Thứ sáu 10/04/2026 20:03
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những quy định mới của Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và một số lưu ý khi áp dụng

Tóm tắt: Bài viết này trình bày những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số lưu ý khi áp dụng.


Abstract: Within the scope of this article, the author would like to present the new provisions of the Criminal Code of 2015, amended in 2017 on maltreatment or abuse of one's grandparent, parent, spouse, child, grandchild, or caregiver compared to the Criminal Code in 1999, and some attentions during application.

1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm...”[1].

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”[2]. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những điểm mới là:

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”. Điểm mới này tạo điều kiện cho mọi cá nhân, doanh nghiệp, mọi tổ chức, đơn vị, cơ quan càng có điều kiện để nhận thức rõ hành vi nào bị coi là tội phạm. Vì vậy, họ sẽ tránh không đi vào con đường phạm tội; có điều kiện để nhắc nhở, giáo dục, ngăn chặn người thân của mình và những cá nhân khác trong xã hội; ngăn chặn những thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cơ quan mình tránh đi vào con đường phạm tội và điều này có tác dụng rất tốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Việc cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự còn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trên cơ sở thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là yêu cầu thể chế hóa Điều 14 Hiến pháp năm 2013[3]. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự càng cụ thể bao nhiêu thì càng chống oan sai tốt bấy nhiêu và nhờ vậy, càng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII về nguyên nhân dẫn đến tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, đó là: “Một số quy định của Bộ luật Hình sự còn bất cập, thiếu hướng dẫn các tình tiết định tính như: Hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng”[4].

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”. Điểm mới này vừa bảo đảm phù hợp hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, giáo dục của hình phạt và tính nghiêm minh của pháp luật.

Bốn là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số” cho đầy đủ, chính xác, đúng thể thức văn bản và thống nhất với các văn bản luật khác.

Năm là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”. Điểm mới này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, nhất là những người “yếu thế” cần được bảo vệ đặc biệt: Người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu; người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

3. Một số lưu ý khi áp dụng quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH135.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nêu trên thì:

3.1. Những quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự thì được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số”.

3.2. Những quy định không có lợi cho người phạm tội thì không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Những quy định không có lợi cho người phạm tội không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, gồm:

Một là, cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”.

Ba là, nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”.

Bốn là, bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”.

ThS. Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2]. Xem thêm: Điều 185, Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Xem thêm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), đoạn 1 khoản 2 Mục III Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[5]. Xem thêm: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Tóm tắt: Bài viết này trình bày những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số lưu ý khi áp dụng.



Abstract: Within the scope of this article, the author would like to present the new provisions of the Criminal Code of 2015, amended in 2017 on maltreatment or abuse of one's grandparent, parent, spouse, child, grandchild, or caregiver compared to the Criminal Code in 1999, and some attentions during application.



1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm...”[1].

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”[2]. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những điểm mới là:

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”. Điểm mới này tạo điều kiện cho mọi cá nhân, doanh nghiệp, mọi tổ chức, đơn vị, cơ quan càng có điều kiện để nhận thức rõ hành vi nào bị coi là tội phạm. Vì vậy, họ sẽ tránh không đi vào con đường phạm tội; có điều kiện để nhắc nhở, giáo dục, ngăn chặn người thân của mình và những cá nhân khác trong xã hội; ngăn chặn những thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cơ quan mình tránh đi vào con đường phạm tội và điều này có tác dụng rất tốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Việc cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự còn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trên cơ sở thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là yêu cầu thể chế hóa Điều 14 Hiến pháp năm 2013[3]. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự càng cụ thể bao nhiêu thì càng chống oan sai tốt bấy nhiêu và nhờ vậy, càng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII về nguyên nhân dẫn đến tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, đó là: “Một số quy định của Bộ luật Hình sự còn bất cập, thiếu hướng dẫn các tình tiết định tính như: Hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng”[4].

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”. Điểm mới này vừa bảo đảm phù hợp hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, giáo dục của hình phạt và tính nghiêm minh của pháp luật.

Bốn là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số” cho đầy đủ, chính xác, đúng thể thức văn bản và thống nhất với các văn bản luật khác.

Năm là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”. Điểm mới này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, nhất là những người “yếu thế” cần được bảo vệ đặc biệt: Người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu; người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

3. Một số lưu ý khi áp dụng quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH135.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nêu trên thì:

3.1. Những quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự thì được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số”.

3.2. Những quy định không có lợi cho người phạm tội thì không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Những quy định không có lợi cho người phạm tội không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, gồm:

Một là, cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”.

Ba là, nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”.

Bốn là, bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”.

ThS. Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2]. Xem thêm: Điều 185, Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Xem thêm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), đoạn 1 khoản 2 Mục III Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[5]. Xem thêm: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: