Thứ hai 20/04/2026 07:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật và kinh nghiệm cho Việt Nam

Án lệ ngày càng được đề cao vai trò thể hiện thông qua việc nhận thức và vận dụng án lệ trong những hệ thống pháp luật tiêu biểu như Pháp và Đức. Là một hệ thống pháp luật chịu nhiều ảnh hưởng của các nước theo truyền thống dân luật, việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản về án lệ ở các nước theo truyền thống này từ đó định hướng cho việc áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề mang tính tất yếu và vô cùng cần thiết.


1. Các vấn đề cơ bản về án lệ theo truyền thống dân luật

1.1. Quan niệm về án lệ trong truyền thống dân luật

Hệ thống dân luật được xem như hệ thống pháp luật của các nước có sự pháp điển hóa cao. Điều này có nghĩa là, trong những hệ thống pháp luật bị ảnh hưởng bởi truyền thống dân luật thì các bộ luật và các luật do Nghị viện ban hành là những nguồn pháp luật chính thức. Trong các hệ thống pháp luật dân luật, không có sự thể hiện chính thức học thuyết bắt buộc phải tuân theo án lệ như đã và đang tồn tại trong hệ thống các nước thông luật. Trong hệ thống dân luật, các Tòa án cấp dưới không chính thức bị ràng buộc bởi các quyết định của các Tòa án cấp trên[1]. Khái niệm án lệ gắn với những tiêu chí cơ bản để một bản án, quyết định của Tòa án có thể trở thành án lệ:

Thứ nhất, án lệ phải là bản án, quyết định của Tòa án, khi nhắc tới án lệ là nhắc tới bản án, quyết định cụ thể của Tòa án trong một vụ việc cụ thể. Án lệ do Tòa án tạo ra và không được tạo ra ngoài những tình huống, sự kiện có thực của một vụ án.

Thứ hai, án lệ là bản án, quyết định của Tòa án, nhưng không phải tất cả các Tòa án trong một hệ thống pháp luật đều có thẩm quyền tạo ra án lệ. Án lệ chỉ được tạo ra bởi các Tòa án cấp cao trong hệ thống Tòa án. Án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống Tòa án sẽ có giá trị hiệu lực cao nhất và có ảnh hưởng tới mọi Tòa án cấp dưới.

Thứ ba, không phải mọi bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất trong hệ thống Tòa án (trừ các quyết định của Tòa án Hiến pháp) đều được coi là án lệ. Chỉ những bản án, quyết định của Tòa án cấp cao nhất có chứa đựng những giải pháp pháp luật, những câu hỏi phức tạp về pháp luật đã được giải đáp trong một bản án, quyết định của Tòa án cụ thể trong một vụ việc cụ thể mới được coi là án lệ.

Thứ tư, trong hệ thống pháp luật của các nước theo hệ thống dân luật thì án lệ được coi là nguồn luật bổ trợ có giá trị tham khảo cho các thẩm phán áp dụng pháp luật thống nhất. Trong các hệ thống pháp luật Pháp, Đức thì sự tham khảo các án lệ của Tòa án cấp tối cao là một hoạt động thường xuyên và cần thiết của các Tòa án cấp dưới.

Thứ năm, trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng và tối quan trọng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào trên thế giới. Trong hệ thống dân luật thì điều này dễ dàng nhận thấy khi mà nội dung các quyết định xét xử của Tòa án đều được tuyên trên cơ sở căn cứ các quy định pháp luật chứ không phải dựa trên căn cứ duy nhất là án lệ. Án lệ trong hệ thống dân luật chỉ là nguồn luật bổ sung, giải thích làm tăng tính thuyết phục và rõ ràng trong các quyết định của Tòa án.

Thứ sáu, án lệ có thể bị bãi bỏ bởi luật do cơ quan lập pháp ban hành và có thể bị bãi bỏ bởi chính Tòa án đã ban hành ra án lệ (Tòa án cấp dưới không thể bãi bỏ án lệ của Tòa án cấp trên). Án lệ bị bãi bỏ khi bị chứng minh rằng án lệ sai, không phù hợp với thực tiễn và cản trở đến sự phát triển của pháp luật.

1.2. Các điều kiện hình thành án lệ của Tòa án tối cao trong hệ thống dân luật

Các quốc gia thuộc hệ thống dân luật tiêu biểu như Đức, Pháp về cơ bản đều có điều kiện hình thành án lệ tương tự nhau do cùng ghi nhận luật thành văn là nguồn luật chính. Theo đó, các điều kiện hình thành án lệ bao gồm:

Thứ nhất, khi văn bản ở dạng khung không rõ ràng. Pháp luật của Pháp hay Đức được biết đến như là một hệ thống dân luật. Tuy nhiên, văn bản thường đưa ra những khái niệm ở dạng “khung” (chưa cụ thể) và Tòa án địa phương có thể áp dụng hay không áp dụng khái niệm này vào một hoàn cảnh cụ thể. Nhằm thống nhất áp dụng pháp luật cho hoàn cảnh cụ thể trong đời sống (xảy ra tương tự trước các Tòa án địa phương khác nhau), Tòa án tối cao Pháp thường phải can thiệp theo thủ tục giám đốc thẩm và đưa ra các phán quyết của mình nhằm thống nhất áp dụng pháp luật trên toàn lãnh thổ Pháp, tạo tâm lý an toàn cho người dân. Những phán quyết này đã thực chất tạo ra án lệ của Tòa án tối cao Pháp[2].

Thứ hai, khi văn bản pháp luật không có quy định điều chỉnh. Ở Pháp, Nghị viện và Chính phủ hàng năm ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh các vấn đề xã hội. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy, rất nhiều vấn đề pháp lý phát sinh cần phải giải quyết nhưng chưa được văn bản điều chỉnh. Đối với những hoàn cảnh như vậy, Tòa án tối cao Pháp thường xuyên can thiệp và thiết lập án lệ thông qua các quyết định giám đốc thẩm của mình.

Thứ ba, khi các văn bản lạc hậu, cứng nhắc so với đòi hỏi khách quan của xã hội. Ở Pháp, khi xây dựng văn bản, các nhà làm luật thường chỉ quan tâm tới những vấn đề phổ biến phát sinh trong đời sống. Thực tế cho thấy, không hiếm quy định trong văn bản phù hợp với đa số trường hợp nhưng lại không tương thích với một vài hoàn cảnh cụ thể. Trước những trường hợp như vậy, đôi khi Tòa án tối cao Pháp đã phải giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm và tạo ra ngoại lệ.

Thứ tư, ngoài các điều kiện trên, nhu cầu giải thích pháp luật cũng là một điều kiện đưa đến sự ra đời của án lệ, đây chính là nét đặc trưng của pháp luật Đức. Tòa án tối cao Liên bang Đức đóng vai trò tích cực trong việc giải thích các quy định của Bộ luật Dân sự Đức 1990. Bằng cách này, Tòa án đã tạo ra những án lệ có ảnh hưởng đối với việc nhận thức và giải thích pháp luật của các Tòa án cấp dưới ở Đức. Bộ luật Dân sự Đức mặc dù đã được xây dựng rất công phu, tuy nhiên, nó đã lộ ra nhiều bất cập và có những khoảng trống cần được bổ sung khi áp dụng nó đối với các vụ việc cụ thể.

1.3. Cách thức xây dựng án lệ trong các nước thuộc hệ thống dân luật

Các án lệ của Pháp được người quan tâm biết đến chủ yếu về nội dung. Ít ai biết cách thức Tòa án tối cao Pháp thể hiện án lệ của mình trong quyết định giám đốc thẩm như thế nào. Đối với một vấn đề pháp lý, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án tối cao được coi là án lệ thường trải qua quy trình sau:

Thứ nhất, Tòa án tối cao Pháp đưa vào quyết định giám đốc thẩm một nội dung giống như một quy định trong văn bản pháp luật, nội dung này có đối tượng điều chỉnh rất chung, không giới hạn ở vụ việc mà Tòa án tối cao đang giải quyết.

Thứ hai, Tòa án tối cao Pháp nêu lại những gì Tòa án địa phương đã làm. Việc nêu lại này hoàn toàn là sự tường thuật khách quan, không có bất kỳ ý kiến, quan điểm hay bình luận nào về vụ án.

Thứ ba, Tòa án tối cao Pháp đối chiếu những gì Tòa thượng thẩm làm với nội dung nêu trong bước thứ nhất và cuối cùng đưa ra kết luận của mình về giải pháp của Tòa thượng thẩm.

Kết quả của quá trình này sẽ cho ra đời một án lệ và giá trị của nó chỉ có tính tham khảo đối với Tòa án cấp dưới. Như vậy, so với các nước thông luật thì quy trình xây dựng án lệ ở Pháp đơn giản hơn rất nhiều, nó không phải trải qua giai đoạn tranh luận, bác bỏ hay ủng hộ án lệ. Chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ. Và đương nhiên, giá trị áp dụng của các án lệ ở các nước theo hệ thống dân luật không mang tính bắt buộc như ở các nước theo hệ thống thông luật.

2. Kinh nghiệm áp dụng án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay

2.1. Vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Thứ nhất, án lệ của Việt Nam dường như không tuân theo nguyên tắc của án lệ theo truyền thống thông luật (state decisis) mà theo nguyên tắc của án lệ ở Pháp (jurisprudence constant), nơi mà án lệ chủ yếu được hình thành dựa trên sự tôn trọng và dựa trên giá trị thuyết phục của bản án trong việc giải thích, bổ sung và sữa chữa những bất cập của văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ hai, án lệ của Việt Nam không phải là nguồn pháp luật chủ đạo mà là nguồn pháp luật bổ trợ. Phân tích quy định về án lệ trong các luật và bộ luật có liên quan, đặc biệt là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, có thể thấy rằng, án lệ không phải là một loại văn bản quy phạm pháp luật, không chứa đựng các quy phạm mà là một loại nguồn bổ trợ nhằm giải thích các quy phạm pháp luật, trong đó thể hiện quan điểm về việc nhận thức ý nghĩa và nội dung các quy phạm pháp luật cũng như đưa ra các giải pháp pháp lý cho những trường hợp cụ thể.

Quyết định số 74/QĐ-TANDTC ngày 31/10/2012 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt Đề án “Phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao” (Quyết định số 74/QĐ-TANDTC) đã nêu rõ mối quan hệ giữa án lệ và văn bản quy phạm pháp luật như sau: Việc sử dụng án lệ chỉ được coi là thứ yếu, sau văn bản quy phạm pháp luật và không phải là nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật; việc áp dụng án lệ nhằm định hướng cho Tòa án các cấp áp dụng pháp luật thống nhất, chính xác, giải quyết vụ việc khi không có văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật điều chỉnh. Khi các cơ quan có thẩm quyền đã ban hành những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những vấn đề được án lệ giải quyết trước đó thì án lệ không được áp dụng nữa mà phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật.

Như vậy, có thể thấy, vị trí của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có những điểm tương đồng với án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật. Ở các nước thuộc hệ thống dân luật, luật thành văn cũng đóng vai trò chủ đạo, án lệ chỉ là một nguồn luật thứ yếu đóng vai trò bổ trợ và không có giá trị bắt buộc. Trong mối quan hệ với luật do cơ quan lập pháp ban hành thì án lệ luôn có hiệu lực thấp hơn. Đây là một đặc điểm nền tảng khi tiếp cận với khái niệm về án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật.

2.2. Các điều kiện để một bản án trở thành án lệ

Một là, bản án phải chứa đựng sự giải thích, lập luận cho một hoặc một số các văn bản quy phạm pháp luật về một vấn đề pháp lý đặt ra chưa được văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật đề cập hoặc đề cập còn chung chung, thiếu tính cụ thể hoặc có mâu thuẫn. Đây chính là hoạt động giải thích pháp luật của Tòa án thông qua việc áp dụng các phương pháp đặc thù của khoa học pháp lý, đặc biệt là các phương pháp tư duy logic nhằm tìm ra các quy tắc thật sự “ẩn chứa” sau những câu chữ trừu tượng, đa nghĩa hoặc khó hiểu[3].

Hai là, bản án phải có tính chuẩn mực. Để một bản án trở thành hình mẫu để các bản án khác noi theo, bản án đó cần có sức thuyết phục trong lập luận của Tòa khi giải quyết các vấn đề pháp lý. Tính thuyết phục này xuất phát từ các lập luận chặt chẽ, logic, súc tích của Tòa, trong các giải pháp mà Tòa án đưa ra khi giải quyết các vấn đề pháp lý bằng việc giải thích và áp dụng các quy tắc của luật thành văn.

Ba là, bản án phải có giá trị “hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử”. Tiêu chí này dường như hướng tới mục đích của việc lựa chọn một bản án để trở thành án lệ hơn là hướng tới tiêu chuẩn của một bản án để trở thành án lệ. Quyết định số 74/QĐ-TANDTC khẳng định: Việc phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao nhằm nâng cao chất lượng của bản án, quyết định của Ngành Tòa án nói chung, góp phần đảm bảo việc áp dụng pháp luật đúng, thống nhất, từ đó đảm bảo sự bình đẳng của mọi tổ chức và công dân trước pháp luật.

Bốn là, bản án phải được thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố. Các tiêu chí này hướng tới các yêu cầu về mặt thủ tục để một bản án trở thành án lệ. Để một bản án trở thành án lệ thì bản án đó phải trải qua quá trình lựa chọn và thông qua khắt khe bởi Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, sau khi đã trải qua các bước như: Rà soát, phát hiện bản án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ; lấy ý kiến đối với bản án, quyết định được đề xuất, xem xét ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ trước khi được công bố bởi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Như vậy, tương tự như các nước theo truyền thống dân luật, xuất phát từ nhu cầu giải thích cho sự không rõ ràng của các văn bản luật hay xuất phát từ sự thiếu hụt trong quá trình điều chỉnh của các văn bản luật chính là những điều kiện để hình thành án lệ. Tuy nhiên, để các bản án, quyết định trở thành án lệ, cần trải qua quy trình rà soát, phát hiện, đề xuất, lấy ý kiến, thông qua và công bố một cách chặt chẽ, rõ ràng. Có như thế thì án lệ mới thực sự có giá trị và phát huy được tối đa vai trò của nó.

2.3. Cách thức xây dựng án lệ ở Việt Nam hiện nay

Ở Việt Nam hiện nay, việc đề xuất xây dựng án lệ trên cơ sở quy định tại Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ (Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP). Theo đó:

Thứ nhất, Tòa án rà soát các bản án, quyết định hoặc các cá nhân, cơ quan, tổ chức gửi đề xuất bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng lập luận, phán quyết đáp ứng các tiêu chí theo quy định cho Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, phát triển thành án lệ.

Thứ hai, trên cơ sở kết quả lấy ý kiến rộng rãi đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ. Hội đồng tư vấn án lệ có trách nhiệm thảo luận cho ý kiến đối với các bản án, quyết định được đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ, nội dung đề xuất là án lệ, dự thảo án lệ. Việc lấy ý kiến của Hội đồng tư vấn án lệ được thực hiện thông qua phiên họp thảo luận trực tiếp hoặc bằng văn bản. Chủ tịch Hội đồng tư vấn án lệ quyết định phương thức lấy ý kiến của các thành viên Hội đồng và báo cáo Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kết quả tư vấn.

Thứ ba, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tổ chức phiên họp toàn thể Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thảo luận, biểu quyết thông qua án lệ.

So với quy trình ban hành án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật như Pháp, chỉ cần có sự kết luận của Tòa án tối cao Pháp thì các kết luận đó sẽ có giá trị án lệ, thì ở Việt Nam, việc ban hành án lệ phải trải qua quy trình phức tạp hơn trong đó là việc tranh luận, lấy ý kiến từ hội đồng tư vấn án lệ. Trong hệ thống pháp luật dân luật, án lệ không được coi là nguồn luật mang tính chính thức bắt buộc[4]. Vì vậy, các Tòa án không thể sử dụng án lệ làm cơ sở pháp lý độc lập để đưa ra phán quyết, quy trình ban hành án lệ theo đó cũng trở nên đơn giản hơn. Đối với Việt Nam, theo tinh thần của Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP, thẩm phán có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ khi vụ việc mình đang xét xử và án lệ có tình tiết, sự kiện pháp lý giống nhau. Tuy nhiên, theo các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Luật Tố tụng hành chính năm 2015, án lệ dường như chỉ được áp dụng sau khi các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định, không có tập quán được áp dụng, không thể áp dụng tương tự pháp luật và án lệ lúc này được áp dụng đồng thời với nguyên tắc cơ bản của pháp luật và lẽ công bằng, mà không phải dựa trên sự “tương tự” giữa án lệ và vụ án đang xét xử.

Tóm lại, Trong mối tương quan khi so sánh vị trí án lệ của Việt Nam so với các nước theo truyền thống dân luật có thể thấy được hai điểm chung quan trọng: (i) Thừa nhận vị trí ưu thế của luật thành văn trong thứ tự các nguồn của pháp luật; (ii) Vai trò trung tâm của Tòa án tối cao trong việc hình thành án lệ. Hai đặc điểm này là cơ sở quan trọng để xây dựng và phát triển mô hình án lệ mang nhiều đặc trưng của các nước theo truyền thống dân luật tại Việt Nam. Ghi nhận án lệ như một nguồn pháp luật vào hệ thống pháp luật Việt Nam hiện tại là một nhu cầu tất yếu, tuy nhiên, khi lựa chọn mô hình án lệ để áp dụng cần chú ý là giữa mô hình án lệ được lựa chọn và hệ thống pháp luật hiện tại cần tương thích và phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu áp dụng án lệ ở các nước theo truyền thống dân luật và rút ra những bài học để rút kinh nghiệm và áp dụng cho Việt Nam là điều vô cùng cần thiết.

Nguyễn Thị Hoài Thương
Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng


[1] Hans W Baade (2000), Stare Decisis In Civil-law Countries: The Last Bastion, in “The Themes In Comparative Law In Honour of Bernard Rudden”, Edited by Peter Birks and Arianna Pretto, Oxford University Press, tr. 3.

[2] Nguyễn Văn Nam (2012), Lý luận và thực tiễn về án lệ trong hệ thống pháp luật của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Đức và những kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân.

[3] Nguyễn Ngọc Điện (2006), Một số vấn đề lý luận về các phương pháp phân tích luật viết, Nxb. Tư pháp.

[4] Trương Hòa Bình (2012), Triển khai án lệ vào công tác xét xử của Tòa án Việt Nam, đề tài nghiên cứu cấp bộ của Tòa án nhân dân tối cao, tr. 58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: