Thứ năm 27/08/2026 13:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP) có nhiều quy định mới nhằm thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó có nhiều điểm mới về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Với mục tiêu đổi mới mạnh mẽ quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm rút ngắn thời gian, vừa nâng cao “năng suất”, vừa bảo đảm “chất lượng” văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, , Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (Luật năm 2025) quy định: (i) đơn giản một số thủ tục, rút ngắn thời gian tổng thể (thời gian xây dựng, ban hành luật có thể rút ngắn từ 22 tháng xuống còn khoảng 10 tháng); (ii) đơn giản hóa quy trình về tổng thể, tập trung thời gian, nguồn lực vào một số bước quan trọng, để nâng cao chất lượng chính sách và dự thảo luật (bổ sung nội dung thẩm định, thẩm tra; tăng thời hạn thẩm định, thẩm tra; bổ sung quy định về tham vấn chính sách; bổ sung quy định về trách nhiệm xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng trong xây dựng pháp luật).

Xây dựng và triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hàng năm của Quốc hội

Việc xây dựng và triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hàng năm của Quốc hội là điểm mới căn bản được quy đinh tại các Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26 của Luật năm 2025. Cụ thể: (i) bổ sung quy trình xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội; (ii) đổi tên Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm thành chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội; (iii) chuyển thẩm quyền quyết định Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm từ Quốc hội sang cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Quy định thời điểm thông qua Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội

Theo quy định của Luật năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, hoàn thành trước ngày 01/9 của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội khóa mới, để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc quy định thời điểm thông qua Định hướng sẽ bảo đảm tính hợp lý, đồng bộ với việc tổng kết thực hiện Đề án định hướng của nhiệm kỳ hiện tại và có khoảng thời gian phù hợp để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện theo văn kiện Đại hội Đảng khóa mới.

Luật năm 2025 đổi mới việc xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội và Chương trình lập pháp hằng năm với tính linh hoạt cao, nhằm mục đích định hướng cho hoạt động lập pháp. Bộ, cơ quan ngang bộ cần lưu ý thời hạn thực hiện việc rà soát, nghiên cứu, đề xuất nhiệm vụ lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội, trước ngày 01/6 năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội gửi văn bản đề xuất đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội có yêu cầu khác về thời gian Chính phủ gửi đề xuất.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kế hoạch triển khai thực hiện ngay sau khi Định hướng được phê duyệt. Chính phủ có thể chủ động giao các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết ngay từ thời điểm này. Trong quá trình rà soát thực hiện các nhiệm vụ lập pháp, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể chủ động xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình lập đề xuất của Chính phủ về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ. Mục 1 Chương III Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục lập đề xuất của Chính phủ về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội tại các Điều 10 và Điều 11.

Trong đó, quy định cụ thể trách nhiệm và thời gian đề xuất của từng bộ, cơ quan ngang bộ (trước ngày 01/6 năm đầu nhiệm kỳ), trách nhiệm tổng hợp của Bộ Tư pháp (trước ngày 10/7), trách nhiệm trình và thông qua của Chính phủ (trước ngày 01/8), cho đến việc triển khai, điều chỉnh định hướng khi phát sinh yêu cầu mới. Cách tiếp cận này bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động định hướng lập pháp “đứng trên mảnh đất thực tiễn”, gắn với chương trình hành động của Chính phủ và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong cả nhiệm kỳ.

Chủ động tổ chức việc soạn thảo và không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách trong trường hợp cần giải quyết kịp thời các vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn

Theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 Luật năm 2025, Chương trình lập pháp hằng năm được xây dựng trên cơ sở Định hướng lập pháp nhiệm kỳ hoặc yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn. Theo đó, thời hạn gửi tờ trình đề xuất xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội là trước ngày 01/8 hằng năm. Nội dung tờ trình nêu rõ sự cần thiết ban hành, mục tiêu, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập cần xử lý và xu hướng pháp lý mới. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Chương trình lập pháp của năm tiếp theo trước ngày 01/10 hằng năm trên cơ sở tờ trình đề xuất của cơ quan trình. Vai trò của Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội trong việc phối hợp thẩm định, đánh giá, đề xuất được xác định rõ hơn, góp phần nâng cao chất lượng chương trình lập pháp.

Để bảo đảm thời hạn trên, Điều 10 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định Bộ, cơ quan ngang bộ gửi văn bản đề xuất xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp trước ngày 01/6 hằng năm để tổng hợp.

Việc điều chỉnh Chương trình lập pháp hàng năm cũng được thiết kế linh hoạt để đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật từ thực tiễn. Cụ thể khoản 2 Điều 26 quy định trường hợp cần ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn mà nội dung đề xuất chưa có trong Chương trình lập pháp hằng năm thì cơ quan trình dự án chủ động tổ chức việc soạn thảo và không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách; gửi hồ sơ dự án để Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đồng thời quyết định việc bổ sung vào dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Bên cạnh đó, Điều 12 và 13 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình xây dựng và triển khai Chương trình lập pháp hằng năm của Chính phủ. Trong đó, quy định rõ thời điểm gửi đề xuất (trước 01/6), thời hạn trình Chính phủ (trước 15/7), yêu cầu chi tiết nội dung đề xuất và tiến độ các công việc đã thực hiện, góp phần nâng cao tính thực tiễn và khả thi của đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh. Đặc biệt, cơ chế theo dõi, đôn đốc, báo cáo tiến độ thực hiện theo tháng, cùng với cơ chế điều chỉnh linh hoạt trong các tình huống phát sinh cấp bách là điểm mới quan trọng, giúp Chương trình lập pháp hằng năm trở nên “sống” và thích ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn.

Tách quy trình chính sách khỏi việc lập Chương trình lập pháp hằng năm

Việc xây dựng chính sách được quy định từ Điều 27 đến Điều 32 Luật năm 2025 và từ Điều 14 đến Điều 17 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP. Điểm mới của quy trình xây dựng chính sách gồm:

Thứ nhất, Luật năm 2025 tách quy trình chính sách khỏi việc lập Chương trình lập pháp hằng năm (các cơ quan đề xuất lập chương trình lập pháp hằng năm không phải xây dựng hồ sơ chính sách khi đề xuất xây dựng chương trình).

Thứ hai, phân định rõ quy trình chính sách và quy trình soạn thảo, trong đó cơ quan trình quyết định chính sách, thực hiện soạn thảo và trình Quốc hội quyết định nhằm tạo sự linh hoạt, mở rộng tối đa quyền cho cơ quan trình, nhất là Chính phủ để linh hoạt, chủ động điều hành, ứng phó với các tình huống của thực tiễn.

Thứ ba, Luật năm 2025 đã thu hẹp các trường hợp văn bản quy phạm pháp luật cần thực hiện quy trình 02 giai đoạn (xây dựng chính sách và soạn thảo). Theo đó, trên cơ sở chính sách đã được Chính phủ thông qua, Điều 27 Luật năm 2025 quy định 03 trường hợp phải xây dựng chính sách: (i) luật, pháp lệnh mới; luật, pháp lệnh thay thế các luật, pháp lệnh hiện hành; (ii) luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân; (iii) nghị quyết thí điểm của Quốc hội. Đối với các luật, pháp lệnh, nghị quyết còn lại sẽ thực hiện quy trình soạn thảo mà không cần thực hiện quy trình chính sách.

Thứ tư, quy trình xây dựng chính sách được quy định đơn giản và hợp lý hơn nhằm tìm kiếm sự đồng thuận, lựa chọn giải pháp tối ưu, hoàn thiện chính sách làm cơ sở soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cũng như bảo đảm tính khả thi của chính sách trong cuộc sống. Cụ thể, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định nhiều nội dung đổi mới căn bản trong quy trình xây dựng chính sách và soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội (từ Điều từ 14 đến Điều 17) với một số điểm mới đáng chú ý:

Thứ nhất, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định cụ thể trách nhiệm tham vấn và lấy ý kiến các bộ, ngành (Điều 15). Trong đó, quy định cụ thể thành phần lấy ý kiến bắt buộc là 06 bộ (Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp), đi kèm với yêu cầu trách nhiệm góp ý theo từng khía cạnh chuyên môn.

Thứ hai, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy định nhằm nâng cao trách nhiệm, chất lượng thẩm định chính sách (Điều 16). Điểm nổi bật là việc quy định trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng thẩm định cả về nội dung và thời hạn gửi ý kiến, đồng thời gắn trách nhiệm cụ thể với từng bộ về các tiêu chí đánh giá (quốc phòng, an ninh, nguồn lực…). Quy định “Trường hợp không thể tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định, người được cử tham gia cuộc họp thẩm định phải gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản đến Bộ Tư pháp trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày tổ chức cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định. Trường hợp thẩm định gấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì thời hạn gửi ý kiến thẩm định theo đề nghị của Bộ Tư pháp. Hết thời hạn gửi ý kiến bằng văn bản mà không có ý kiến thì được hiểu là nhất trí với hồ sơ chính sách” giúp giải quyết vướng mắc của thực tiễn, nâng cao trách nhiệm tham gia thẩm định, rút ngắn thời gian, quy trình thẩm định nói riêng và quy trình xây dựng chính sách, dự án văn bản quy phạm pháp luật nói chung.

Thứ ba, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình Chính phủ thông qua chính sách (Điều 17), trong đó quy định rõ quy trình họp Chính phủ, trách nhiệm giải trình của Bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo, phát biểu của Bộ Tư pháp và vai trò của Văn phòng Chính phủ.

Về soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Việc soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quy định từ Điều 33 đến Điều 36 của Luật năm 2025; từ Điều 18 đến Điều 21 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.

Thực tế, hiện nay một số văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, bước đầu đã được bộ, cơ quan ngang bộ giao tập trung cho một đơn vị chủ trì xây dựng.

Các quy định của Luật và Nghị định đã cụ thể hóa quy trình soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với nhiều điểm mới nhằm nâng cao chất lượng lập pháp, đề cao vai trò và trách nhiệm đến cùng của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật, cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết có thể tự mình soạn thảo hoặc phân công một cơ quan khác thực hiện việc soạn thảo. Việc soạn thảo phải tuân thủ nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khả thi và minh bạch.

Quy trình soạn thảo phụ thuộc vào việc dự án có phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách hay không. Theo khoản 2 Điều 33, nếu thuộc trường hợp phải xây dựng chính sách, dự thảo phải được xây dựng trên cơ sở các chính sách đã được thông qua. Nếu trong quá trình soạn thảo phát sinh chính sách mới, thì việc xây dựng và thông qua chính sách đó thực hiện theo quy định tại các Điều 28 đến Điều 32 của Luật. Trong trường hợp không cần xây dựng chính sách, việc soạn thảo được tiến hành dựa trên Chương trình lập pháp hằng năm và kế hoạch triển khai Định hướng lập pháp của Quốc hội.

Khoản 4 Điều 33 Luật năm 2025 quy định hồ sơ gửi để lấy ý kiến, phản biện xã hội hoặc đăng tải bao gồm các tài liệu sau: dự thảo tờ trình; dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan; báo cáo rà soát chủ trương, đường lối của Đảng, quy định pháp luật và điều ước quốc tế có liên quan; bản đánh giá về thủ tục hành chính, phân quyền, phân cấp, bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách (trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật năm 2025); bản so sánh dự thảo với văn bản hiện hành và các tài liệu khác (nếu có).

Theo khoản 3 Điều 33 Luật năm 2025 và khoản 1 Điều 18 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo; có thể thành lập Tổ soạn thảo gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học. Ngoài ra, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xin ý kiến góp ý các Đoàn đại biểu Quốc hội, bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, lấy ý kiến phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến góp ý, phản biện xã hội.

Nâng cao trách nhiệm của cơ quan đề xuất chính sách, chủ trì soạn thảo

Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thẩm định theo hướng nâng cao trách nhiệm của cơ quan đề xuất chính sách, chủ trì soạn thảo; ràng buộc trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ tham gia thẩm định; quy định trách nhiệm, nâng cao vai trò, vị trí của Bộ Tư pháp trong thẩm định chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Luật năm 2025 quy định việc thẩm định chính sách, dự án, dự thảo quy định phải có sự tham gia hoặc ý kiến của 05 Bộ bắt buộc là: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo đó, Bộ Ngoại giao có ý kiến về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có ý kiến về bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; Bộ Tài chính có ý kiến về nguồn tài chính; Bộ Nội vụ có ý kiến về việc phân quyền, phân cấp và nguồn nhân lực; Bộ Tư pháp có ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật. Trường hợp không thể tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định, người được cử tham gia cuộc họp thẩm định phải gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản đến Bộ Tư pháp trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày tổ chức cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định.

Hồ sơ thẩm định bổ sung một số tài liệu: (i) đối với hồ sơ thẩm định chính sách bổ sung: báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách và bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách đối với hồ sơ thẩm định chính sách; (ii) đối với hồ sơ dự án, dự thảo bổ sung: việc phân quyền, phân cấp, chính sách dân tộc (nếu có); bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành; bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo với nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung thẩm định được bổ sung một số nội dung: bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; việc phân quyền, phân cấp; chính sách dân tộc (nếu có).

Báo cáo thẩm phải thể hiện rõ hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Báo cáo thẩm định thể hiện việc tham gia ý kiến thẩm định của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ. Trường hợp báo cáo thẩm định kết luận hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo chỉ đủ điều kiện trình Chính phủ sau khi tiếp thu, hoàn thiện thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ nội dung, yêu cầu tiếp thu, hoàn thiện. Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ dự án gửi Bộ Tư pháp để thẩm định lại. Việc thẩm định lại có thể tiến hành nhiều lần.

Nghị định số 78/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định về thẩm định theo hướng giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định; nếu tổ chức pháp chế là đơn vị chủ trì soạn thảo thông tư thì một đơn vị thuộc bộ thẩm định hoặc thành lập Hội đồng thẩm định; nếu thông tư không do tổ chức pháp chế chủ trì soạn thảo thì tổ chức pháp chế có trách nhiệm thẩm định.

Tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Liên quan tới nội dung về thẩm tra, thông qua, công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ Điều 37 đến Điều 43 Luật năm 2025 bổ sung các quy định nhằm phân định rõ vai trò cũng như tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong quá trình trình, thẩm tra, cho ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật.

Để bảo đảm chất lượng của dự án luật, Luật năm 2025 quy định về việc lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua để tiếp tục hoàn thiện trình Quốc hội tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại trong 02 trường hợp: (i) trường hợp cơ quan trình và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa thống nhất thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan trình quyết định hoặc báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua (Điều 38, Điều 40); (ii) trường hợp dự thảo luật, nghị quyết chưa được thông qua, Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm thông qua (khoản 11 Điều 40).

Bên cạnh đó, Luật năm 2025 xác định rõ và tăng cường trách nhiệm đến cùng của cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đến khi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản. Theo đó, cơ quan trình chịu trách nhiệm xuyên suốt từ khâu lập chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện cho đến khi văn bản được ban hành và tổ chức thi hành. Điều 40, Điều 41, Điều 42 Luật năm 2025 quy định trách nhiệm của cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì việc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án, dự thảo trong quá trình trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, thông qua.

Tăng cường tính kịp thời, công khai, minh bạch trong việc gửi, lưu trữ và công bố văn bản quy phạm pháp luật

Điều 9 Luật năm 2025 có những quy định quan trọng nhằm tăng cường tính kịp thời, công khai, minh bạch trong việc gửi, lưu trữ và công bố văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, thời hạn gửi văn bản để đăng tải chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành văn bản, cơ quan ban hành có trách nhiệm gửi văn bản tới công báo điện tử và cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Cùng với đó, Luật quy định phải lưu trữ đầy đủ bản gốc và hồ sơ chính sách, dự án theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Nhằm chống lãng phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, Luật bỏ quy định về gửi đăng công báo giấy, và quy định văn bản của các cơ quan trung ương phải được đăng tải trên công báo điện tử quốc gia, còn văn bản của chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh. Văn bản đăng tải trên công báo điện tử có giá trị pháp lý tương đương văn bản gốc.

Trên cơ sở quy định của Luật, Điều 7 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP cụ thể hóa và mở rộng các nội dung về đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên công báo điện tử. Văn bản quy phạm pháp luật được đăng tải toàn văn, đầy đủ, kịp thời và chính xác, đồng thời loại trừ các loại văn bản không đăng tải như văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc văn bản mà điều ước quốc tế có quy định về việc không đăng tải.

Về phạm vi đăng tải, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP phân chia rõ ràng giữa công báo điện tử trung ương, cấp tỉnh và quy định các loại văn bản bắt buộc phải đăng tải, bao gồm cả văn bản đính chính, công bố hết hiệu lực và cả văn bản xử lý, đình chỉ hiệu lực thi hành đối với văn bản trái pháp luật.

Ngoài ra, Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định thống nhất việc gửi văn bản dưới cả hai hình thức: bản điện tử và bản giấy, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, kịp thời trong suốt quy trình xây dựng chương trình lập pháp, xây dựng chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của Luật và Nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan trình có trách nhiệm gửi 01 bản tử và 01 bản giấy để lưu khi gửi hồ sơ lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật.

Vinh Nguyễn

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Hoàn thiện pháp luật về nhận biết, thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng trong hoạt động phòng, chống rửa tiền của ngân hàng thương mại

Tóm tắt: Trong hoạt động phòng, chống rửa tiền, nghĩa vụ nhận biết khách hàng của ngân hàng thương mại được đặt trong nhóm nghĩa vụ phòng ngừa tội phạm tài chính. Tính phòng ngừa thể hiện ở việc ngân hàng phải chủ động nhận diện nguy cơ ngay từ trước khi giao dịch phát sinh rủi ro. Hoạt động thu thập, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng không chỉ để nhận biết khách hàng, mà còn nhằm phát hiện khả năng ngân hàng bị lợi dụng để thực hiện hành vi rửa tiền. Nghiên cứu phân tích làm rõ vai trò của hoạt động nhận biết thông tin khách hàng; chỉ ra một số hạn chế trong quy định pháp luật về nhận biết, cập nhật và xác minh thông tin khách hàng của ngân hàng thương mại; từ đó, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Nguyên tắc xác định sự thật của vụ án - Lịch sử hình thành, phát triển và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Xác định sự thật của vụ án là nguyên tắc cơ bản, chi phối hoạt động của tất cả các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong các giai đoạn của tố tụng hình sự. Nguyên tắc này đã xác lập mục đích, hành lang pháp lý cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Nghiên cứu phân tích, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của nguyên tắc xác định sự thật của vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, đánh giá những bất cập, hạn chế trong các quy định liên quan đến nguyên tắc này, từ đó, đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: