Thứ bảy 27/06/2026 10:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những đặc điểm tâm sinh lý ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của người Việt Nam

Tóm tắt: Qua bài viết, tác giả đã chỉ ra những nguyên nhân về kinh tế, chính trị, xã hội… ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của người Việt Nam và làm rõ sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm sinh lý đến ý thức pháp luật của chủ thể mang nó.


Abstract: Through this article, the author points out political, economical, social,... reasons which may impact legal awareness of Vietnamese and brings out the meaning of the impact of psychophysiological characteristics on their legal awareness.

1. Khái niệm ý thức pháp luật của người Việt Nam

Dưới góc độ khái quát, ý thức pháp luật được định nghĩa là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, tâm trạng, thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác, thể hiện mối liên hệ của con người đối với pháp luật, sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp đối với hành vi của các chủ thể trong xã hội[1]. Gắn với chủ thể là người Việt Nam, ý thức pháp luật của người Việt Nam có thể được hiểu là tổng thể những tư tưởng, quan điểm cũng như thái độ và sự đánh giá của người Việt Nam đối với các quy định pháp luật, các hành vi pháp luật và các hiện tượng khác trong thực tiễn đời sống pháp lý Việt Nam, thể hiện mối liên hệ giữa người dân Việt Nam với pháp luật nói chung. Ở góc nhìn vi mô, ý thức pháp luật của mỗi người dân Việt Nam được thể hiện qua hiểu biết pháp luật, tình cảm pháp luật và được phản ánh một phần qua những hành vi pháp luật.

2. Những yếu tố tâm sinh lý ảnh hưởng đến ý thức pháp luật của người Việt Nam

Để có thể đánh giá khách quan, chính xác thực trạng ý thức pháp luật của công dân Việt Nam trước hết chúng ta cần nhận diện những đặc điểm tâm sinh lý của người Việt Nam có ảnh hưởng đáng kể đến ý thức pháp luật.

2.1. Về tâm lý

Thứ nhất, người Việt Nam luôn có tính cố kết cộng đồng cao: Lối sống đề cao cộng đồng ở góc độ tích cực giúp củng cố tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái đặc biệt là trong những hoàn cảnh khó khăn[2]. Tuy nhiên, đặc tính này cũng dẫn đến một nhược điểm đó là kìm hãm sự phát triển của cá tính, khiến người Việt Nam có xu hướng hay “nhìn trước ngó sau” khi làm một việc gì đó, đôi khi thiếu quyết đoán và thiếu tinh thần trách nhiệm. Tính cố kết cộng đồng cũng dễ biến tướng thành tâm lý cục bộ, địa phương từ đó làm méo mó hành vi của con người và càng trở nên nguy hiểm khi người dân thiếu niềm tin và sự thiện cảm đối với các chủ thể công quyền. Ở nước ta, có hiện tượng người dân liên kết với nhau để cùng “đối phó” với pháp luật và lực lượng chức năng, ví dụ thực tế như: Các lái xe đường dài sử dụng những ký hiệu riêng để báo động cho nhau về các chốt cảnh sát giao thông, điểm bắn tốc độ, trạm cân; các hộ kinh doanh báo động cho nhau về các đợt thanh tra, kiểm tra của lực lượng quản lý thị trường; các hộ dân biểu tình trái pháp luật để cản trở công tác giải phóng mặt bằng…

Thứ hai, còn ỷ lại và thụ động[3]: Đặc tính này có mối liên hệ mật thiết và phái sinh từ đặc tính đầu tiên đã trình bày. Do thói quen sống theo cộng đồng, sống dựa vào cộng đồng mà người Việt Nam ta đôi khi vẫn có tâm lý dựa dẫm, không tự thân quyết tâm, nỗ lực hết sức để đạt được mục tiêu. Khi gặp khó khăn họ thường hay nhờ vả và có xu hướng đùn đẩy phần khó sang người khác. Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng “thiếu trách nhiệm cá nhân, thừa trách nhiệm tập thể”. Sự thụ động này cũng là một nhân tố giúp lý giải vì sao tính tích cực chính trị của công dân Việt Nam hiện nay chưa cao và hiểu biết pháp luật còn mang tính một chiều. Chúng ta thường có tư duy chấp nhận tri thức thay vì tư duy phản biện. Một bộ phận công dân rất yêu mến pháp luật nhưng lại hình thành lối suy nghĩ “luật luôn đúng”, “làm theo luật mới là đúng”, từ đó tự biến mình thành những kẻ phục tùng pháp luật một cách vô điều kiện, biến pháp luật thành một thứ nhất thành, bất biến. Một bộ phận cán bộ, công chức tỏ ra cứng nhắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật mà thiếu đi tính linh hoạt, sáng tạo. Cần thấy rằng, ý thức pháp luật và pháp luật là hai hiện tượng có mối quan hệ tác động qua lại rất phức tạp. Thực tại pháp luật được phản ánh vào trong ý thức pháp luật tạo thành các tri thức và ngược lại, ý thức pháp luật có thể vượt trước để cải tạo thực tại pháp luật[4]. Do đó, việc thiếu vắng tư duy phản biện sẽ làm kìm hãm sự phát triển của cả hai hiện tượng.

Thứ ba, tính dễ lan truyền hay còn gọi là “tâm lý đám đông”: Đây là một đặc điểm thường thấy của người dân Á Đông và được thể hiện đặc biệt rõ nét ở người Việt Nam. Tính cách này cũng chứa đựng trong mình cả những ưu điểm và hạn chế. Ở khía cạnh tích cực, tính lan truyền là chất keo gắn kết để tạo nên dư luận xã hội, một thứ quyền lực có sức mạnh vô cùng to lớn trong xã hội hiện đại. Chúng ta đã chứng kiến nhiều trường hợp sự phản ánh và phản kháng gay gắt của người dân trước các hiện tượng vi phạm pháp luật đã buộc nhà chức trách phải vào cuộc và giải quyết một cách triệt để chỉ trong một thời gian ngắn, như vụ cô giáo tông xe vào học sinh ở trường tiểu học Nam Trung Yên hay vụ giáo viên lăng mạ học viên tại Trung tâm Ngoại ngữ MST… Tuy nhiên, ở khía cạnh tiêu cực, “tâm lý đám đông” có thể dẫn tới hiện tượng a dua, hình thành và phát tán những dư luận xấu, phản ánh một cách hời hợt, không đánh giá được chính xác ý nghĩa pháp lý của sự việc hoặc cổ xúy cho những cách hành xử không phù hợp với quy định của pháp luật[5]. Tâm lý đám đông này không chỉ dừng ở việc lên án, chỉ trích vô căn cứ, phản ánh sai tính chất pháp lý của vụ việc mà đôi khi dẫn tới những hành động bột phát, gây mất trật tự xã hội.

Thứ tư, tính tiếp thu và thích nghi nhanh của người Việt Nam: Người Việt Nam được đánh giá là ham học hỏi và có khả năng lĩnh hội rất nhanh. Đây là một ưu điểm khiến cho nhiều doanh nghiệp tầm cỡ thế giới đã quyết định đặt hạ tầng sản xuất ở Việt Nam và sử dụng công nhân Việt Nam làm lực lượng lao động chính. Song, một cái “dở” cũng được chính người nước ngoài chỉ ra là người Việt Nam ít khi học “đến nơi đến chốn” cho nên nhiều kiến thức chỉ nắm được phần vỏ mà chưa hiểu được cái nền tảng và ý nghĩa bên trong. Nói về tri thức pháp luật, phần đông người dân Việt Nam chưa có cơ hội tiếp xúc và nhận thức đầy đủ những học thuyết, quan điểm, quan niệm về nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năng, hình thức của pháp luật hay cơ chế điều chỉnh pháp luật. Ngay đối với những tri thức thuộc về pháp luật thực định, sự hiểu biết và khả năng làm chủ của người Việt Nam cũng chưa cao. Công dân thường nắm rõ các quy định liên quan đến các nghĩa vụ mà mình phải thực hiện hơn là các quyền, lợi ích hợp pháp mà mình được hưởng. Trong bản thân các nghĩa vụ pháp lý, công dân cũng mới chỉ nắm được yêu cầu của Nhà nước về việc “phải làm gì” mà chưa quan tâm đến việc “phải làm như thế nào”. Từ đó, dẫn đến tình trạng biết về các quy định của pháp luật nhưng không nắm rõ được hoặc biết nhưng không vận dụng được.

Thứ năm, người Việt Nam rất coi trọng tình cảm: Tác động tốt của tính cách này là rất rõ ràng và không thể phủ nhận. Một khi coi trọng tình cảm, con người sống với nhau sẽ luôn hướng tới sự nhân bản, trong ứng xử hàng ngày đều luôn có yếu tố hướng thiện, đề cao tinh thần bao dung, chia sẻ, cảm thông với người khác. Tuy nhiên, khi cảm thông quá đến mức “xuề xòa” thì những tác động tốt đẹp này sẽ bị đảo cực. Chúng ta vẫn hay nói đến câu chuyện “một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, đây là một lối tư duy rất nguy hiểm khi đã đặt pháp luật xuống sau yếu tố tình cảm[6]. Cho dù là chủ thể áp dụng pháp luật hay là chủ thể thi hành pháp luật, một khi mang tư tưởng như vậy sẽ có những hành vi không đúng mực, vi phạm vào nguyên tắc pháp chế. Nhìn rộng ra, trong một xã hội mà yếu tố tình cảm được coi trọng một cách thái quá thì pháp luật sẽ rất khó chiếm được vị trí thượng tôn trong đời sống xã hội. Sẽ càng nguy hiểm khi tâm lý coi trọng tình cảm lại được kết hợp với sự hiểu biết pháp luật không chính xác. Từ việc nhận thức hời hợt về nội dung pháp luật, không hiểu được ý nghĩa, tinh thần mà nhà làm luật muốn chuyển tải, nhiều trường hợp các quy định của pháp luật đã bị người dân hiểu sai. Đơn cử như trong vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng ở Bắc Giang, khi mức án phạt đối với bị cáo được tuyên ra, có một luồng dư luận cho rằng bản án này là quá nhẹ và pháp luật hình sự Việt Nam còn lỏng lẻo, chưa đủ nghiêm khắc. Từ đó, nhiều ý kiến đề nghị phải xử tử hình đối với kẻ gây án[7]. Chi tiết này phản ánh một thực trạng khá đáng buồn khi một bộ phận không nhỏ người dân hầu như không có hiểu biết gì về nguyên tắc xét xử đối với người chưa thành niên phạm tội, nguyên tắc nhân đạo trong hoạt động xét xử cũng như xu hướng bỏ án tử hình ở nhiều nước trong xã hội đương đại. Hay như trong vụ việc Công ty Formosa xả thải trái phép gây ô nhiễm môi trường, nhiều người dân cho rằng, việc không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với công ty này là sự “bao che”, “nể nang” của Nhà nước. Vấn đề nằm ở chỗ, Bộ luật Hình sự Việt Nam tại thời điểm đó chưa thừa nhận pháp nhân là chủ thể của tội phạm. Như vậy, nếu hiểu biết pháp luật đầy đủ và chính xác, người công dân có trách nhiệm lẽ ra phải kiến nghị sửa đổi luật thay vì tỏ thái độ đối với một hoạt động phù hợp với pháp luật của cơ quan công quyền.

Thứ sáu, người Việt Nam vẫn có tâm lý nghi kị, dò xét: Được đánh giá cao bởi sự cởi mở, thân thiện nhưng không ít lần người Việt Nam cũng bị phê bình bởi sự thiếu thật thà, thiếu tin tưởng vào đối phương. Một trong những lý do khiến pháp luật chưa thể vươn tới vị trí tối thượng trong đời sống xã hội là do nó chưa chiếm được niềm tin hoàn toàn của toàn bộ người dân. Cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, hiện nay, vẫn có một bộ phận công dân Việt Nam tỏ ra hoài nghi về tính công bằng, tính minh bạch cũng như tính hiệu lực, hiệu quả của pháp luật. Sở dĩ có tâm lý này không chỉ vì bản thân nội dung pháp luật có nhiều hạn chế mà còn do những bất cập trong cơ chế tổ chức thực hiện pháp luật. Một bộ phận người dân cho rằng nhiều quy định pháp luật hiện nay xuất phát từ lợi ích nhóm hoặc trong quá trình thực hiện sẽ bị mang màu sắc lợi ích nhóm, từ đó mà lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ, bảo đảm một cách trọn vẹn. Tuy nhiên, sự hoài nghi không phải không có ý nghĩa tích cực của nó. Khi tiếp nhận thông tin về các hiện tượng xã hội, người dân Việt Nam bắt đầu có xu hướng liên hệ tới các quy định của pháp luật và tự đặt ra những câu hỏi như “liệu có trái pháp luật hay không?”, “vai trò của pháp luật thể hiện ở chỗ nào?”, “có truy cứu trách nhiệm hình sự được không?”… Sự tự hoài nghi những tri thức pháp luật của mình chính là chất xúc tác tốt nhất giúp chủ thể trau dồi, hoàn thiện những tri thức ấy, dần dần hình thành nên lối tư duy bằng pháp luật.

Thứ bảy, thái độ thờ ơ, vô cảm của một bộ phận người dân Việt Nam hiện nay trước các hiện tượng xã hội: Tình trạng này thể hiện đặc biệt rõ ở địa bàn thành thị, nơi tác phong nông nghiệp dần dần nhường chỗ cho lối sống công nghiệp. Khi mà con người có nhiều lợi ích cá nhân cần thỏa mãn hơn, họ ít chú ý đến những lợi ích chung của xã hội, theo thời gian sẽ hình thành nên lối sống ích kỷ, thực dụng và trách nhiệm đối với cộng đồng ngày càng giảm xuống. Tâm lý dĩ hòa vi quý, “tránh voi chẳng xấu mặt nào” khiến người ta có xu hướng “khuất mắt trông coi” khi vô tình chứng kiến những hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Thậm chí ngay cả khi họ là người trong cuộc và có những thiệt hại về lợi ích hợp pháp, tinh thần phản ánh, phản kháng cũng bị thui chột bởi nhiều lý do khác nhau như ngại phiền phức, sợ bị trả thù, sợ bị phô bày cái xấu của chính mình… Do đó, trên thực tế có rất nhiều sai phạm diễn ra trong một thời gian dài ở môi trường gia đình, trường học nhưng cơ quan chức năng hầu như không nắm bắt được thông tin. Bạo lực học đường, bạo hành gia đình, trấn lột, gian lận thương mại là những vấn nạn gây nhức nhối xã hội nhưng thường chỉ được phản ánh một cách chậm trễ khi đã ở vào những hoàn cảnh “tức nước, vỡ bờ”. Đơn cử như vụ việc một nam diễn viên Việt Nam bị bắt tại Mỹ và bị cáo buộc với tội danh xâm hại tình dục trẻ em. Sau khi các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về sự kiện chấn động này thì một loạt nghệ sỹ trong nước mới đồng thanh lên tiếng tố cáo những hành vi tương tự trong quá khứ của bị cáo[8]… Sự thờ ơ, vô cảm cũng dẫn tới tình trạng lười nhác thực hiện nghĩa vụ công dân như thấy người bị nạn nhưng không cứu, thấy hỏa hoạn nhưng không báo… trong nhiều trường hợp đã dẫn đến những hậu quả rất đáng tiếc.

Thứ tám, tâm lý tự ti: Trong cách ứng xử hàng ngày, nhiều người Việt Nam đôi khi vẫn tỏ ra rụt rè, dè dặt, nhất là trong những môi trường mới. Khi nảy sinh những mâu thuẫn, tranh chấp người Việt Nam ngại va chạm trực diện, ngại thể hiện rõ chính kiến của bản thân, đôi khi chấp nhận phần thua thiệt để đổi lấy sự bình yên. Trong đời sống pháp luật, đa số người dân Việt Nam không mấy tự tin khi phải tiếp xúc với pháp luật. Ví dụ dễ thấy, khi đến làm thủ tục tại các cơ quan hành chính hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ công, người dân thường có tâm lý lo lắng, hồi hộp đôi khi trở nên khép nép. Khi bị cảnh sát giao thông dừng xe, dù chưa biết lý do nhưng người điều khiển phương tiện thường có thái độ sợ hãi, căng thẳng, tự ức chế về mặt tâm lý. Liên quan đến những tranh chấp dân sự, người Việt Nam phần nhiều còn mang tâm lý ngại quan tụng, không ưa giải quyết bằng con đường tài phán. Biểu hiện cực đoan của sự thiếu tự tin này là xu hướng lẩn tránh pháp luật, cố gắng lựa chọn phương án xử sự ít động chạm đến những khía cạnh pháp lý hơn. Về phía chủ thể xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, tâm lý thiếu tự tin thể hiện ở việc sợ trách nhiệm, đôi khi chấp nhận lựa chọn phương án an toàn thay vì tìm kiếm phương án tối ưu. Một số quy định pháp luật được đưa ra nhưng triển khai còn cầm chừng, không quyết liệt, thời gian thí điểm, thử nghiệm kéo dài.

Thứ chín, không coi trọng thời gian và thiếu tính khoa học trong công việc[9]: Đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, hiệu suất thực thi pháp luật của các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là đối với các chủ thể công quyền. Ở Việt Nam, có nhiều thủ tục hành chính được cho là rườm rà, phức tạp gây tốn thời gian, phiền hà cho cả hai phía. Vấn đề thời hạn, thời hiệu giải quyết các tranh chấp hay các vi phạm pháp luật đôi khi vẫn bị coi nhẹ. Tính khoa học chưa cao trong hoạt động thi hành án cũng gây ra nhiều bất cập. Các quy định của pháp luật dù không bị vi phạm nhưng nếu không được thực hiện một cách tích cực, thường xuyên và linh hoạt thì cũng không thể nói ý thức pháp luật của người dân đã hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của cuộc sống.

Cuối cùng, phải thẳng thắn nhìn nhận, “bệnh hình thức” đã lây nhiễm vào cả những hoạt động pháp lý của nước ta từ khâu xây dựng pháp luật cho đến khâu tổ chức thi hành pháp luật. Biểu hiện dễ thấy là khi nào Nhà nước tăng cường hoạt động kiểm tra giám sát, chấn chỉnh (trong ngôn ngữ đời thường hay gọi là các đợt “ra quân”) thì tỉ lệ vi phạm giảm đáng kể, nhưng sau đó lại tăng trở lại, các hiện tượng vi phạm lại tái diễn. Hành vi giao thông ở những ngã ba, ngã tư có cảnh sát giao thông đứng điều khiển nghiêm túc hơn nhiều so với những giao lộ vắng bóng cảnh sát giao thông. Do đó, đây cũng phải xem là một “mầm bệnh” cần khắc phục nếu chúng ta muốn nâng cao ý thức pháp luật của người dân.

2.2. Về sinh lý

Người Việt Nam có thể hình nhỏ bé hơn mặt bằng chung trong khu vực cũng như trên thế giới. Chúng ta cũng không có lợi thế về thể lực song lại được đánh giá cao về khả năng chịu đựng, sự bền bỉ. Với đặc điểm sinh lý như vậy, người Việt Nam có xu hướng sử dụng trí tuệ hơn là sức lực trong việc xử lý các tình huống khó khăn. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, người Việt Nam có tư chất thông minh song lại thiên về sự lanh lẹ hay gọi theo một cách dân dã hơn là “khôn vặt”. Điều này cũng ít nhiều góp phần hình thành nên lối tư duy lách luật, đối phó khá đặc trưng của người dân Việt Nam. Với hiểu biết không đủ sâu và thiếu toàn diện về pháp luật, một bộ phận không nhỏ người Việt Nam tuy có ý thức tránh không vi phạm pháp luật nhưng lại chỉ thực hiện pháp luật một cách nửa vời, cầm chừng. Có thể dẫn ra đây vài minh chứng như việc người tham gia giao thông đội mũ bảo hiểm không đạt chuẩn, không có tác dụng bảo vệ đầu mà chỉ để “làm cảnh”, lắp gương không có tác dụng quan sát mà chỉ “cho có”; người đi đường xả rác bừa bãi ở bất cứ đâu không thấy biển cấm… Ở khía cạnh còn lại, sự yếu thế về thể lực lại có quan hệ biện chứng với tính cố kết cộng đồng, hình thành lối sinh hoạt dựa vào sức mạnh của số đông.

3. Đôi dòng kết luận

Đánh giá về ý thức pháp luật là một hoạt động cần thiết và luôn mang tính thời sự. Trong khoảng hai chục năm trở lại đây, ý thức pháp luật trở thành chủ đề nghiên cứu thu hút nhiều nhà khoa học ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau, từ triết học, xã hội học, tâm lý học cho tới luật học. Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực so với thời kỳ trước nhưng vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận rằng ý thức pháp luật của người dân Việt Nam chưa cao so với người dân các nước phát triển, chưa đáp ứng được đòi hỏi của đời sống xã hội. Song sẽ là phiến diện nếu chỉ làm một phép so sánh cơ học mà không tính đến những yếu tố đặc thù thuộc về tâm sinh lý của chủ thể. Qua bài viết, tác giả mong muốn đóng góp thêm một góc nhìn cho vấn đề vốn khá phức tạp này./.

ThS. Phạm Vĩnh Hà

Đại học Luật Hà Nội





[1]. Xem Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp, 2016, tr. 443 - 444.

[2]. Xem Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh, 2001.

[3]. Xem bài viết “Người Việt Nam thuộc văn hóa âm tính nên thụ động” tại địa chỉ http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/gs-tran-ngoc-them-nguoi-viet-thuoc-van-hoa-am-tinh-nen-thu-dong-n20130718130711043.htm.

[4]. Xem Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp, 2016, tr. 445.

[5]. Xem bài viết “Hậu quả xã hội khôn lường từ hội chứng tâm lý đám đông” tại địa chỉ: http://www.doisongphapluat.com/xa-hoi/hau-qua-xa-hoi-khon-luong-tu-hoi-chung-tam-ly-dam-dong-a22088.html.

[6]. Xem Nguyễn Hồi Loan, Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhập kinh tế, Tạp chí Tâm lý học, số 7/2005.

[7]. Xem bài viết “Một triệu chữ ký đòi tử hình Lê Văn Luyện” tại địa chỉ: http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/guong-mat-tre/mot-trieu-chu-ki-doi-tu-hinh-le-van-luyen-56589.html.

[8]. Xem bài viết “Nhiều nạn nhân tố cáo Minh Béo quấy rối tình dục lên tiếng” tại địa chỉ: http://baodatviet.vn/van-hoa/tin-tuc-giai-tri/nhieu-nan-nhan-to-minh-beo-quay-roi-tinh-duc-len-tieng-3304225/.

[9]. Xem Trần Ngọc Thêm, sđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: