Thứ tư 04/03/2026 23:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Những vấn đề lý luận về rác thải khu dân cư và xử lý rác thải tại các khu dân cư[1]

Bài viết đề cập tới các khái niệm có liên quan, phân loại khu dân cư trong mối quan hệ với việc phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại các khu dân cư và xử lý rác thải tại các khu dân cư; đồng thời nêu một số điều kiện bảo đảm quản lý hiệu quả rác thải tại khu dân cư.

1. Một số khái niệm liên quan đến khu dân cư, rác thải khu dân cư và xử lý rác thải tại các khu dân cư

Về khái niệm khu dân cư: Hiện nay, trong từ điển tiếng Việt không có khái niệm về khu dân cư mà chỉ có khái niệm về cụm dân cư. Theo đó, “cụm” là tập hợp một số đơn vị cùng loại ở gần nhau cùng một nơi, thành một đơn vị lớn hơn[2]. Như vậy, cụm dân cư được hiểu là tập hợp một số đơn vị dân cư hoặc hộ gia đình ở gần nhau cùng một nơi, thành đơn vị cụm dân cư.

Về khái niệm rác thải khu dân cư: Trong quá trình sinh sống, con người liên tục thải bỏ ra những yếu tố vật chất mà họ cho rằng không còn có tác dụng. Theo từ điển Tiếng Việt: “Chất thải là rác và các vật bỏ đi sau một quá trình sử dụng”[3]. Dưới góc độ pháp lý, chất thải được định nghĩa tại khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 như sau: “Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí hoặc ở dạng khác được thải ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Khoản 11 Điều 3 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường (Nghị định số 08/2022/NĐ-CP) định nghĩa: “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”. Rõ ràng cách định nghĩa này đã xác định nguồn gốc của chất thải rắn sinh hoạt là từ hoạt động sinh hoạt thường ngày của con người. Thực chất, trong quá trình sinh hoạt, con người còn thải cả nước thải và khí thải. Định nghĩa tại khoản 11 Điều 3 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP là về chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) chỉ đề cập tới một loại rác thải (một loại chất thải rắn) là rác thải sinh hoạt. Do đó, từ các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm: Rác thải khu dân cư hay chất thải rắn khu dân cư là chất thải rắn phát sinh trong hoạt động thường ngày của con người tại các khu dân cư.

Về khái niệm xử lý rác thải tại các khu dân cư: Theo Từ điển Tiếng Việt, “xử lý” là “làm cho chịu những tác động vật lý, hóa học nhất định để biến đổi hợp mục đích” và “áp dụng vào cái gì đó những thao tác nhất định để nghiên cứu, sử dụng”. Như vậy, xử lý rác thải tại khu dân cư có thể được hiểu là việc sử dụng các tác động vật lý, hóa học nhằm hạn chế hoặc loại trừ những tác động xấu tới môi trường của rác thải hoặc áp dụng những biện pháp nào đó, những hoạt động nào đó để nhằm mục đích hạn chế hoặc loại trừ những tác động xấu tới môi trường của rác thải. Theo nghĩa hẹp, “xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải”. Theo nghĩa rộng, xử lý chất thải là hoạt động quản lý chất thải trong toàn bộ quá trình phát sinh, giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, trung chuyển, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải nhằm hạn chế hoặc loại trừ những tác động xấu tới môi trường của rác thải.

2. Phân loại chất thải rắn tại khu dân cư và mối quan hệ với vấn đề quản lý chất thải rắn tại khu dân cư

Có nhiều tiêu chí để phân loại chất thải rắn tại khu dân cư. Dựa vào các tiêu chí khác nhau cho ra kết quả phân loại khác nhau. Thực chất, cách phân loại chất thải rắn tại khu dân cư có ý nghĩa nhất định trong tìm kiếm các giải pháp quản lý tương ứng.

Thứ nhất, theo tiêu chí chủ thể gồm có chất thải rắn của hộ gia đình và chất thải rắn của cá nhân. Sự phân loại này không có nhiều ý nghĩa trong quản lý.

Thứ hai, theo tiêu chí nguồn làm phát sinh chất thải rắn tại khu dân cư gồm phát sinh từ hoạt động sinh hoạt và chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và các khu vực khác tại khu dân cư. Cách thức phân loại này có thể tác động nhất định tới hoạt động quản lý chất thải rắn tại khu dân cư. Thông thường, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại khu dân cư có số lượng và chủng loại chất thải rắn khác biệt và lớn hơn, đa dạng hơn so với chất thải rắn phát sinh từ sinh hoạt, đời sống của hộ gia đình và cá nhân. Với tính chất khác biệt như vậy, có thể có những phương thức quản lý khác nhau.

Thứ ba, theo tiêu chí độ độc hại, chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. Với tiêu chí và phân loại chất thải rắn này, trong quá trình quản lý, cần chú trọng đặc biệt tới các biện pháp quản lý chất thải rắn nguy hại bởi chỉ với số lượng nhỏ nhưng chất thải rắn nguy hại có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường.

Thứ tư, theo tiêu chí mục đích quản lý, xử lý, chất thải rắn tại khu dân cư được phân loại thành các nhóm sau: Nhóm hữu cơ dễ phân hủy (nhóm thức ăn thừa, lá cây, rau, củ, quả, xác động vật); Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế (nhóm giấy, nhựa, kim loại, cao su, ni-lông, thủy tinh); Nhóm chất thải phải xử lý. Cách phân loại này có ý nghĩa quan trọng trong quản lý chất thải rắn sịnh hoạt tại khu dân cư.

Thứ năm, theo tiêu chí về độ lớn hoặc thể tích, chất thải rắn tại khu dân cư được phân loại thành các nhóm chất thải rắn cồng kềnh và chất thải rắn có thể tích nhỏ. Với những loại chất thải có độ lớn hoặc thể tích khác nhau thì có thể cần có những giải pháp quản lý khác nhau.

Thứ sáu, theo tiêu chí giá trị sử dụng về mặt xã hội, chất thải rắn tại khu dân cư được phân loại thành các nhóm: Chất thải rắn còn giá trị sử dụng về mặt xã hội (giá trị kinh tế) và chất thải rắn không còn giá trị sử dụng về mặt xã hội (giá trị kinh tế). Nhiều chất thải rắn phát sinh tại các khu dân cư còn giá trị sử dụng về mặt xã hội (giá trị kinh tế) nên có thể thu gom để bán cho các cơ sở tái chế, tái sử dụng, ví dụ như các chất thải kim loại, giấy, bìa, một số loại nhựa… Tại Việt Nam, có một “mạng lưới” thu mua các loại chất thải này để tái chế, tái sử dụng, được gọi là hoạt động “thu mua đồng nát”. Mặc dù hoạt động này vì mục đích kinh tế nhưng cũng góp phần “quản lý” chất thải rắn khu dân cư. Từ đó, hoạt động quản lý chất thải rắn khu dân cư có thể “không cần quan tâm” tới nhóm chất thải rắn này mà chỉ tập trung vào nhóm chất thải rắn không có giá trị về kinh tế.

3. Quản lý rác thải tại các khu dân cư

3.1. Quy trình quản lý rác thải tại các khu dân cư

Quản lý rác thải tại các khu dân cư bao gồm toàn bộ các quy trình giảm thiểu, phân loại, thu gom, lưu giữ, trung chuyển, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chất thải nhằm hạn chế hoặc loại trừ những tác động xấu tới môi trường của rác thải. Do đó, nội dung các hoạt động của quy trình quản lý rác thải tại khu dân cư bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động giảm thiểu rác thải tại khu dân cư.

Hoạt động giảm thiểu rác thải là hoạt động đầu tiên trong toàn bộ quy trình quản lý rác thải. Giảm thiểu rác thải có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý rác thải tại khu dân cư vì nó là phương pháp hiệu quả nhất nhằm giảm lượng rác thải, giảm được các chi phí của các quy trình sau đó như chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải và đạt dược ngay từ đầu mục đích hạn chế hoặc loại trừ những tác động xấu tới môi trường của rác thải. Hoạt động giảm thiểu rác thải có thể được thực hiện thông qua việc thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng của xã hội…

Thứ hai, hoạt động phân loại rác thải tại khu dân cư.

Bên cạnh việc phân loại rác thành loại rác thải nguy hại và rác thải thông thường thì có thể phân loại rác thải thông thường thành loại có thể tái chế, tái sử dụng và loại phải xử lý. Việc phân loại rác có thể thực hiện ngay tại các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các cơ sở làm phát sinh rác thải khác và có thể tiếp tục được thực hiện tại cơ sở xử lý chất thải trong trường hợp rác thải chưa được phân loại triệt để tại nguồn. Tuy nhiên, phân loại rác thải tại nguồn thành những loại khác nhau có thể phụ thuộc vào điều kiện cụ thể từng khu vực dân cư và việc thu gom rác tại các khu vực khác nhau như đã đề cập ở mục 2 trên đây. Để hỗ trợ cho việc phân loại rác tại nguồn thì người thực hiện phân loại rác thành những loại như trên cần nắm rõ rác thải nào là rác thải nguy hại, rác thải nào là rác thải thông thường có thể tái chế, rác thải nào phải xử lý.

Thứ ba, hoạt động thu gom rác thải tại khu dân cư.

Thu gom được thực hiện ở hai công đoạn: (i) Thu gom rác có thể được thực hiện tại nguồn phát sinh rác thải (tại hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh, công sở, trường học…); (ii) Quá trình thu gom rác thải từ các hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh, công sở, trường học… hay từ những điểm thu gom tập trung lại, chất chúng lên xe và vận chuyển đến điểm trung chuyển, trạm xử lý hay những nơi chôn lấp chất thải rắn.

Việc thu gom tại nguồn phát sinh rác thải và từ các nguồn phát sinh này phải được thực hiện triệt để nhằm tránh cho rác thải này thoát ra ngoài môi trường.

Việc tổ chức thu gom rác thải tại khu dân cư có thể được thực hiện bởi các công ty môi trường đô thị, hợp tác xã hoặc tổ tự quản thu gom, vận chuyển rác thải. Việc lựa chọn mô hình nào phụ thuộc vào từng khu vực dân cư đô thị hay nông thôn. Trong hoạt động thu gom rác thải cần xác định tần xuất thu gom, thời gian cụ thể thực hiện hoạt động thu gom và địa điểm thu gom tại các khu dân cư.

Thứ tư, hoạt động tái chế, tái sử dụng rác thải phát sinh tại khu dân cư.

Tái chế, tái sử dụng rác thải được xếp thứ tự ưu tiên thứ hai sau giảm thiểu rác thải tại nguồn trong hệ thống quản lý rác thải tổng hợp. Hoạt động tái chế, tái sử dụng rác thải không chỉ có ý nghĩa về mặt môi trường mà còn đem lại lợi ích về kinh tế. Hoạt động tái chế, tái sử dụng rác thải có thể được thực hiện ngay tại hộ gia đình, cơ sở phát sinh rác thải và được thực hiện ở quy mô công nghiệp. Phụ thuộc vào nhu cầu và ý thức của người dân, hoạt động tái chế, tái sử dụng có thể được thực hiện với các loại rác thải khác nhau. Điều kiện để thực hiện hoạt động tái chế, tái sử dụng rác thải có thể thực hiện được ở quy mô công nghiệp là phải thực hiện tốt hoạt động thu gom, phân loại rác thải thành loại tái chế, tái sử dụng được và phải phù hợp với công nghệ, nhu cầu tái chế, tái sử dụng.

Thứ năm, hoạt động vận chuyển rác thải phát sinh tại khu dân cư.

Vận chuyển rác thải là mang chuyển rác thải từ địa điểm này (từ khu vực thu gom, trung chuyển) đến địa điểm khác (cơ sở tái chế, tái sử dụng hoặc cơ sở xử lý) bằng phương tiện vận chuyển. Thông thường, loại phương tiện vận chuyển rác thải là các loại xe ô tô như xe rơ-mooc, xe có toa kéo, xe tải và xe ép rác kín. Phù hợp với loại rác thải để lựa chọn các loại xe vận chuyển thích hợp nhưng khi vận chuyển rác thải phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

(i) Rác thải phải được phủ kín và không được rơi vãi ra đường trong quá trình vận chuyển.

(ii) Khối lượng xe và rác không được vượt quá quy định về tải trọng của các tuyến đường vận chuyển. Đối với việc vận chuyển rác cồng kềnh, phải tuân thủ các quy định về giao thông đường bộ.

(iii) Phương pháp dỡ tải phải đơn giản và có khả năng thực hiện độc lập (tự hành)[4] nhằm tiết kiệm chi phí. Khi vận chuyển rác thải, vì yếu tố mùi phát sinh trong quá trình vận chuyển và vấn đề mĩ quan của các tuyến đường vận chuyển, đặc biệt là ở các khu đô thị, cần xác định tuyến đường vận chuyển và thời gian vận chuyển phù hợp. Việc thực hiện hoạt động vận chuyển rác thải độc lập hay được thực thiện cùng với các hoạt động khác phụ thuộc vào mô hình tổ chức quản lý rác thải tại địa phương, điều kiện sẵn có các doanh nghiệp tại địa phương tham gia vào thị trường dịch vụ quản lý rác thải.

Thứ sáu, hoạt động lưu giữ rác thải tại khu dân cư.

Lưu giữ rác thải là hoạt động được thực hiện khi chưa thực hiện được những hoạt động khác như thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải. Hoạt động lưu giữ rác thải thực hiện tại nguồn, tại các hộ gia đình hoặc tại các địa điểm trung gian giữa các quá trình thu gom, vận chuyển và tại nơi xử lý chất thải. Chứa rác tạm thời (lưu giữ tạm thời) tại các hộ gia đình cần được đựng trong các dụng cụ để chứa thường là bao nhựa, thùng nhựa hoặc thùng sắt, container... Kích thước và đặc điểm từng loại phụ thuộc vào mức độ phát sinh và tần số thu gom rác thải. Sau hoạt động thu gom rác thải từ các hộ gia đình thì có thể tạm thời lưu giữ rác thải tại các điểm trung chuyển nhằm tập trung rác thải tại một điểm để chất lên xe đem đến nơi tái chế, tái sử dụng hoặc xử lý. Phương thức này cần thiết khi khu dân cư có hoạt động thu gom rác quy mô nhỏ hoặc mật độ dân cư thấp. Khi nơi xử lý cách xa khu dân cư thì có thể thành lập các điểm trung chuyển gom rác trong thời gian ngắn nhất về đây, sau đó dùng các phương tiện có công suất lớn chuyển rác đến nơi xử lý. Phương thức này cần thiết hoạt động thu gom rác thải tại khu dân cư được thực hiện với các xe thu gom rác nhỏ và vừa, không có khả năng vận chuyển quãng đường dài.

Thứ bảy, hoạt động xử lý, tiêu hủy rác thải.

Hoạt động xử lý, tiêu hủy rác thải là hoạt động cuối cùng của hoạt động quản lý rác thải khu dân cư khi các loại rác thải này không thể tái chế, tái sử dụng. Xử lý rác thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm biến đổi, loại bỏ, cách ly, tiêu hủy hoặc phá hủy tính chất, thành phần nguy hại rác thải (kể cả việc tái chế, tận thu, thiêu đốt, đồng xử lý, cô lập, chôn lấp) với mục đích cuối cùng là không gây tác động xấu đến môi trường và sức khoẻ con người. Có thể áp dụng các phương pháp khác nhau để xử lý rác thải nhưng hoạt động xử lý này không được gây tác động xấu tới môi trường và sức khỏe con người. Hiện nay có hai phương pháp chủ yếu để xử lý rác thải: (i) Phương pháp chôn lấp và (ii) Phương pháp đốt (phương pháp sử dụng nhiệt). Các hoạt động này do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện hoặc quy định các yêu cầu cần thực hiện và các cơ sở xử lý rác thải phải tuân thủ các yêu cầu này.

3.2. Điều kiện bảo đảm quản lý hiệu quả rác thải tại khu dân cư

Kinh nghiệm hoạt động quản lý rác thải trên thế giới và trong nước đến nay cho thấy, phương thức quản lý tổng hợp từ phòng ngừa, giảm thiểu tới phân loại, tái chế, tái sử dụng, thu gom, vận chuyển và xử lý, trong đó đó ưu tiên phòng ngừa, giảm thiểu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để hạn chế lượng rác thải phải xử lý là rất phù hợp cho Việt Nam. Mục đích của quản lý chất thải nói chung và rác thải khu dân cư nói riêng là giảm thiểu tối đa chất thải phát sinh, thực hiện tái chế, tái sử dụng tối đa chất thải đã phát sinh và khi không thể giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng thì phải thực hiện các biện pháp quản lý được 100% chất thải còn lại nhằm mục đích loại trừ, giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng xấu của chất thải đến môi trường. Để đạt được mục đích quản lý rác thải nêu trên, cần tạo lập và duy trì những điều kiện nhất định nhằm quản lý rác thải một cách có hiệu quả, bao gồm:

Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý rác thải: Chính sách, pháp luật về quản lý rác thải là định hướng, cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân triển khai thực hiện các hoạt động quản lý rác thải trên thực tế. Theo đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần ban hành và theo thời gian cần hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó quy định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và cơ chế phối kết hợp giữa các thành phần tham gia và có tác động vào hoạt động quản lý rác thải, bao gồm: (i) Chủ nguồn thải; (ii) Chính quyền địa phương; (iii) Chủ thể cung ứng dịch vụ quản lý rác thải; (iv) Truyền thông.

Thứ hai, các điều kiện về con người: Điều kiện đầu tiên về con người là nhận thức và hành vi của người dân phù hợp và đáp ứng được mục đích của quản lý rác thải. Muốn vậy, các cơ quan nhà nước cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức, đồng thuận trong hành động và tự nguyện, tự giác thực hiện các hoạt động quản lý rác thải. Để nhận thức trở thành hành động thực tế thì việc triển khai áp dụng các phong trào bảo vệ môi trường và những nội dung trong quản lý rác thải là cần thiết. Điều kiện thứ hai về con người là trình độ của các chủ thể tham gia trực tiếp vào quản lý chất thải. Một số hoạt động quản lý chất thải cần tới những hiểu biết chuyên sâu về chất thải và khoa học, kỹ thuật, pháp lý về quản lý chất thải. Do đó, hoạt động đào tạo, tuyển chọn, sử dụng các chuyên gia về lĩnh vực này là cần thiết.

Thứ ba, các điều kiện về cơ sở vật chất: Để quản lý có hiệu quả rác thải thì điều kiện về cơ sở sở vật chất là không thể thiếu. Theo nguyên lý chung, chủ thể nào có trách nhiêm, nghĩa vụ quản lý chất thải phải thực hiện đầu tư nhằm đáp ứng được các điều kiện về cơ sở vật chất theo yêu cầu của Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu của quản lý chất thải. Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cần có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các chủ thể quản lý chất thải nhằm khuyến khích các chủ thể này đầu tư, tạo lập các điều kiện về cơ sở vật chất nhằm đáp ứng các yêu cầu của các hoạt động quản lý chất thải.

TS. Nguyễn Văn Phương

Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Bài viết trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp áp dụng pháp luật về xử lý rác thải tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”, năm 2023.

[2]. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, năm 2006, tr. 222.

[3]. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 144.

[4]. Nguyễn Văn Phước, Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn, Nxb. Xây dựng, Hà Nội, năm 2008, tr. 91.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 390), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: