Thứ năm 30/04/2026 06:17
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật và kinh nghiệm cho Việt Nam

Án lệ ngày càng được đề cao vai trò thể hiện thông qua việc nhận thức và vận dụng án lệ trong những hệ thống pháp luật tiêu biểu như Pháp và Đức. Là một hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hưởng của các nước theo truyền thống dân luật, việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về án lệ ở các nước theo truyền thống này từ đó định hướng cho việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính tất yếu và vô cùng cần thiết.


1. Các vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật

1.1. Quan niệm về án lệ trong truyền thống dân luật

Hệ thống dân luật được xem như hệ thống pháp luật của các nước có sự pháp điển hóa cao. Điều này có nghĩa là, trong những hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng bởi truyền thống dân luật thì các bộ luật và các luật do Nghị viện ban hành là những nguồn pháp luật chính thức. Trong các hệ thống pháp luật dân luật, không có sự thể hiện chính thức học thuyết bắt buộc phải tuân theo án lệ như đã và đang tồn tại trong hệ thống các nước thông luật. Trong hệ thống dân luật, các Tòa án cấp dưới không chính thức bị ràng buộc bởi các quyết định của các Tòa án cấp trên[1]. Khái niệm án lệ gắn với những tiêu chí cơ bản để một bản án, quyết định của Tòa án có thể trở thành án lệ:

Thứ nhất, án lệ phải là bản án, quyết định của Tòa án, khi nhắc tới án lệ là nhắc tới bản án, quyết định cụ thể của Tòa án trong một vụ việc cụ thể. Án lệ do Tòa án tạo ra và không được tạo ra ngoài những tình huống, sự kiện có thực của một vụ án.

Thứ hai, án lệ là bản án, quyết định của Tòa án, nhưng không phải tất cả các Tòa án trong một hệ thống pháp luật đều có thẩm quyền tạo ra án lệ. Án lệ chỉ được tạo ra bởi các Tòa án cấp cao trong hệ thống Tòa án. Án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống Tòa án sẽ có giá trị hiệu lực cao nhất và có ảnh hưởng tới mọi Tòa án cấp dưới.

Thứ ba, không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án (trừ các quyết định của Tòa án Hiến pháp) đều được coi là án lệ. Chỉ những bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất có chứa đựng những giải pháp pháp luật, những câu hỏi phức tạp về pháp luật đã được giải đáp trong một bản án, quyết định của Tòa án cụ thể trong một vụ việc cụ thể mới được coi là án lệ.

Thứ tư, trong hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống dân luật thì án lệ được coi là nguồn luật bổ trợ có giá trị tham khảo cho các thẩm phán áp dụng pháp luật thống nhất. Trong các hệ thống pháp luật Pháp, Đức thì sự tham khảo các án lệ của Tòa án cấp tối cao là một hoạt động thường xuyên và cần thiết của các Tòa án cấp dưới.

Thứ năm, trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng và tối quan trọng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào trên thế giới. Trong hệ thống dân luật thì điều này dễ dàng nhận thấy khi mà nội dung các quyết định xét xử của Tòa án đều được tuyên trên cơ sở căn cứ các quy định pháp luật chứ không phải dựa trên căn cứ duy nhất là án lệ. Án lệ trong hệ thống dân luật chỉ là nguồn luật bổ sung, giải thích làm tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của Tòa án.

Thứ sáu, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi luật do cơ quan lập pháp ban hành và có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã ban hành ra án lệ (Tòa án cấp dưới không thể bãi bỏ án lệ của Tòa án cấp trên). Án lệ bị bãi bỏ khi bị chứng minh rằng án lệ sai, không phù hợp với thực tiễn và cản trở đến sự phát triển của pháp luật.

1.2. Các điều kiện hình thành án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống dân luật

Các quốc gia thuộc hệ thống dân luật tiêu biểu như Đức, Pháp về cơ bản đều có điều kiện hình thành án lệ tương tự nhau do cùng ghi nhận luật thành văn là nguồn luật chính. Theo đó, các điều kiện hình thành án lệ bao gồm:

Thứ nhất, khi văn bản ở dạng khung không rõ ràng. Pháp luật của Pháp hay Đức được biết đến như là một hệ thống dân luật. Tuy nhiên, văn bản thường đưa ra những khái niệm ở dạng “khung” (chưa cụ thể) và Tòa án địa phương có thể áp dụng hay không áp dụng khái niệm này vào một hoàn cảnh cụ thể. Nhằm thống nhất áp dụng pháp luật cho hoàn cảnh cụ thể trong đời sống (xảy ra tương tự trước các Tòa án địa phương khác nhau), Tòa án tối cao Pháp thường phải can thiệp theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra các phán quyết của mình nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn lãnh thổ Pháp, tạo tâm lý an toàn cho người dân. Những phán quyết này đã thực chất tạo ra án lệ của Tòa án tối cao Pháp[2].

Thứ hai, khi văn bản pháp luật không có quy định điều chỉnh. Ở Pháp, Nghị viện và Chính phủ hàng năm ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng chưa được văn bản điều chỉnh. Đối với những hoàn cảnh như vậy, Tòa án tối cao Pháp thường xuyên can thiệp và thiết lập án lệ thông qua các quyết định giám đốc thẩm của mình.

Thứ ba, khi các văn bản lạc hậu, cứng nhắc so với đòi hỏi khách quan của xã hội. Ở Pháp, khi xây dựng văn bản, các nhà làm luật thường chỉ quan tâm tới những vấn đề phổ biến phát sinh trong đời sống. Thực tế cho thấy, không hiếm quy định trong văn bản phù hợp với đa số trường hợp nhưng lại không tương thích với một vài hoàn cảnh cụ thể. Trước những trường hợp như vậy, đôi khi Tòa án tối cao Pháp đã phải giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tạo ra ngoại lệ.

Thứ tư, ngoài các điều kiện trên, nhu cầu giải thích pháp luật cũng là một điều kiện đưa đến sự ra đời của án lệ, đây chính là nét đặc trưng của pháp luật Đức. Tòa án tối cao Liên bang Đức đóng vai trò tích cực trong việc giải thích các quy định của Bộ luật Dân sự Đức 1990. Bằng cách này, Tòa án đã tạo ra những án lệ có ảnh hưởng đối với việc nhận thức và giải thích pháp luật của các Tòa án cấp dưới ở Đức. Bộ luật Dân sự Đức mặc dù đã được xây dựng rất công phu, tuy nhiên, nó đã lộ ra nhiều bất cập và có những khoảng trống cần được bổ sung khi áp dụng nó đối với các vụ việc cụ thể.

1.3. Cách thức xây dựng án lệ trong các nước thuộc hệ thống dân luật

Các án lệ của Pháp được người quan tâm biết đến chủ yếu về nội dung. Ít ai biết cách thức Tòa án tối cao Pháp thể hiện án lệ của mình trong quyết định giám đốc thẩm như thế nào. Đối với một vấn đề pháp lý, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án tối cao được coi là án lệ thường trải qua quy trình sau:

Thứ nhất, Tòa án tối cao Pháp đưa vào quyết định giám đốc thẩm một nội dung giống như một quy định trong văn bản pháp luật, nội dung này có đối tượng điều chỉnh rất chung, không giới hạn ở vụ việc mà Tòa án tối cao đang giải quyết.

Thứ hai, Tòa án tối cao Pháp nêu lại những gì Tòa án địa phương đã làm. Việc nêu lại này hoàn toàn là sự tường thuật khách quan, không có bất kỳ ý kiến, quan điểm hay bình luận nào về vụ án.

Thứ ba, Tòa án tối cao Pháp đối chiếu những gì Tòa thượng thẩm làm với nội dung nêu trong bước thứ nhất và cuối cùng đưa ra kết luận của mình về giải pháp của Tòa thượng thẩm.

Kết quả của quá trình này sẽ cho ra đời một án lệ và giá trị của nó chỉ có tính tham khảo đối với Tòa án cấp dưới. Như vậy, so với các nước thông luật thì quy trình xây dựng án lệ ở Pháp đơn giản hơn rất nhiều, nó không phải trải qua giai đoạn tranh luận, bác bỏ hay ủng hộ án lệ. Chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ. Và đương nhiên, giá trị áp dụng của các án lệ ở các nước theo hệ thống dân luật không mang tính bắt buộc như ở các nước theo hệ thống thông luật.

2. Kinh nghiệm áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

2.1. Vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, án lệ của Việt Nam dường như không tuân theo nguyên tắc của án lệ theo truyền thống thông luật (state decisis) mà theo nguyên tắc của án lệ ở Pháp (jurisprudence constant), nơi mà án lệ chủ yếu được hình thành dựa trên sự tôn trọng và dựa trên giá trị thuyết phục của bản án trong việc giải thích, bổ sung và sữa chữa những bất cập của văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, án lệ của Việt Nam không phải là nguồn pháp luật chủ đạo mà là nguồn pháp luật bổ trợ. Phân tích quy định về án lệ trong các luật và bộ luật có liên quan, đặc biệt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có thể thấy rằng, án lệ không phải là một loại văn bản quy phạm pháp luật, không chứa đựng các quy phạm mà là một loại nguồn bổ trợ nhằm giải thích các quy phạm pháp luật, trong đó thể hiện quan điểm về việc nhận thức ý nghĩa và nội dung các quy phạm pháp luật cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý cho những trường hợp cụ thể.

Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (Quyết định số 74/QĐ-TANDTC) đã nêu rõ mối quan hệ giữa án lệ và văn bản quy phạm pháp luật như sau: Việc sử dụng án lệ chỉ được coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc áp dụng án lệ nhằm định hướng cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ không được áp dụng nữa mà phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, có thể thấy, vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có những điểm tương đồng với án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật. Ở các nước thuộc hệ thống dân luật, luật thành văn cũng đóng vai trò chủ đạo, án lệ chỉ là một nguồn luật thứ yếu đóng vai trò bổ trợ và không có giá trị bắt buộc. Trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ luôn có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật.

2.2. Các điều kiện để một bản án trở thành án lệ

Một là, bản án phải chứa đựng sự giải thích, lập luận cho một hoặc một số các văn bản quy phạm pháp luật về một vấn đề pháp lý đặt ra chưa được văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đề cập hoặc đề cập còn chung chung, thiếu tính cụ thể hoặc có mâu thuẫn. Đây chính là hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án thông qua việc áp dụng các phương pháp đặc thù của khoa học pháp lý, đặc biệt là các phương pháp tư duy logic nhằm tìm ra các quy tắc thật sự “ẩn chứa” sau những câu chữ trừu tượng, đa nghĩa hoặc khó hiểu[3].

Hai là, bản án phải có tính chuẩn mực. Để một bản án trở thành hình mẫu để các bản án khác noi theo, bản án đó cần có sức thuyết phục trong lập luận của Tòa khi giải quyết các vấn đề pháp lý. Tính thuyết phục này xuất phát từ các lập luận chặt chẽ, logic, súc tích của Tòa, trong các giải pháp mà Tòa án đưa ra khi giải quyết các vấn đề pháp lý bằng việc giải thích và áp dụng các quy tắc của luật thành văn.

Ba là, bản án phải có giá trị “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. Tiêu chí này dường như hướng tới mục đích của việc lựa chọn một bản án để trở thành án lệ hơn là hướng tới tiêu chuẩn của một bản án để trở thành án lệ. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC khẳng định: Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định của Ngành Tòa án nói chung, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật.

Bốn là, bản án phải được thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Các tiêu chí này hướng tới các yêu cầu về mặt thủ tục để một bản án trở thành án lệ. Để một bản án trở thành án lệ thì bản án đó phải trải qua quá trình lựa chọn và thông qua khắt khe bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sau khi đã trải qua các bước như: Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ; lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất, xem xét ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ trước khi được công bố bởi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy, tương tự như các nước theo truyền thống dân luật, xuất phát từ nhu cầu giải thích cho sự không rõ ràng của các văn bản luật hay xuất phát từ sự thiếu hụt trong quá trình điều chỉnh của các văn bản luật chính là những điều kiện để hình thành án lệ. Tuy nhiên, để các bản án, quyết định trở thành án lệ, cần trải qua quy trình rà soát, phát hiện, đề xuất, lấy ý kiến, thông qua và công bố một cách chặt chẽ, rõ ràng. Có như thế thì án lệ mới thực sự có giá trị và phát huy được tối đa vai trò của nó.

2.3. Cách thức xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam hiện nay, việc đề xuất xây dựng án lệ trên cơ sở quy định tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Theo đó:

Thứ nhất, Tòa án rà soát các bản án, quyết định hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí theo quy định cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ.

Thứ hai, trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Hội đồng tư vấn án lệ có trách nhiệm thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ. Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc bằng văn bản. Chủ tịch Hội đồng tư vấn án lệ quyết định phương thức lấy ý kiến của các thành viên Hội đồng và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kết quả tư vấn.

Thứ ba, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ.

So với quy trình ban hành án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật như Pháp, chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ, thì ở Việt Nam, việc ban hành án lệ phải trải qua quy trình phức tạp hơn trong đó là việc tranh luận, lấy ý kiến từ hội đồng tư vấn án lệ. Trong hệ thống pháp luật dân luật, án lệ không được coi là nguồn luật mang tính chính thức bắt buộc[4]. Vì vậy, các Tòa án không thể sử dụng án lệ làm cơ sở pháp lý độc lập để đưa ra phán quyết, quy trình ban hành án lệ theo đó cũng trở nên đơn giản hơn. Đối với Việt Nam, theo tinh thần của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, thẩm phán có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ khi vụ việc mình đang xét xử và án lệ có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau. Tuy nhiên, theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, án lệ dường như chỉ được áp dụng sau khi các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán được áp dụng, không thể áp dụng tương tự pháp luật và án lệ lúc này được áp dụng đồng thời với nguyên tắc cơ bản của pháp luật và lẽ công bằng, mà không phải dựa trên sự “tương tự” giữa án lệ và vụ án đang xét xử.

Tóm lại, Trong mối tương quan khi so sánh vị trí án lệ của Việt Nam so với các nước theo truyền thống dân luật có thể thấy được hai điểm chung quan trọng: (i) Thừa nhận vị trí ưu thế của luật thành văn trong thứ tự các nguồn của pháp luật; (ii) Vai trò trung tâm của Tòa án tối cao trong việc hình thành án lệ. Hai đặc điểm này là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển mô hình án lệ mang nhiều đặc trưng của các nước theo truyền thống dân luật tại Việt Nam. Ghi nhận án lệ như một nguồn pháp luật vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại là một nhu cầu tất yếu, tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình án lệ để áp dụng cần chú ý là giữa mô hình án lệ được lựa chọn và hệ thống pháp luật hiện tại cần tương thích và phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật và rút ra những bài học để rút kinh nghiệm và áp dụng cho Việt Nam là điều vô cùng cần thiết.

Nguyễn Thị Hoài Thương
Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng


[1] Hans W Baade (2000), Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in “The Themes In Comparative Law In Honour of Bernard Rudden”, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, tr. 3.

[2] Nguyễn Văn Nam (2012), Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

[3] Nguyễn Ngọc Điện (2006), Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết, Nxb. Tư pháp.

[4] Trương Hòa Bình (2012), Triển khai án lệ vào công tác xét xử của Tòa án Việt Nam, đề tài nghiên cứu cấp bộ của Tòa án nhân dân tối cao, tr. 58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: