chế tài xử lý các vi phạm trong lĩnh vực kinh tế. Bởi vì, không thể chỉ dựa vào việc động viên, thuyết phục hay sử dụng lợi ích kinh tế để tác động đến các chủ thể cố tình chống đối, cản trở hoặc bất hợp tác với cơ quan nhà nước. Cần phải nghiêm khắc trừng phạt các chủ thể vi phạm, để qua đó làm gương cho các chủ thể khác. Chính vì vậy, phương pháp thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế, nên đặc biệt chú trọng đến hai phương pháp này.

Thiết nghĩ, đây đều là các giải pháp cần thiết và quan trọng để chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, thực sự đáp ứng và phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường giai đoạn hội nhập quốc tế.

TS. Nguyễn Vinh Hưng

Đại học Quốc gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Vinh Hưng (2017), Economic management function of the state of Vietnam in phase of international integration, Tạp chí Khoa học - Viện đại học Mở Hà Nội, số 32 tháng 6, tr. 42.

[2]. Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

[3]. Nguyễn Minh Đoan (2010), Giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, tr. 196 - 197.

[4]. Nguyễn Vinh Hưng (2015), Thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 19.

[5]. WTO (2015), Principles of the trading system, nguồn truy cập: http://www.wto.org/english/ thewto_e/whatis_e/tif_e/fact2_e.htm , truy cập ngày 01/9/2017, lúc 9:00 AM.

[6]. Nguyễn Văn Động (2010), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 44.

[7]. Công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế, nguồn truy cập: http://webcache. googleusercontent.com/search?q=cache:nUXrWKv68WoJ:www.klfcdsp.huecity.vn/DownLoad.aspx%3Fid%3Dtl%26name%3Dcong_cu_va_phuong_phap_quan_ly_nha_nuoc_ve_kinh_te.ppt%26ma%3D232+&cd=9&hl=vi&ct=clnk&gl=vn, truy cập ngày 21/8/2017.

[8]. Nguyễn Vinh Hưng (2015), Thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 21.

[9]. Công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về kinh tế, http://webcache. googleusercontent.com/search?q=cache: nUXrWKv68WoJ:www.klfcdsp.huecity.vn/DownLoad.aspx%3Fid%3Dtl%26name%3Dcong_cu_va_phuong_phap_quan_ly_nha_nuoc_ve_kinh_te.ppt%26ma%3D232+&cd=9&hl=vi&ct=clnk&gl=vn, truy cập ngày 21/8/2017.

[10]. Nguyễn Vinh Hưng (2015), Thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 25.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: