Thứ tư 04/03/2026 10:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật và kinh nghiệm cho Việt Nam

Án lệ ngày càng được đề cao vai trò thể hiện thông qua việc nhận thức và vận dụng án lệ trong những hệ thống pháp luật tiêu biểu như Pháp và Đức. Là một hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hưởng của các nước theo truyền thống dân luật, việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về án lệ ở các nước theo truyền thống này từ đó định hướng cho việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính tất yếu và vô cùng cần thiết.


1. Các vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật

1.1. Quan niệm về án lệ trong truyền thống dân luật

Hệ thống dân luật được xem như hệ thống pháp luật của các nước có sự pháp điển hóa cao. Điều này có nghĩa là, trong những hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng bởi truyền thống dân luật thì các bộ luật và các luật do Nghị viện ban hành là những nguồn pháp luật chính thức. Trong các hệ thống pháp luật dân luật, không có sự thể hiện chính thức học thuyết bắt buộc phải tuân theo án lệ như đã và đang tồn tại trong hệ thống các nước thông luật. Trong hệ thống dân luật, các Tòa án cấp dưới không chính thức bị ràng buộc bởi các quyết định của các Tòa án cấp trên[1]. Khái niệm án lệ gắn với những tiêu chí cơ bản để một bản án, quyết định của Tòa án có thể trở thành án lệ:

Thứ nhất, án lệ phải là bản án, quyết định của Tòa án, khi nhắc tới án lệ là nhắc tới bản án, quyết định cụ thể của Tòa án trong một vụ việc cụ thể. Án lệ do Tòa án tạo ra và không được tạo ra ngoài những tình huống, sự kiện có thực của một vụ án.

Thứ hai, án lệ là bản án, quyết định của Tòa án, nhưng không phải tất cả các Tòa án trong một hệ thống pháp luật đều có thẩm quyền tạo ra án lệ. Án lệ chỉ được tạo ra bởi các Tòa án cấp cao trong hệ thống Tòa án. Án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống Tòa án sẽ có giá trị hiệu lực cao nhất và có ảnh hưởng tới mọi Tòa án cấp dưới.

Thứ ba, không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án (trừ các quyết định của Tòa án Hiến pháp) đều được coi là án lệ. Chỉ những bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất có chứa đựng những giải pháp pháp luật, những câu hỏi phức tạp về pháp luật đã được giải đáp trong một bản án, quyết định của Tòa án cụ thể trong một vụ việc cụ thể mới được coi là án lệ.

Thứ tư, trong hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống dân luật thì án lệ được coi là nguồn luật bổ trợ có giá trị tham khảo cho các thẩm phán áp dụng pháp luật thống nhất. Trong các hệ thống pháp luật Pháp, Đức thì sự tham khảo các án lệ của Tòa án cấp tối cao là một hoạt động thường xuyên và cần thiết của các Tòa án cấp dưới.

Thứ năm, trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng và tối quan trọng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào trên thế giới. Trong hệ thống dân luật thì điều này dễ dàng nhận thấy khi mà nội dung các quyết định xét xử của Tòa án đều được tuyên trên cơ sở căn cứ các quy định pháp luật chứ không phải dựa trên căn cứ duy nhất là án lệ. Án lệ trong hệ thống dân luật chỉ là nguồn luật bổ sung, giải thích làm tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của Tòa án.

Thứ sáu, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi luật do cơ quan lập pháp ban hành và có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã ban hành ra án lệ (Tòa án cấp dưới không thể bãi bỏ án lệ của Tòa án cấp trên). Án lệ bị bãi bỏ khi bị chứng minh rằng án lệ sai, không phù hợp với thực tiễn và cản trở đến sự phát triển của pháp luật.

1.2. Các điều kiện hình thành án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống dân luật

Các quốc gia thuộc hệ thống dân luật tiêu biểu như Đức, Pháp về cơ bản đều có điều kiện hình thành án lệ tương tự nhau do cùng ghi nhận luật thành văn là nguồn luật chính. Theo đó, các điều kiện hình thành án lệ bao gồm:

Thứ nhất, khi văn bản ở dạng khung không rõ ràng. Pháp luật của Pháp hay Đức được biết đến như là một hệ thống dân luật. Tuy nhiên, văn bản thường đưa ra những khái niệm ở dạng “khung” (chưa cụ thể) và Tòa án địa phương có thể áp dụng hay không áp dụng khái niệm này vào một hoàn cảnh cụ thể. Nhằm thống nhất áp dụng pháp luật cho hoàn cảnh cụ thể trong đời sống (xảy ra tương tự trước các Tòa án địa phương khác nhau), Tòa án tối cao Pháp thường phải can thiệp theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra các phán quyết của mình nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn lãnh thổ Pháp, tạo tâm lý an toàn cho người dân. Những phán quyết này đã thực chất tạo ra án lệ của Tòa án tối cao Pháp[2].

Thứ hai, khi văn bản pháp luật không có quy định điều chỉnh. Ở Pháp, Nghị viện và Chính phủ hàng năm ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng chưa được văn bản điều chỉnh. Đối với những hoàn cảnh như vậy, Tòa án tối cao Pháp thường xuyên can thiệp và thiết lập án lệ thông qua các quyết định giám đốc thẩm của mình.

Thứ ba, khi các văn bản lạc hậu, cứng nhắc so với đòi hỏi khách quan của xã hội. Ở Pháp, khi xây dựng văn bản, các nhà làm luật thường chỉ quan tâm tới những vấn đề phổ biến phát sinh trong đời sống. Thực tế cho thấy, không hiếm quy định trong văn bản phù hợp với đa số trường hợp nhưng lại không tương thích với một vài hoàn cảnh cụ thể. Trước những trường hợp như vậy, đôi khi Tòa án tối cao Pháp đã phải giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tạo ra ngoại lệ.

Thứ tư, ngoài các điều kiện trên, nhu cầu giải thích pháp luật cũng là một điều kiện đưa đến sự ra đời của án lệ, đây chính là nét đặc trưng của pháp luật Đức. Tòa án tối cao Liên bang Đức đóng vai trò tích cực trong việc giải thích các quy định của Bộ luật Dân sự Đức 1990. Bằng cách này, Tòa án đã tạo ra những án lệ có ảnh hưởng đối với việc nhận thức và giải thích pháp luật của các Tòa án cấp dưới ở Đức. Bộ luật Dân sự Đức mặc dù đã được xây dựng rất công phu, tuy nhiên, nó đã lộ ra nhiều bất cập và có những khoảng trống cần được bổ sung khi áp dụng nó đối với các vụ việc cụ thể.

1.3. Cách thức xây dựng án lệ trong các nước thuộc hệ thống dân luật

Các án lệ của Pháp được người quan tâm biết đến chủ yếu về nội dung. Ít ai biết cách thức Tòa án tối cao Pháp thể hiện án lệ của mình trong quyết định giám đốc thẩm như thế nào. Đối với một vấn đề pháp lý, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án tối cao được coi là án lệ thường trải qua quy trình sau:

Thứ nhất, Tòa án tối cao Pháp đưa vào quyết định giám đốc thẩm một nội dung giống như một quy định trong văn bản pháp luật, nội dung này có đối tượng điều chỉnh rất chung, không giới hạn ở vụ việc mà Tòa án tối cao đang giải quyết.

Thứ hai, Tòa án tối cao Pháp nêu lại những gì Tòa án địa phương đã làm. Việc nêu lại này hoàn toàn là sự tường thuật khách quan, không có bất kỳ ý kiến, quan điểm hay bình luận nào về vụ án.

Thứ ba, Tòa án tối cao Pháp đối chiếu những gì Tòa thượng thẩm làm với nội dung nêu trong bước thứ nhất và cuối cùng đưa ra kết luận của mình về giải pháp của Tòa thượng thẩm.

Kết quả của quá trình này sẽ cho ra đời một án lệ và giá trị của nó chỉ có tính tham khảo đối với Tòa án cấp dưới. Như vậy, so với các nước thông luật thì quy trình xây dựng án lệ ở Pháp đơn giản hơn rất nhiều, nó không phải trải qua giai đoạn tranh luận, bác bỏ hay ủng hộ án lệ. Chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ. Và đương nhiên, giá trị áp dụng của các án lệ ở các nước theo hệ thống dân luật không mang tính bắt buộc như ở các nước theo hệ thống thông luật.

2. Kinh nghiệm áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

2.1. Vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, án lệ của Việt Nam dường như không tuân theo nguyên tắc của án lệ theo truyền thống thông luật (state decisis) mà theo nguyên tắc của án lệ ở Pháp (jurisprudence constant), nơi mà án lệ chủ yếu được hình thành dựa trên sự tôn trọng và dựa trên giá trị thuyết phục của bản án trong việc giải thích, bổ sung và sữa chữa những bất cập của văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, án lệ của Việt Nam không phải là nguồn pháp luật chủ đạo mà là nguồn pháp luật bổ trợ. Phân tích quy định về án lệ trong các luật và bộ luật có liên quan, đặc biệt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có thể thấy rằng, án lệ không phải là một loại văn bản quy phạm pháp luật, không chứa đựng các quy phạm mà là một loại nguồn bổ trợ nhằm giải thích các quy phạm pháp luật, trong đó thể hiện quan điểm về việc nhận thức ý nghĩa và nội dung các quy phạm pháp luật cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý cho những trường hợp cụ thể.

Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (Quyết định số 74/QĐ-TANDTC) đã nêu rõ mối quan hệ giữa án lệ và văn bản quy phạm pháp luật như sau: Việc sử dụng án lệ chỉ được coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc áp dụng án lệ nhằm định hướng cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ không được áp dụng nữa mà phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, có thể thấy, vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có những điểm tương đồng với án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật. Ở các nước thuộc hệ thống dân luật, luật thành văn cũng đóng vai trò chủ đạo, án lệ chỉ là một nguồn luật thứ yếu đóng vai trò bổ trợ và không có giá trị bắt buộc. Trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ luôn có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật.

2.2. Các điều kiện để một bản án trở thành án lệ

Một là, bản án phải chứa đựng sự giải thích, lập luận cho một hoặc một số các văn bản quy phạm pháp luật về một vấn đề pháp lý đặt ra chưa được văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đề cập hoặc đề cập còn chung chung, thiếu tính cụ thể hoặc có mâu thuẫn. Đây chính là hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án thông qua việc áp dụng các phương pháp đặc thù của khoa học pháp lý, đặc biệt là các phương pháp tư duy logic nhằm tìm ra các quy tắc thật sự “ẩn chứa” sau những câu chữ trừu tượng, đa nghĩa hoặc khó hiểu[3].

Hai là, bản án phải có tính chuẩn mực. Để một bản án trở thành hình mẫu để các bản án khác noi theo, bản án đó cần có sức thuyết phục trong lập luận của Tòa khi giải quyết các vấn đề pháp lý. Tính thuyết phục này xuất phát từ các lập luận chặt chẽ, logic, súc tích của Tòa, trong các giải pháp mà Tòa án đưa ra khi giải quyết các vấn đề pháp lý bằng việc giải thích và áp dụng các quy tắc của luật thành văn.

Ba là, bản án phải có giá trị “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. Tiêu chí này dường như hướng tới mục đích của việc lựa chọn một bản án để trở thành án lệ hơn là hướng tới tiêu chuẩn của một bản án để trở thành án lệ. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC khẳng định: Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định của Ngành Tòa án nói chung, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật.

Bốn là, bản án phải được thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Các tiêu chí này hướng tới các yêu cầu về mặt thủ tục để một bản án trở thành án lệ. Để một bản án trở thành án lệ thì bản án đó phải trải qua quá trình lựa chọn và thông qua khắt khe bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sau khi đã trải qua các bước như: Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ; lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất, xem xét ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ trước khi được công bố bởi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy, tương tự như các nước theo truyền thống dân luật, xuất phát từ nhu cầu giải thích cho sự không rõ ràng của các văn bản luật hay xuất phát từ sự thiếu hụt trong quá trình điều chỉnh của các văn bản luật chính là những điều kiện để hình thành án lệ. Tuy nhiên, để các bản án, quyết định trở thành án lệ, cần trải qua quy trình rà soát, phát hiện, đề xuất, lấy ý kiến, thông qua và công bố một cách chặt chẽ, rõ ràng. Có như thế thì án lệ mới thực sự có giá trị và phát huy được tối đa vai trò của nó.

2.3. Cách thức xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam hiện nay, việc đề xuất xây dựng án lệ trên cơ sở quy định tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Theo đó:

Thứ nhất, Tòa án rà soát các bản án, quyết định hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí theo quy định cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ.

Thứ hai, trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Hội đồng tư vấn án lệ có trách nhiệm thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ. Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc bằng văn bản. Chủ tịch Hội đồng tư vấn án lệ quyết định phương thức lấy ý kiến của các thành viên Hội đồng và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kết quả tư vấn.

Thứ ba, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ.

So với quy trình ban hành án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật như Pháp, chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ, thì ở Việt Nam, việc ban hành án lệ phải trải qua quy trình phức tạp hơn trong đó là việc tranh luận, lấy ý kiến từ hội đồng tư vấn án lệ. Trong hệ thống pháp luật dân luật, án lệ không được coi là nguồn luật mang tính chính thức bắt buộc[4]. Vì vậy, các Tòa án không thể sử dụng án lệ làm cơ sở pháp lý độc lập để đưa ra phán quyết, quy trình ban hành án lệ theo đó cũng trở nên đơn giản hơn. Đối với Việt Nam, theo tinh thần của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, thẩm phán có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ khi vụ việc mình đang xét xử và án lệ có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau. Tuy nhiên, theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, án lệ dường như chỉ được áp dụng sau khi các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán được áp dụng, không thể áp dụng tương tự pháp luật và án lệ lúc này được áp dụng đồng thời với nguyên tắc cơ bản của pháp luật và lẽ công bằng, mà không phải dựa trên sự “tương tự” giữa án lệ và vụ án đang xét xử.

Tóm lại, Trong mối tương quan khi so sánh vị trí án lệ của Việt Nam so với các nước theo truyền thống dân luật có thể thấy được hai điểm chung quan trọng: (i) Thừa nhận vị trí ưu thế của luật thành văn trong thứ tự các nguồn của pháp luật; (ii) Vai trò trung tâm của Tòa án tối cao trong việc hình thành án lệ. Hai đặc điểm này là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển mô hình án lệ mang nhiều đặc trưng của các nước theo truyền thống dân luật tại Việt Nam. Ghi nhận án lệ như một nguồn pháp luật vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại là một nhu cầu tất yếu, tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình án lệ để áp dụng cần chú ý là giữa mô hình án lệ được lựa chọn và hệ thống pháp luật hiện tại cần tương thích và phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật và rút ra những bài học để rút kinh nghiệm và áp dụng cho Việt Nam là điều vô cùng cần thiết.

Nguyễn Thị Hoài Thương
Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng


[1] Hans W Baade (2000), Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in “The Themes In Comparative Law In Honour of Bernard Rudden”, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, tr. 3.

[2] Nguyễn Văn Nam (2012), Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

[3] Nguyễn Ngọc Điện (2006), Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết, Nxb. Tư pháp.

[4] Trương Hòa Bình (2012), Triển khai án lệ vào công tác xét xử của Tòa án Việt Nam, đề tài nghiên cứu cấp bộ của Tòa án nhân dân tối cao, tr. 58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: