Thứ ba 09/06/2026 03:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nhận diện một số bất cập của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện

Ngày 26/11/2006, Quốc hội đã thông qua Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2007 (sau đây gọi chung là Luật). Sau khi Luật được ban hành đến nay, Chính phủ đã ban hành 04 nghị định, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 02 quyết định, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành có liên quan ban hành nhiều thông tư, thông tư liên tịch[1].

Việc ban hành nhiều các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động này cho thấy Nhà nước đã thực sự quan tâm và tạo hành lang pháp lý để thúc đẩy hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, giải quyết tốt vấn đề việc làm; đồng thời một mặt góp phần tăng thu nhập cho người lao động, mặt khác góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm cho người lao động và tăng thêm nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thì từ năm 2014 đến năm 2016, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài là xấp xỉ 350.000 người. Riêng trong năm 2016 có trên 126.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó Đài Loan trên 68.000 lao động, Nhật Bản gần 40.000, Hàn Quốc trên 8.000 và Ả rập Xê út có trên 4.000 lao động. Tính đến hết tháng 12/2016, toàn quốc có 277 doanh nghiệp có giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 15 doanh nghiệp nhà nước, 207 công ty cổ phần và 55 công ty TNHH)[2]. Hằng năm, số tiền mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài gửi về nước khoảng 1,6-2 tỷ USD[3].

Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thi hành Luật, bên cạnh những kết quả đã đạt được, thực tiễn thi hành các quy định của Luật này đã phát sinh một số hạn chế, khó khăn và vướng mắc. Trong phạm vi bài viết này, tác giả làm rõ một số bất cập của Luật và đưa ra kiến nghị để hoàn thiện.

1. Nhận diện một số bất cập trong thực tiễn thi hành Luật

1.1. Về quyền được bảo vệ của người đi lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài

Trong thời gian gần đây, có nhiều bài báo đưa tin về việc quyền lợi của người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chưa được bảo đảm. Người lao động gặp nhiều rủi ro như bị lừa và thậm chí là nạn nhân của nạn buôn bán người. Ngoài ra, người lao động đi làm việc ở nước ngoài thường phải đối mặt với các vấn đề khó khăn như làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, bị đánh đập hay lạm dụng, bị trả lương không xứng đáng và bị phân biệt đối xử về lương so với người bản địa... Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ hai lý do chính. Thứ nhất, về phía người lao động, do hạn chế về ngôn ngữ, sự khác biệt về văn hóa, chưa được phổ biến đầy đủ về luật pháp, phong tục của nước sở tại… là những rào cản khiến lao động đi làm việc ở nước ngoài chịu thêm nhiều thiệt thòi. Thứ hai, về phía các cơ quan quản lý, hiện nay, việc bảo đảm quyền, lợi ích cho lao động đi làm việc ở nước ngoài chủ yếu thông qua Đại sứ quán, Lãnh sứ quán Việt Nam ở nước đó. Tại các nước có đông người lao động Việt Nam thì việc bảo vệ quyền lợi của người lao động được thực hiện thông qua Ban Quản lý lao động thuộc các Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài[4]. Tuy nhiên, theo phản ánh của đa số người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì hoạt động của các tổ chức này chưa thực sự kịp thời và hiệu quả.

Ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Công đoàn. Theo đó, tại Điều 10 Luật Công đoàn quy định về trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động. Tuy nhiên, đối tượng điều chỉnh của Luật Công đoàn chỉ áp dụng đối với công đoàn các cấp, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động, cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến tổ chức và hoạt động công đoàn, đoàn viên công đoàn và người lao động. Trên thực tế, vai trò của công đoàn mới chỉ được phát huy đối với lao động trong nước mà chưa thực sự hiệu quả đối với đối tượng là người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là Luật Công đoàn, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chưa quy định trách nhiệm của tổ chức công đoàn đối với người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tránh những thiệt thòi không đáng có, cần thiết phải xác định rõ trách nhiệm của tổ chức công đoàn. Để khắc phục tình trạng này, tháng 7/2016, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Quỹ châu Á đã phối hợp triển khai Dự án “Tăng cường bảo vệ quyền cho lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc”. Mục tiêu chung của dự án là tăng cường bảo vệ quyền lao động cho những người chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài và những người đã trở về nước. Đây là một giải pháp trước mắt để nâng cao hiệu quả của các tổ chức có thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, tuy nhiên, về lâu dài, cần thiết phải nghiên cứu, luật hóa quy định về trách nhiệm của công đoàn trong việc bảo vệ người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

1.2. Về quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội của người đi lao động ở nước ngoài

Tùy theo hình thức đi làm việc ở nước ngoài mà người lao động có các quyền cụ thể. Tuy nhiên, về cơ bản, tại Điều 44 Luật quy định về các quyền chung mà người lao động đi làm việc ở nước ngoài được hưởng, cụ thể người lao động đi làm việc ở nước ngoài có các quyền: “... hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập khác, chế độ khám bệnh, chữa bệnh, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác quy định trong các hợp đồng và điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 40 của Luật này...”. Đồng thời, tại Điều 45 Luật quy định về nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Theo đó, tại khoản 7 Điều 45 Luật quy định về nghĩa vụ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài phải tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật Việt Nam và các hình thức bảo hiểm theo quy định của nước tiếp nhận người lao động. Như vậy, tương ứng với nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội là quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.

Tuy nhiên, so với quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2016 đã bổ sung đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là “người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”. Mức đóng hằng tháng vào quỹ hưu trí và tử tuất bằng 22% mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài, đối với người lao động đã có quá trình tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; bằng 22% của 02 lần mức lương cơ sở đối với người lao động chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc nhưng đã hưởng bảo hiểm xã hội một lần. Đây là mức phí không hề nhỏ trong khi người lao động làm việc trong nước chỉ đóng 8% (% còn lại do người sử dụng lao động đóng). Tuy mức đóng bảo hiểm xã hội cao hơn nhưng người lao động làm việc ở nước ngoài lại chỉ được hưởng hai chế độ là hưu trí và tử tuất chứ không phải 05 chế độ (hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, ốm đau) như lao động làm việc trong nước. Sự chênh lệch này cho thấy sự bất bình đẳng về quyền lợi nếu so sánh với tương quan mức đóng - mức hưởng giữa những người lao động trong và ngoài nước. Mặt khác, bên cạnh nghĩa vụ tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn phải đóng các loại bảo hiểm khác khi sang làm việc tại nước sở tại. Ví dụ trường hợp người lao động Việt Nam đi Hàn Quốc để làm việc sẽ phải tham gia các bảo hiểm như: Bảo hiểm hồi hương, bảo hiểm rủi ro, bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động, bảo hiểm y tế. Như vậy, người lao động đi làm việc ở nước ngoài sẽ phải đóng đồng thời hai loại bảo hiểm xã hội nhưng quyền lợi của họ chưa được tương xứng với mức bảo hiểm mà người lao động phải đóng. Bên cạnh đó, Luật cũng chưa quy định rõ trường hợp người lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài trở về nước và không còn đủ thời gian lao động trong nước thì có được hưởng các chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và theo các hiệp định song phương, đa phương mà Việt Nam tham gia ký kết với các nước thì người lao động có được hưởng bảo hiểm xã hội không và mức hưởng như thế nào. Vì vậy, Luật cần quy định rõ hơn về quyền được hưởng bảo hiểm xã hội của người lao động đi làm việc ở nước ngoài.

1.3. Về chính sách đối với người lao động đi làm việc ở người ngoài sau khi trở về nước

Mục 4 Luật quy định về chính sách đối với người lao động sau khi về nước, theo đó, người lao động được hỗ trợ việc làm (Điều 59) và khuyến khích tạo việc làm (Điều 60). Tuy nhiên, theo quy định của Luật hiện hành thì chính sách đối với người lao động sau khi về nước chỉ dừng lại ở mức độ “Nhà nước khuyến khích” và “Nhà nước tạo điều kiện” mà chưa quy định cơ chế, thiết chế cụ thể để bảo đảm thực hiện sự khuyến khích và tạo điều kiện đó. Vì vậy, trên thực tế, chính sách này chỉ mang tính lý thuyết mà chưa thực sự đi vào cuộc sống. Bên cạnh đó, việc chưa quy định cụ thể chính sách “khuyến khích”, “tạo điều kiện” dẫn đến thực trạng sau khi người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài về nước chưa thực sự hòa nhập với xã hội, chưa có thông tin kịp thời để có thể tìm kiếm việc làm mới.

2. Một số kiến nghị

Để khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật trong thực tiễn thi hành như đã phân tích ở trên, tác giả cho rằng, cần thiết phải nghiên cứu, để sớm đề xuất sửa đổi Luật theo hướng:

2.1. Quy định rõ hơn trách nhiệm của các bên liên quan, đặc biệt cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài, trong đó đặc biệt chú trọng đến vai trò của Ban Quản lý lao động trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong thời gian làm việc ở nước ngoài. Đồng thời, luật hóa trách nhiệm của tổ chức công đoàn Việt Nam trong việc phối hợp với công đoàn các nước tiếp nhận lao động trong việc tham gia bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động Việt Nam khi đi lao động ở nước ngoài. Song song với nó, công đoàn Việt Nam cần tiếp tục tham gia ký kết các chương trình hợp tác với công đoàn các nước tiếp nhận lao động để có cơ sở pháp lý bảo vệ hơn nữa quyền của người lao động ở nước ngoài.

2.2. Để hài hòa về nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội và quyền được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, tác giả đề xuất sửa đổi Điều 44 Luật theo hướng quy định cụ thể về quyền của người lao động sau khi về nước sẽ được hưởng các “chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội” thay vì chỉ quy định chung chung như quy định của Luật hiện hành.

2.3. Người lao động Việt Nam đi lao động ở nước ngoài khi trở về thường có kinh nghiệm, kỹ năng, tác phong và ngoại ngữ hơn so với trước khi đi lao động nước ngoài. Vì vậy, để tận dụng kỹ năng, kinh nghiệm đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ, khuyến khích cụ thể để có thể tận dụng được kinh nghiệm ngoại ngữ, kỹ năng đã tích lũy khi làm việc ở nước ngoài để tìm kiếm công việc phù hợp sau khi trở về nước thay vì chỉ quy định chung chung là Nhà nước “hỗ trợ” và “khuyến khích” như Luật hiện hành. Lấy Malaysia làm ví dụ, Malaysia đã kinh doanh lao động theo nguyên tắc, tiếp nhận nhiều lao động nước ngoài giá rẻ và xuất đi lao động của nước mình có tay nghề cao, lương cao, thu nhập cao. Do đó, chính sách mà Nhà nước có thể hỗ trợ như đào tạo bổ sung để có thể giúp người lao động đã đi làm việc ở nước ngoài có thể tiếp tục một vòng lao động mới./.

Thịnh Anh


[1] Nghị định số 126/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã được thay thế bởi Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 và được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015; Quyết định số 144/2007/QĐ-TTg ngày 31/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập, quản lý và sử dụng Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020; Thông tư liên tịch số 08/TTLT-BLĐTBXH-BTP ngày 11/7/2007 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và Bộ Tư pháp hướng dẫn nội dung hợp đồng bảo lãnh và thanh lý hợp đồng bảo lãnh cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư liên tịch số 16/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 04/9/2007 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội và Bộ Tài chính quy định cụ thể về tiền môi giới và dịch vụ trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 04/9/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc quản lý và sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp và tiền ký quỹ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Thông tư số 21/2007/TT-BLĐTBXH ngày 08/10/2007 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật và Nghị định số 126/NĐ-CP; Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH về mẫu hợp đồng cung ứng lao động và hợp đồng đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BLĐTBXH-BTP về hợp đồng bảo lãnh và thanh lý hợp đồng bảo lãnh đi xuất khẩu lao động...

[2] http://www.molisa.gov.vn/vi/Pages/chitiettin.aspx?IDNews=26211

[3] Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2010), Báo cáo kết quả giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Hà Nội.

[4] Một số nước có thành lập Ban Quản lý lao động Việt Nam như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Đài Loan, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Cộng hòa Czech, Saudia Arabia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: