Thứ bảy 02/05/2026 22:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những quy định mới của Điều 185 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và một số lưu ý khi áp dụng

Tóm tắt: Bài viết này trình bày những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số lưu ý khi áp dụng.


Abstract: Within the scope of this article, the author would like to present the new provisions of the Criminal Code of 2015, amended in 2017 on maltreatment or abuse of one's grandparent, parent, spouse, child, grandchild, or caregiver compared to the Criminal Code in 1999, and some attentions during application.

1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm...”[1].

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”[2]. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những điểm mới là:

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”. Điểm mới này tạo điều kiện cho mọi cá nhân, doanh nghiệp, mọi tổ chức, đơn vị, cơ quan càng có điều kiện để nhận thức rõ hành vi nào bị coi là tội phạm. Vì vậy, họ sẽ tránh không đi vào con đường phạm tội; có điều kiện để nhắc nhở, giáo dục, ngăn chặn người thân của mình và những cá nhân khác trong xã hội; ngăn chặn những thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cơ quan mình tránh đi vào con đường phạm tội và điều này có tác dụng rất tốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Việc cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự còn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trên cơ sở thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là yêu cầu thể chế hóa Điều 14 Hiến pháp năm 2013[3]. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự càng cụ thể bao nhiêu thì càng chống oan sai tốt bấy nhiêu và nhờ vậy, càng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII về nguyên nhân dẫn đến tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, đó là: “Một số quy định của Bộ luật Hình sự còn bất cập, thiếu hướng dẫn các tình tiết định tính như: Hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng”[4].

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”. Điểm mới này vừa bảo đảm phù hợp hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, giáo dục của hình phạt và tính nghiêm minh của pháp luật.

Bốn là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số” cho đầy đủ, chính xác, đúng thể thức văn bản và thống nhất với các văn bản luật khác.

Năm là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”. Điểm mới này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, nhất là những người “yếu thế” cần được bảo vệ đặc biệt: Người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu; người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

3. Một số lưu ý khi áp dụng quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH135.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nêu trên thì:

3.1. Những quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự thì được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số”.

3.2. Những quy định không có lợi cho người phạm tội thì không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Những quy định không có lợi cho người phạm tội không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, gồm:

Một là, cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”.

Ba là, nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”.

Bốn là, bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”.

ThS. Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2]. Xem thêm: Điều 185, Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Xem thêm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), đoạn 1 khoản 2 Mục III Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[5]. Xem thêm: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Tóm tắt: Bài viết này trình bày những quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình so với Bộ luật Hình sự năm 1999 và một số lưu ý khi áp dụng.



Abstract: Within the scope of this article, the author would like to present the new provisions of the Criminal Code of 2015, amended in 2017 on maltreatment or abuse of one's grandparent, parent, spouse, child, grandchild, or caregiver compared to the Criminal Code in 1999, and some attentions during application.



1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm...”[1].

2. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

“Người nào đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”[2]. So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những điểm mới là:

Một là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”. Điểm mới này tạo điều kiện cho mọi cá nhân, doanh nghiệp, mọi tổ chức, đơn vị, cơ quan càng có điều kiện để nhận thức rõ hành vi nào bị coi là tội phạm. Vì vậy, họ sẽ tránh không đi vào con đường phạm tội; có điều kiện để nhắc nhở, giáo dục, ngăn chặn người thân của mình và những cá nhân khác trong xã hội; ngăn chặn những thành viên trong doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị, cơ quan mình tránh đi vào con đường phạm tội và điều này có tác dụng rất tốt trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Việc cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Hình sự còn đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, trên cơ sở thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và đặc biệt là yêu cầu thể chế hóa Điều 14 Hiến pháp năm 2013[3]. Hơn nữa, Bộ luật Hình sự càng cụ thể bao nhiêu thì càng chống oan sai tốt bấy nhiêu và nhờ vậy, càng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm. Nhận định này hoàn toàn phù hợp với đánh giá của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII về nguyên nhân dẫn đến tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, đó là: “Một số quy định của Bộ luật Hình sự còn bất cập, thiếu hướng dẫn các tình tiết định tính như: Hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng”[4].

Ba là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”. Điểm mới này vừa bảo đảm phù hợp hơn với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính răn đe, giáo dục của hình phạt và tính nghiêm minh của pháp luật.

Bốn là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số” cho đầy đủ, chính xác, đúng thể thức văn bản và thống nhất với các văn bản luật khác.

Năm là, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”. Điểm mới này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013, nhất là những người “yếu thế” cần được bảo vệ đặc biệt: Người dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu; người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo.

3. Một số lưu ý khi áp dụng quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình

Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH135.

Theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội nêu trên thì:

3.1. Những quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự thì được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Quy định có lợi cho người phạm tội hoặc không thay đổi về chính sách hình sự được áp dụng ngay Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 là bổ sung từ “phạt” trước cụm từ “cải tạo không giam giữ”; thay số năm phạt cải tạo không giam giữ và số năm phạt tù từ “chữ” sang “số”.

3.2. Những quy định không có lợi cho người phạm tội thì không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Những quy định không có lợi cho người phạm tội không được áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để điều tra, truy tố, xét xử đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018, gồm:

Một là, cụ thể hóa hành vi “ngược đãi hoặc hành hạ” thành “đối xử tồi tệ hoặc có hành vi bạo lực xâm phạm thân thể” giúp dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất quy định của Bộ luật Hình sự.

Hai là, cụ thể hóa và định lượng hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong Bộ luật Hình sự năm 1999 thành tình tiết “Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần”.

Ba là, nâng mức phạt tù đối với tội này từ “ba tháng” lên thành “06 tháng”.

Bốn là, bổ sung khoản 2 của tội này: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu; b) Đối với người khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng hoặc người mắc bệnh hiểm nghèo”.

ThS. Lò Thị Việt Hà

Trường Trung cấp Luật Tây Bắc

Tài liệu tham khảo:

[1]. Xem thêm: Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 1999.

[2]. Xem thêm: Điều 185, Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3]. Xem Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Xem thêm: Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2015), đoạn 1 khoản 2 Mục III Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 ngày 20/5/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về kết quả giám sát “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật”.

[5]. Xem thêm: Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 và về hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng hình sự số 101/2015/QH13, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự số 99/2015/QH13, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam số 94/2015/QH13.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: