Thứ bảy 08/08/2026 01:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới, nội dung cơ bản của các luật vừa được Quốc hội thông qua

Kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XV vừa diễn ra thành công tốt đẹp sau 27,5 ngày làm việc với tinh thần tích cực, khẩn trương và trách nhiệm. Tại kỳ họp này, Quốc hội đã dành phần lớn thời gian vào xem xét công tác lập pháp, trong đó đã thông qua 11 luật với nhiều điểm mới.

Những điểm mới, nội dung cơ bản của các luật vừa được Quốc hội thông qua- Ảnh 1.

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội dành phần lớn thời gian vào xem xét công tác lập pháp, trong đó đã thông qua 11 luật với nhiều điểm mới - Ảnh: VGP/Nguyễn Hoàng

Cụ thể, 11 luật vừa được Quốc hội thông qua gồm: Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi); Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp; Luật Đường bộ; Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Luật Lưu trữ (sửa đổi); Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sửa đổi); Luật Thủ đô (sửa đổi); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15.

Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) được ban hành nhằm bảo đảm an sinh xã hội; khắc phục căn bản các vướng mắc, bất cập từ thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị quyết số 93/2015/QH13; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính đồng bộ, thống nhất, khả thi, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và bảo đảm yếu tố bình đẳng giới; mở rộng, gia tăng quyền, lợi ích, tạo sự hấp dẫn để thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội; đồng thời, bảo đảm tốt nhất quyền lợi cho người lao động đang làm việc và người hưởng lương hưu; hoàn thiện cơ chế quản lý và hệ thống tổ chức thực hiện chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả, công khai, minh bạch.

Luật gồm 11 chương, 141 điều với một số điểm mới cơ bản như: Quy định về trợ cấp hưu trí xã hội trên cơ sở kế thừa và phát triển một phần quy định của Luật Người cao tuổi về trợ cấp xã hội hằng tháng đối với người cao tuổi; mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đến một số nhóm đối tượng, như: chủ hộ kinh doanh của hộ có đăng ký kinh doanh; người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố; người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp tại công ty và công ty mẹ, người quản lý điều hành hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã không hưởng tiền lương..., người lao động làm việc không trọn thời gian...

Mở rộng quyền lợi được thụ hưởng đầy đủ các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người tham gia bảo hiểm xã hội ở một số nhóm đối tượng như: người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; giảm điều kiện về số năm đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng lương hưu hằng tháng từ 20 năm xuống 15 năm; người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản với mức là 02 triệu đồng cho mỗi con mới sinh do ngân sách Nhà nước bảo đảm.

Quy định cụ thể về "mức tham chiếu" thay cho "mức lương cơ sở"; về tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với khu vực ngoài nhà nước. Quy định về việc ban hành Bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; bổ sung quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung…

Luật Công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp được ban hành nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập của Pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng, Pháp lệnh Động viên công nghiệp, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, phòng thủ và bảo vệ Tổ quốc.

Luật gồm 07 chương, 86 điều, quy định một số nội dung cơ bản như: Vị trí, nhiệm vụ, nguyên tắc xây dựng và phát triển, chính sách của nhà nước về công nghiệp quốc phòng, an ninh và động viên công nghiệp. Quy hoạch công nghiệp quốc phòng, quy hoạch công nghiệp an ninh, quản lý hoạt động sản xuất quốc phòng, an ninh. Nguồn lực cho công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh lưỡng dụng; tổ chức và hoạt động công nghiệp quốc phòng, an ninh. Tổ hợp công nghiệp quốc phòng. Chuẩn bị và thực hành động viên công nghiệp, ngân sách bảo đảm và dự trữ vật tư cho động viên công nghiệp. Chính sách đối với cơ sở công nghiệp quốc phòng, cơ sở công nghiệp an ninh, cơ sở công nghiệp động viên.

Chế độ, chính sách đối với người lao động trong cơ sở công nghiệp quốc phòng nòng cốt, cơ sở công nghiệp an ninh nòng cốt, cơ sở công nghiệp động viên. Chính sách đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phục vụ công nghiệp quốc phòng, an ninh; hợp tác quốc tế và thương mại quốc tế về công nghiệp quốc phòng, an ninh…

Luật Đường bộ được ban hành để khắc phục những bất cập, hạn chế của Luật Giao thông đường bộ, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ về hoạt động giao thông vận tải đường bộ, thúc đẩy sự phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ và bảo đảm tốt hơn quyền tự do đi lại của công dân.

Luật gồm 6 chương, 86 điều, quy định một số nội dung cơ bản như: Kết cấu hạ tầng đường bộ. Đường bộ cao tốc. Vận tải đường bộ. Quản lý nhà nước về hoạt động đường bộ…; trong đó, dành 1 chương để quy định về đường bộ cao tốc nhằm tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư, xây dựng đường bộ cao tốc, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đi lại của người dân.

Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ được ban hành nhằm khắc phục những bật cập, hạn chế sau 15 năm thực hiện Luật Giao thông đường bộ năm 2008; tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, chặt chẽ để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.

Luật gồm 09 chương, 89 điều, với một số nội dung cơ bản như: Quy tắc giao thông đường bộ. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ. Tuần tra, kiểm soát về trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Giải quyết tai nạn giao thông đường bộ. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ…

Luật Lưu trữ (sửa đổi) được ban hành nhằm thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về lưu trữ, đổi mới hoạt động quản lý và thực hiện các nghiệp vụ về lưu trữ, khắc phục những bất cập, hạn chế trong thực tiễn công tác lưu trữ hiện nay, đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, toàn diện và hội nhập quốc tế.

Luật gồm 08 chương, 65 điều, quy định một số nội dung mới như: Bổ sung tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã vào nguồn nộp tài liệu vào lưu trữ lịch sử của Nhà nước ở cấp tỉnh. Bổ sung quy định về áp dụng Luật Lưu trữ và pháp luật có liên quan để xử lý mối quan hệ giữa Luật Lưu trữ và quy định của một số luật hiện hành có quy định đặc thù về hoạt động lưu trữ, nhất là với quy định của Luật Di sản văn hóa.

Rút ngắn thời hạn nộp tài liệu vào lưu trữ lịch sử là 5 năm tính từ năm tài liệu được nộp vào lưu trữ hiện hành. Bổ sung quy định cụ thể về tài liệu lưu trữ điện tử và nghiệp vụ lưu trữ tài liệu điện tử. Dành 1 chương để quy định về lưu trữ tư, trong đó quy định các chính sách của Nhà nước về lưu trữ tư để thu hút nhiều hơn sự tham gia của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động lưu trữ.

Quy định 1 chương riêng về hoạt động dịch vụ lưu trữ, trong đó quy định về điều kiện kinh doanh hoạt động dịch vụ lưu trữ, phạm vi cung cấp dịch vụ lưu trữ, đơn giản hóa việc cấp chứng chỉ hành nghề lưu trữ...

Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (sửa đổi) được Quốc hội xem xét, thông qua theo quy trình tại 1 kỳ họp nhằm kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý hành vi vi phạm pháp luật sử dụng các loại vũ khí tự chế, dao, kiếm, mã tấu và nhiều loại công cụ nguy hiểm khác; đồng thời sửa đổi các quy định về trình tự, thủ tục quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Luật gồm 8 chương, 75 điều, trong đó, có một số nội dung mới quy định "dao có tính sát thương cao" thuộc danh mục do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành, khi sử dụng vào mục đích thực hiện hành vi phạm tội, gây rối, làm mất trật tự công cộng hoặc chống đối cơ quan, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, người thi hành công vụ thì xác định là vũ khí thô sơ, khi sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật thì xác định là vũ khí quân dụng; đồng thời, giao Chính phủ quy định các biện pháp bảo đảm an toàn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu, sử dụng, vận chuyển hoặc mang dao có tính sát thương cao nhằm tăng cường quản lý các hoạt động này, phòng ngừa nguy cơ lợi dụng để vi phạm pháp luật...

Luật Thủ đô (sửa đổi) thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển Thủ đô "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại" với vị trí, vai trò là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, hướng tới đô thị thông minh, hiện đại, xanh, sạch, đẹp, an ninh, an toàn; phát triển nhanh, bền vững, có sức lan tỏa để thúc đẩy vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước cùng phát triển.

Luật gồm 7 chương, 54 điều, tập trung quy định những cơ chế, chính sách đặc thù, đặc biệt, thể hiện sự phân quyền mạnh mẽ cho chính quyền thành phố Hà Nội như: Tổ chức chính quyền đô thị. Các chính sách về xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô trong các lĩnh vực cụ thể (như: quy hoạch xây dựng, phát triển Thủ đô; quản lý không gian ngầm; cải tạo, chỉnh trang đô thị; phát triển các khu công nghệ cao; thử nghiệm có kiểm soát; phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội...).

Chính sách tài chính, ngân sách và huy động nguồn lực phát triển Thủ đô (như: sử dụng nguồn lực tài chính, ngân sách cho phát triển Thủ đô, đầu tư mạo hiểm có sử dụng ngân sách nhà nước, thẩm quyền đầu tư, thực hiện dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư, thực hiện hợp đồng xây dựng - chuyển giao, quản lý, sử dụng tài sản công và khai thác công trình hạ tầng, thu hút nhà đầu tư chiến lược, ưu đãi đầu tư…). Các nội dung về liên kết, phát triển vùng...

Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) thể chế hóa các yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp về cải cách tư pháp trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới và các nghị quyết, văn kiện của Đảng; khắc phục những khó khăn, bất cập của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Luật gồm 9 chương, 152 điều, quy định một số nội dung cơ bản như: Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử, quyết định về các tranh chấp, vi phạm pháp luật, về những vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của luật; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án theo thẩm quyền xét xử (trong đó có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm).

Tục hoàn thiện quy định về Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia. Thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm chuyên biệt. Quy định Thẩm phán có 02 ngạch là ngạch Thẩm phán Tòa nhân dân tối cao và ngạch Thẩm phán Tòa án nhân dân; bậc của Thẩm phán Tòa án nhân dân do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.

Mở rộng nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đối với luật sư, giảng viên đại học. Quy định về bảo vệ Thẩm phán, bảo vệ Tòa án. Quy định lựa chọn ngẫu nhiên Thẩm phán, Hội thẩm tham gia xét xử. Quy định về xây dựng Tòa án điện tử;…

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cảnh vệ được Quốc hội xem xét, thông qua theo quy trình tại 1 kỳ họp nhằm cụ thể hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về cảnh vệ; bảo đảm tính ổn định, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với tiến trình hội nhập, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế; góp phần xây dựng lực lượng Cảnh vệ đáp ứng yêu cầu phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Luật gồm 2 điều, sửa đổi, bổ sung 15 điều thuộc 4 chương của Luật Cảnh vệ hiện hành, trong đó đã sửa đổi, bổ sung một số quy định về: Đối tượng cảnh vệ; chế độ cảnh vệ; biện pháp cảnh vệ; lực lượng cảnh vệ, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh vệ; quyền hạn của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ, Cục trưởng Cục Bảo vệ an ninh Quân đội…

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu giá tài sản tiếp tục thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển dịch vụ đấu giá tài sản theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Luật gồm 3 điều, sửa đổi 44 điều, bãi bỏ 2 điều và bổ sung 2 điều mới của Luật Đấu giá tài sản hiện hành, trong đó, quy định một số nội dung lớn như: Bỏ điều kiện phải có thời gian làm việc trong lĩnh vực được đào tạo 03 năm mới được tham gia khóa đào tạo nghề đấu giá; bỏ các trường hợp được miễn đào tạo nghề đấu giá nhằm đảm bảo tất cả các đối tượng muốn trở thành đấu giá viên đều phải qua khóa đào tạo nghề để được trang bị kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề, đạo đức nghề nghiệp phù hợp với tính chất hành nghề đấu giá tài sản là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Sửa đổi, bổ sung một số quy định về trình tự, thủ tục đấu giá, về đấu giá trực tuyến, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đảm bảo tính chặt chẽ, khách quan, công khai, minh bạch, tính khả thi, hiệu quả của việc đấu giá tài sản khắc phục vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, hạn chế các tiêu cực phát sinh, nhất là đối với một số tài sản đặc thù. Tăng cường trách nhiệm của người có tài sản đấu giá trong quá trình tổ chức đấu giá, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đấu giá tài sản…

Cuối cùng là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai số 31/2024/QH15, Luật Nhà ở số 27/2023/QH15, Luật Kinh doanh bất động sản số 29/2023/QH15, Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 được Quốc hội bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024 và xem xét, thông qua theo quy trình, thủ tục rút gọn tại 1 kỳ họp.

Luật gồm 5 điều, quy định theo hướng cho phép Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2024 (riêng khoản 10 Điều 255 và khoản 4 Điều 260 của Luật Đất đai có hiệu lực từ ngày 01/01/2025), qua đó, góp phần sớm đưa các nội dung đổi mới của Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản vào thực tiễn, khơi thông nguồn lực đất đai, kịp thời giải quyết, xử lý dứt điểm các tồn tại, bất cập đã chỉ ra trong quá trình tổng kết thi hành 03 luật và phát huy những ưu việt của chính sách, quy định tiến bộ trong các luật nêu trên; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp và người dân trong việc thực hiện quyền của người sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người có đất bị thu hồi, thúc đẩy sự tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở…

Nguyễn Hoàng

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi) - Từ đổi mới chính sách đến yêu cầu tổ chức thực hiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, chuyển đổi số quốc gia, tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp và hội nhập quốc tế, nhiều quy định của Luật đã bộc lộ hạn chế, bất cập cần được sửa đổi, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích bối cảnh và thực tiễn thi hành, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết sửa đổi Luật; phân tích 06 chính sách lớn và những điểm mới của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* ( dự thảo Luật), đồng thời, đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức thi hành Luật.
Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, hiệu lực, hiệu quả, việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt ra yêu cầu đổi mới phương thức quản trị ở địa phương. Cùng với quá trình phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành công cụ quan trọng nhằm bảo đảm đội ngũ cán bộ, công chức và người dân hiểu đúng, thực hiện đúng pháp luật, qua đó, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong xã hội. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong điều kiện thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị địa phương và bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật của người dân.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Hoàn thiện quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới

Trong khuôn khổ Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng ngày 05/8, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng trình bày Tờ trình về dự án Luật Hòa giải ở cơ sở (sửa đổi) và Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội Nguyễn Đắc Vinh trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Xác định pháp luật là công cụ hiện thực hóa các mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước

Chiều ngày 06/8, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng làm việc với Viện Chiến lược và Khoa học pháp lý về Đề án "Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới". Tham dự buổi làm việc có Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tú; đại diện Lãnh đạo một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp cùng các chuyên gia, nhà khoa học.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong môi trường số

Tóm tắt: Chuyển đổi số tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội và đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho người dân, nhất là người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích việc hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo vệ người tiêu dùng trên các nền tảng thương mại điện tử. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tham chiếu kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật hiện hành trong xác định đối tượng, nội dung, phương thức phổ biến, cơ chế phối hợp và đánh giá hiệu quả. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)1 (dự thảo Luật) theo hướng phát triển năng lực pháp lý số, góp phần nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro và tự bảo vệ của người tiêu dùng trong môi trường số.
Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Phát huy vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật giữ vai trò quan trọng nhằm đưa pháp luật vào đời sống xã hội, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp chính quyền gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các nhu cầu của người dân, đồng thời, là chủ thể giữ vai trò trung tâm trong tổ chức triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại cơ sở. Nghiên cứu tập trung phân tích cơ sở lý luận và pháp lý về vai trò, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; đánh giá thực trạng triển khai trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với lĩnh vực này.
Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Làm rõ cơ chế phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công trình liên quan đến an ninh quốc gia

Sáng ngày 06/8, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh chủ trì cuộc họp thẩm định hồ sơ dự án Luật Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia. Tham dự cuộc họp có đại diện các bộ, ngành có liên quan và một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và xã hội số, việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích cơ sở lý luận, quy định pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật) và kinh nghiệm quốc tế, từ đó chỉ ra những khoảng trống pháp lý trong chuyển đổi số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng hệ sinh thái phổ biến, giáo dục pháp luật số hiệu quả, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số quốc gia.
Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Hoàn thiện quy định về căn cứ, phạm vi và thủ tục bồi thường của nhà nước trong dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước

Tóm tắt: Trước yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền được bồi thường của cá nhân, tổ chức và khắc phục những bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, nghiên cứu phân tích dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước1 (dự thảo Luật), trên cơ sở so sánh với Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 20172 và ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghiên cứu đánh giá những điểm mới của dự thảo Luật, đồng thời, chỉ ra các nội dung cần tiếp tục hoàn thiện như phạm vi trách nhiệm bồi thường, căn cứ yêu cầu bồi thường, nghĩa vụ chứng minh, cơ chế giải quyết và quản trị dữ liệu, từ đó, đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm cơ chế bồi thường của Nhà nước minh bạch, khách quan và khả thi.
Quán triệt các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp

Quán triệt các nghị quyết, kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp

Chiều ngày 05/8, Đảng Bộ Bộ Tư pháp tổ chức Hội nghị quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV gắn với chức năng, nhiệm vụ của Bộ, ngành Tư pháp do Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng chủ trì.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)

Theo dõi chúng tôi trên: