Thứ sáu 16/01/2026 01:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những điểm mới trong xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 78/2025/NĐ-CP) có nhiều quy định mới nhằm thể chế đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng, kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong công tác xây dựng pháp luật, trong đó có nhiều điểm mới về xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Với mục tiêu đổi mới mạnh mẽ quy trình xây dựng pháp luật bảo đảm rút ngắn thời gian, vừa nâng cao “năng suất”, vừa bảo đảm “chất lượng” văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, , Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 (Luật năm 2025) quy định: (i) đơn giản một số thủ tục, rút ngắn thời gian tổng thể (thời gian xây dựng, ban hành luật có thể rút ngắn từ 22 tháng xuống còn khoảng 10 tháng); (ii) đơn giản hóa quy trình về tổng thể, tập trung thời gian, nguồn lực vào một số bước quan trọng, để nâng cao chất lượng chính sách và dự thảo luật (bổ sung nội dung thẩm định, thẩm tra; tăng thời hạn thẩm định, thẩm tra; bổ sung quy định về tham vấn chính sách; bổ sung quy định về trách nhiệm xin ý kiến các cơ quan có thẩm quyền của Đảng trong xây dựng pháp luật).

Xây dựng và triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hàng năm của Quốc hội

Việc xây dựng và triển khai Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và Chương trình lập pháp hàng năm của Quốc hội là điểm mới căn bản được quy đinh tại các Điều 23, Điều 24, Điều 25, Điều 26 của Luật năm 2025. Cụ thể: (i) bổ sung quy trình xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội; (ii) đổi tên Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm thành chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội; (iii) chuyển thẩm quyền quyết định Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm từ Quốc hội sang cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội để bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động lập pháp của Quốc hội.

Quy định thời điểm thông qua Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội

Theo quy định của Luật năm 2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì, phối hợp với Chính phủ, cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, hoàn thành trước ngày 01/9 của năm đầu tiên của nhiệm kỳ Quốc hội khóa mới, để trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Việc quy định thời điểm thông qua Định hướng sẽ bảo đảm tính hợp lý, đồng bộ với việc tổng kết thực hiện Đề án định hướng của nhiệm kỳ hiện tại và có khoảng thời gian phù hợp để tiếp tục bổ sung, hoàn thiện theo văn kiện Đại hội Đảng khóa mới.

Luật năm 2025 đổi mới việc xây dựng Định hướng lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội và Chương trình lập pháp hằng năm với tính linh hoạt cao, nhằm mục đích định hướng cho hoạt động lập pháp. Bộ, cơ quan ngang bộ cần lưu ý thời hạn thực hiện việc rà soát, nghiên cứu, đề xuất nhiệm vụ lập pháp nhiệm kỳ Quốc hội, trước ngày 01/6 năm đầu tiên nhiệm kỳ Quốc hội gửi văn bản đề xuất đến Bộ Tư pháp để tổng hợp, trừ trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội có yêu cầu khác về thời gian Chính phủ gửi đề xuất.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kế hoạch triển khai thực hiện ngay sau khi Định hướng được phê duyệt. Chính phủ có thể chủ động giao các bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết ngay từ thời điểm này. Trong quá trình rà soát thực hiện các nhiệm vụ lập pháp, cơ quan chủ trì soạn thảo có thể chủ động xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình lập đề xuất của Chính phủ về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ. Mục 1 Chương III Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định trình tự, thủ tục lập đề xuất của Chính phủ về Định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội tại các Điều 10 và Điều 11.

Trong đó, quy định cụ thể trách nhiệm và thời gian đề xuất của từng bộ, cơ quan ngang bộ (trước ngày 01/6 năm đầu nhiệm kỳ), trách nhiệm tổng hợp của Bộ Tư pháp (trước ngày 10/7), trách nhiệm trình và thông qua của Chính phủ (trước ngày 01/8), cho đến việc triển khai, điều chỉnh định hướng khi phát sinh yêu cầu mới. Cách tiếp cận này bảo đảm tính chủ động, linh hoạt trong hoạt động định hướng lập pháp “đứng trên mảnh đất thực tiễn”, gắn với chương trình hành động của Chính phủ và các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong cả nhiệm kỳ.

Chủ động tổ chức việc soạn thảo và không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách trong trường hợp cần giải quyết kịp thời các vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn

Theo quy định tại Điều 24 và Điều 25 Luật năm 2025, Chương trình lập pháp hằng năm được xây dựng trên cơ sở Định hướng lập pháp nhiệm kỳ hoặc yêu cầu giải quyết vấn đề bất cập, phát sinh từ thực tiễn. Theo đó, thời hạn gửi tờ trình đề xuất xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội là trước ngày 01/8 hằng năm. Nội dung tờ trình nêu rõ sự cần thiết ban hành, mục tiêu, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, các vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập cần xử lý và xu hướng pháp lý mới. Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Chương trình lập pháp của năm tiếp theo trước ngày 01/10 hằng năm trên cơ sở tờ trình đề xuất của cơ quan trình. Vai trò của Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội trong việc phối hợp thẩm định, đánh giá, đề xuất được xác định rõ hơn, góp phần nâng cao chất lượng chương trình lập pháp.

Để bảo đảm thời hạn trên, Điều 10 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định Bộ, cơ quan ngang bộ gửi văn bản đề xuất xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đến Bộ Tư pháp trước ngày 01/6 hằng năm để tổng hợp.

Việc điều chỉnh Chương trình lập pháp hàng năm cũng được thiết kế linh hoạt để đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật từ thực tiễn. Cụ thể khoản 2 Điều 26 quy định trường hợp cần ban hành luật, nghị quyết ngay tại kỳ họp Quốc hội đang diễn ra hoặc kỳ họp gần nhất để giải quyết ngay vấn đề cấp bách, vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực tiễn mà nội dung đề xuất chưa có trong Chương trình lập pháp hằng năm thì cơ quan trình dự án chủ động tổ chức việc soạn thảo và không phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách; gửi hồ sơ dự án để Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến đồng thời quyết định việc bổ sung vào dự kiến chương trình kỳ họp Quốc hội để trình Quốc hội xem xét, thông qua.

Bên cạnh đó, Điều 12 và 13 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình xây dựng và triển khai Chương trình lập pháp hằng năm của Chính phủ. Trong đó, quy định rõ thời điểm gửi đề xuất (trước 01/6), thời hạn trình Chính phủ (trước 15/7), yêu cầu chi tiết nội dung đề xuất và tiến độ các công việc đã thực hiện, góp phần nâng cao tính thực tiễn và khả thi của đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh. Đặc biệt, cơ chế theo dõi, đôn đốc, báo cáo tiến độ thực hiện theo tháng, cùng với cơ chế điều chỉnh linh hoạt trong các tình huống phát sinh cấp bách là điểm mới quan trọng, giúp Chương trình lập pháp hằng năm trở nên “sống” và thích ứng kịp thời với yêu cầu thực tiễn.

Tách quy trình chính sách khỏi việc lập Chương trình lập pháp hằng năm

Việc xây dựng chính sách được quy định từ Điều 27 đến Điều 32 Luật năm 2025 và từ Điều 14 đến Điều 17 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP. Điểm mới của quy trình xây dựng chính sách gồm:

Thứ nhất, Luật năm 2025 tách quy trình chính sách khỏi việc lập Chương trình lập pháp hằng năm (các cơ quan đề xuất lập chương trình lập pháp hằng năm không phải xây dựng hồ sơ chính sách khi đề xuất xây dựng chương trình).

Thứ hai, phân định rõ quy trình chính sách và quy trình soạn thảo, trong đó cơ quan trình quyết định chính sách, thực hiện soạn thảo và trình Quốc hội quyết định nhằm tạo sự linh hoạt, mở rộng tối đa quyền cho cơ quan trình, nhất là Chính phủ để linh hoạt, chủ động điều hành, ứng phó với các tình huống của thực tiễn.

Thứ ba, Luật năm 2025 đã thu hẹp các trường hợp văn bản quy phạm pháp luật cần thực hiện quy trình 02 giai đoạn (xây dựng chính sách và soạn thảo). Theo đó, trên cơ sở chính sách đã được Chính phủ thông qua, Điều 27 Luật năm 2025 quy định 03 trường hợp phải xây dựng chính sách: (i) luật, pháp lệnh mới; luật, pháp lệnh thay thế các luật, pháp lệnh hiện hành; (ii) luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật có nội dung hạn chế quyền con người, quyền công dân; (iii) nghị quyết thí điểm của Quốc hội. Đối với các luật, pháp lệnh, nghị quyết còn lại sẽ thực hiện quy trình soạn thảo mà không cần thực hiện quy trình chính sách.

Thứ tư, quy trình xây dựng chính sách được quy định đơn giản và hợp lý hơn nhằm tìm kiếm sự đồng thuận, lựa chọn giải pháp tối ưu, hoàn thiện chính sách làm cơ sở soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật, cũng như bảo đảm tính khả thi của chính sách trong cuộc sống. Cụ thể, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định nhiều nội dung đổi mới căn bản trong quy trình xây dựng chính sách và soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội (từ Điều từ 14 đến Điều 17) với một số điểm mới đáng chú ý:

Thứ nhất, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định cụ thể trách nhiệm tham vấn và lấy ý kiến các bộ, ngành (Điều 15). Trong đó, quy định cụ thể thành phần lấy ý kiến bắt buộc là 06 bộ (Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp), đi kèm với yêu cầu trách nhiệm góp ý theo từng khía cạnh chuyên môn.

Thứ hai, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy định nhằm nâng cao trách nhiệm, chất lượng thẩm định chính sách (Điều 16). Điểm nổi bật là việc quy định trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng thẩm định cả về nội dung và thời hạn gửi ý kiến, đồng thời gắn trách nhiệm cụ thể với từng bộ về các tiêu chí đánh giá (quốc phòng, an ninh, nguồn lực…). Quy định “Trường hợp không thể tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định, người được cử tham gia cuộc họp thẩm định phải gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản đến Bộ Tư pháp trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày tổ chức cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định. Trường hợp thẩm định gấp theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thì thời hạn gửi ý kiến thẩm định theo đề nghị của Bộ Tư pháp. Hết thời hạn gửi ý kiến bằng văn bản mà không có ý kiến thì được hiểu là nhất trí với hồ sơ chính sách” giúp giải quyết vướng mắc của thực tiễn, nâng cao trách nhiệm tham gia thẩm định, rút ngắn thời gian, quy trình thẩm định nói riêng và quy trình xây dựng chính sách, dự án văn bản quy phạm pháp luật nói chung.

Thứ ba, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP bổ sung quy trình Chính phủ thông qua chính sách (Điều 17), trong đó quy định rõ quy trình họp Chính phủ, trách nhiệm giải trình của Bộ, cơ quan chủ trì soạn thảo, phát biểu của Bộ Tư pháp và vai trò của Văn phòng Chính phủ.

Về soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Việc soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được quy định từ Điều 33 đến Điều 36 của Luật năm 2025; từ Điều 18 đến Điều 21 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP.

Thực tế, hiện nay một số văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, bước đầu đã được bộ, cơ quan ngang bộ giao tập trung cho một đơn vị chủ trì xây dựng.

Các quy định của Luật và Nghị định đã cụ thể hóa quy trình soạn thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, với nhiều điểm mới nhằm nâng cao chất lượng lập pháp, đề cao vai trò và trách nhiệm đến cùng của cơ quan chủ trì soạn thảo.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật, cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết có thể tự mình soạn thảo hoặc phân công một cơ quan khác thực hiện việc soạn thảo. Việc soạn thảo phải tuân thủ nguyên tắc được quy định tại Điều 5 của Luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khả thi và minh bạch.

Quy trình soạn thảo phụ thuộc vào việc dự án có phải thực hiện quy trình xây dựng chính sách hay không. Theo khoản 2 Điều 33, nếu thuộc trường hợp phải xây dựng chính sách, dự thảo phải được xây dựng trên cơ sở các chính sách đã được thông qua. Nếu trong quá trình soạn thảo phát sinh chính sách mới, thì việc xây dựng và thông qua chính sách đó thực hiện theo quy định tại các Điều 28 đến Điều 32 của Luật. Trong trường hợp không cần xây dựng chính sách, việc soạn thảo được tiến hành dựa trên Chương trình lập pháp hằng năm và kế hoạch triển khai Định hướng lập pháp của Quốc hội.

Khoản 4 Điều 33 Luật năm 2025 quy định hồ sơ gửi để lấy ý kiến, phản biện xã hội hoặc đăng tải bao gồm các tài liệu sau: dự thảo tờ trình; dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan; báo cáo rà soát chủ trương, đường lối của Đảng, quy định pháp luật và điều ước quốc tế có liên quan; bản đánh giá về thủ tục hành chính, phân quyền, phân cấp, bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách (trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 Luật năm 2025); bản so sánh dự thảo với văn bản hiện hành và các tài liệu khác (nếu có).

Theo khoản 3 Điều 33 Luật năm 2025 và khoản 1 Điều 18 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tổ chức soạn thảo; có thể thành lập Tổ soạn thảo gồm đại diện các cơ quan, tổ chức, chuyên gia, nhà khoa học. Ngoài ra, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm xin ý kiến góp ý các Đoàn đại biểu Quốc hội, bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp, lấy ý kiến phản biện xã hội của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội và tiếp thu, giải trình đầy đủ các ý kiến góp ý, phản biện xã hội.

Nâng cao trách nhiệm của cơ quan đề xuất chính sách, chủ trì soạn thảo

Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thẩm định theo hướng nâng cao trách nhiệm của cơ quan đề xuất chính sách, chủ trì soạn thảo; ràng buộc trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ tham gia thẩm định; quy định trách nhiệm, nâng cao vai trò, vị trí của Bộ Tư pháp trong thẩm định chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Luật năm 2025 quy định việc thẩm định chính sách, dự án, dự thảo quy định phải có sự tham gia hoặc ý kiến của 05 Bộ bắt buộc là: Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo đó, Bộ Ngoại giao có ý kiến về tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có ý kiến về bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; Bộ Tài chính có ý kiến về nguồn tài chính; Bộ Nội vụ có ý kiến về việc phân quyền, phân cấp và nguồn nhân lực; Bộ Tư pháp có ý kiến về tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất với hệ thống pháp luật. Trường hợp không thể tham gia cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định, thành viên hội đồng thẩm định, người được cử tham gia cuộc họp thẩm định phải gửi ý kiến thẩm định bằng văn bản đến Bộ Tư pháp trong thời hạn chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày tổ chức cuộc họp hội đồng thẩm định hoặc cuộc họp thẩm định.

Hồ sơ thẩm định bổ sung một số tài liệu: (i) đối với hồ sơ thẩm định chính sách bổ sung: báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách và bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách đối với hồ sơ thẩm định chính sách; (ii) đối với hồ sơ dự án, dự thảo bổ sung: việc phân quyền, phân cấp, chính sách dân tộc (nếu có); bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật; bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành; bản so sánh, thuyết minh nội dung dự thảo với nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Nội dung thẩm định được bổ sung một số nội dung: bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; việc phân quyền, phân cấp; chính sách dân tộc (nếu có).

Báo cáo thẩm phải thể hiện rõ hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Chính phủ. Báo cáo thẩm định thể hiện việc tham gia ý kiến thẩm định của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ. Trường hợp báo cáo thẩm định kết luận hồ sơ chính sách, dự án, dự thảo chỉ đủ điều kiện trình Chính phủ sau khi tiếp thu, hoàn thiện thì báo cáo thẩm định phải nêu rõ nội dung, yêu cầu tiếp thu, hoàn thiện. Trường hợp chưa đủ điều kiện trình Chính phủ, cơ quan chủ trì soạn thảo phải tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ dự án gửi Bộ Tư pháp để thẩm định lại. Việc thẩm định lại có thể tiến hành nhiều lần.

Nghị định số 78/2025/NĐ-CP sửa đổi quy định về thẩm định theo hướng giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quyết định; nếu tổ chức pháp chế là đơn vị chủ trì soạn thảo thông tư thì một đơn vị thuộc bộ thẩm định hoặc thành lập Hội đồng thẩm định; nếu thông tư không do tổ chức pháp chế chủ trì soạn thảo thì tổ chức pháp chế có trách nhiệm thẩm định.

Tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Liên quan tới nội dung về thẩm tra, thông qua, công bố luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, từ Điều 37 đến Điều 43 Luật năm 2025 bổ sung các quy định nhằm phân định rõ vai trò cũng như tăng cường cơ chế phối hợp giữa cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong quá trình trình, thẩm tra, cho ý kiến, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật.

Để bảo đảm chất lượng của dự án luật, Luật năm 2025 quy định về việc lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua để tiếp tục hoàn thiện trình Quốc hội tại kỳ họp tiếp theo hoặc trình lại trong 02 trường hợp: (i) trường hợp cơ quan trình và Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa thống nhất thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình hoặc theo đề nghị của cơ quan trình quyết định hoặc báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm trình Quốc hội thông qua (Điều 38, Điều 40); (ii) trường hợp dự thảo luật, nghị quyết chưa được thông qua, Quốc hội xem xét, quyết định lùi thời điểm thông qua (khoản 11 Điều 40).

Bên cạnh đó, Luật năm 2025 xác định rõ và tăng cường trách nhiệm đến cùng của cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đến khi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án, dự thảo văn bản. Theo đó, cơ quan trình chịu trách nhiệm xuyên suốt từ khâu lập chính sách, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, giải trình, hoàn thiện cho đến khi văn bản được ban hành và tổ chức thi hành. Điều 40, Điều 41, Điều 42 Luật năm 2025 quy định trách nhiệm của cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chủ trì việc tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện hồ sơ dự án, dự thảo trong quá trình trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét, thông qua.

Tăng cường tính kịp thời, công khai, minh bạch trong việc gửi, lưu trữ và công bố văn bản quy phạm pháp luật

Điều 9 Luật năm 2025 có những quy định quan trọng nhằm tăng cường tính kịp thời, công khai, minh bạch trong việc gửi, lưu trữ và công bố văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, thời hạn gửi văn bản để đăng tải chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành văn bản, cơ quan ban hành có trách nhiệm gửi văn bản tới công báo điện tử và cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. Cùng với đó, Luật quy định phải lưu trữ đầy đủ bản gốc và hồ sơ chính sách, dự án theo quy định của pháp luật về lưu trữ. Nhằm chống lãng phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, Luật bỏ quy định về gửi đăng công báo giấy, và quy định văn bản của các cơ quan trung ương phải được đăng tải trên công báo điện tử quốc gia, còn văn bản của chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đăng tải trên công báo điện tử cấp tỉnh. Văn bản đăng tải trên công báo điện tử có giá trị pháp lý tương đương văn bản gốc.

Trên cơ sở quy định của Luật, Điều 7 Nghị định số 78/2025/NĐ-CP cụ thể hóa và mở rộng các nội dung về đăng tải văn bản quy phạm pháp luật trên công báo điện tử. Văn bản quy phạm pháp luật được đăng tải toàn văn, đầy đủ, kịp thời và chính xác, đồng thời loại trừ các loại văn bản không đăng tải như văn bản thuộc danh mục bí mật nhà nước hoặc văn bản mà điều ước quốc tế có quy định về việc không đăng tải.

Về phạm vi đăng tải, Nghị định số 78/2025/NĐ-CP phân chia rõ ràng giữa công báo điện tử trung ương, cấp tỉnh và quy định các loại văn bản bắt buộc phải đăng tải, bao gồm cả văn bản đính chính, công bố hết hiệu lực và cả văn bản xử lý, đình chỉ hiệu lực thi hành đối với văn bản trái pháp luật.

Ngoài ra, Luật năm 2025 và Nghị định số 78/2025/NĐ-CP quy định thống nhất việc gửi văn bản dưới cả hai hình thức: bản điện tử và bản giấy, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch, kịp thời trong suốt quy trình xây dựng chương trình lập pháp, xây dựng chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định của Luật và Nghị định, cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan trình có trách nhiệm gửi 01 bản tử và 01 bản giấy để lưu khi gửi hồ sơ lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, xem xét, thông qua văn bản quy phạm pháp luật.

Vinh Nguyễn

Ảnh: internet

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu về điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định pháp luật Việt Nam, sử dụng các quyết định, bản án và các vụ việc diễn ra trên thực tế để làm rõ nội dung khoản 1 Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu cho thấy, quy định pháp luật về hoàn cảnh thay đổi cơ bản hiện nay chưa thật sự phù hợp với thực tiễn. Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn, nghiên cứu làm rõ một số vấn đề bất cập và đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về nội dung này.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS

Xây dựng dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật THADS

Chiều 7/1, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Mai Lương Khôi chủ trì họp Tổ soạn thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thi hành án dân sự (THADS) số 106/2025/QH15.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam

Tóm tắt: Trí tuệ nhân tạo đang trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động dịch vụ công trực tuyến. Tuy nhiên, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng khung pháp lý tương xứng. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này còn tồn tại những thách thức nhất định. Để giải quyết các vấn đề này, nghiên cứu đề xuất mô hình pháp lý ba lớp nhằm kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, có khả năng thích ứng, qua đó, cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới công nghệ và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của trí tuệ nhân tạo trong khu vực công.
Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Công bố Lệnh của Chủ tịch nước với 14 luật, 01 pháp lệnh

Chiều 31/12, tại Phủ Chủ tịch, Văn phòng Chủ tịch nước tổ chức họp báo công bố Lệnh của Chủ tịch nước công bố các luật, pháp lệnh đã được Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV thông qua.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam - Vướng mắc và định hướng hoàn thiện *

Tóm tắt: Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các rủi ro về xâm phạm dữ liệu cá nhân của các chủ thể, đặc biệt khi tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, cũng ngày càng gia tăng. Do vậy, bảo vệ dữ liệu cá nhân đang trở thành vấn đề cấp thiết trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, trọng tâm là Nghị định số 13/2023/NĐ-CP ngày 17/4/2023 của Chính phủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, chỉ ra những tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật với mục tiêu bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thương mại điện tử và bảo vệ dữ liệu cá nhân của các chủ thể trong môi trường số.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về lợi ích gắn với dân trong hoạt động công vụ

Tóm tắt: Tư tưởng Hồ Chí Minh đóng vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền công vụ vì Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Bài viết phân tích vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm” làm nền tảng cho hoạt động công vụ trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, chỉ ra hạn chế trong thực thi pháp luật khi thiếu hành lang pháp lý phù hợp, dẫn đến tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm của công chức. Từ đó, đề xuất giải pháp pháp lý nhằm bảo đảm pháp quyền, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.

Theo dõi chúng tôi trên: