Thứ tư 20/05/2026 04:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động trong giai đoạn hiện nay

Công tác giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp hiện nay đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tại các doanh nghiệp, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật của người lao động diễn ra phổ biến đã gây nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Đa phần người lao động chưa tạo được thói quen thực hiện và sử dụng quyền, nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, dẫn đến dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ vi phạm pháp luật.


Trong bài viết, tác giả Ngô Quỳnh Hoa đã đi sâu phân tích thực trạng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Theo đó, ngoài những kết quả đạt được, tác giả cũng đã đề cập đến một số hạn chế, tồn tại cả về nội dung giáo dục và hình thức giáo dục. Từ những phân tích thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho người lao động, cụ thể: (i) Các giải pháp liên quan đến nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động; (ii) Các giải pháp liên quan đến hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động; (iii) Các giải pháp về nguồn lực đảm bảo.

Hiện nay nhu cầu có được thông tin pháp luật càng tỏ ra cần thiết đối với người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật đã gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như trong các quan hệ lao động. Đa phần NLĐ trong doanh nghiệp chưa tạo được thói quen thực hiện và sử dụng quyền, nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, dẫn đến dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ vi phạm pháp luật mà chính bản thân họ, do không hiểu biết pháp luật đã không tự bảo vệ được mình hoặc vi phạm pháp luật. Trong quan hệ lao động ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, đặc biệt là quan hệ giữa người lao động với chủ sử dụng lao động có những nơi diễn biến phức tạp về các vụ việc liên quan đến vướng mắc về pháp luật. Nhiều chủ doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động, pháp luật công đoàn và những cam kết, thỏa thuận với người lao động, nhất là các quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, điều kiện làm việc... Trong khi đó, người lao động cũng không nắm rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong các mối quan hệ lao động để đấu tranh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Bởi vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần tổ chức tốt việc đưa pháp luật đến với NLĐ trong các doanh nghiệp thông qua hoạt động giáo dục pháp luật.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những công đoạn hết sức quan trọng. Nó không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, mà còn tạo ra khả năng hình thành những nhu cầu, tình cảm, những chuẩn mực mới, đồng thời, góp phần củng cố ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức, ngăn chặn các biểu hiện xâm phạm lợi ích chính đáng của người khác, khuyến khích những hành vi hợp pháp và hợp đạo lý. Người đã từng nhắc nhở: “Việc công bố đạo luật chưa phải là đã xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt”. Vì vậy, để pháp luật trở thành chuẩn mực về nhân cách trong xử sự của mỗi công dân nói chung và NLĐ nói riêng, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường GDPL để giúp họ không những biết bảo vệ quyền lợi của bản thân, mà còn biết tôn trọng quyền của người khác, điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là phải lựa chọn nội dung và triển khai các hình thức GDPL phù hợp cho đối tượng này.

1. Thực trạng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

1.1. Những kết quả đạt được

1.1.1. Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

Trong thời gian qua, để công tác GDPL cho NLĐ đạt hiệu quả, việc xác định nội dung pháp luật luôn là vấn đề cần được nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng. Theo Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, GDPL cho NLĐ được thực hiện với các nhóm nội dung như: (i) Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ. Trong thời gian qua, các chủ thể thực hiện GDPL cho NLĐ đã quan tâm vấn đề này; đặc biệt, trong lựa chọn nội dung pháp luật phù hợp với nhu cầu của NLĐ hoặc nơi có các doanh nghiệp, NLĐ đang có điểm nóng về vi phạm pháp luật, có nhiều vướng mắc liên quan đến pháp luật; (ii) Phổ biến các quy định cơ bản về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong đó, tập trung phổ biến, giáo dục (PBGD) về các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Đất đai, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Giao thông đường bộ, các quy định pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội… Đây là những văn bản pháp luật liên quan đến người dân nói chung, gắn với quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. NLĐ trước khi hiểu biết về các quy định liên quan đến công việc của bản thân, cần có trách nhiệm nắm vững các quy định về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và luật định; như vậy, họ mới có thể tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ pháp lý, biết cách bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, của gia đình và xã hội; (iii) Phổ biến, giáo dục về các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động trong các doanh nghiệp, như Bộ luật Lao động với các quy định liên quan tới hợp đồng, tiền công, làm thêm giờ, thời giờ lao động, nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, thỏa ước lao động tập thể, trợ cấp thất nghiệp, chế độ nghỉ ốm đau, thai sản, đình công, xuất khẩu lao động…); Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Thuế thu nhập cá nhân, các văn bản có liên quan…

Việc xác định nội dung GDPL này dựa trên hai tiêu chí: Một là, dựa trên cơ sở đặc điểm của người lao động về trình độ học vấn, nhận thức, nghề nghiệp, đặc thù ngành nghề, điều kiện, hoàn cảnh sống; Hai là, dựa trên cơ sở khảo sát nhu cầu tìm hiểu pháp luật, những vướng mắc về pháp lý của NLĐ.

1.1.2. Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

Theo Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, có 07 hình thức GDPL và có quy định: “Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả”.

Trên thực tiễn, các hình thức khác theo Luật quy định rất phong phú và mang nhiều màu sắc của các địa phương, vùng miền thể hiện sự sáng tạo trong tư duy, cách thức tổ chức thực hiện. Hình thức thường được sử dụng triển khai GDPL cho NLĐ như: GDPL trong trường học; tuyên truyền trực tiếp (nói chuyện chuyên đề, hội nghị, tập huấn, các buổi giới thiệu văn bản pháp luật…); tư vấn pháp luật, đối thoại chính sách pháp luật, tài liệu pháp luật, bản tin pháp luật tại các văn phòng của doanh nghiệp, loa truyền thanh trong doanh nghiệp, thi tìm hiểu pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng, cổng, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin… Mỗi hình thức sẽ được lựa chọn tiến hành phù hợp với nội dung, đối tượng, đặc điểm, điều kiện của NLĐ, điều kiện về kinh phí, nguồn lực con người… Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng các cấp công đoàn đã tổ chức được 286.519 cuộc tuyên truyền trực tiếp, thu hút 23.000.524 lượt cán bộ công đoàn và công nhân lao động tham gia; tổ chức được 11.554 cuộc tư vấn tại doanh nghiệp, thu hút 488.078 lượt công nhân lao động tham gia; biên soạn và phát hành 11.848.556 loại tài liệu; tổ chức được 3.540 cuộc thi tìm hiểu pháp luật, thu hút 1.284.769 lượt người tham gia; xây dựng được 14.757 tủ sách pháp luật; xây dựng được 2.538 tổ công nhân tự quản thu hút 207.552 công nhân tham gia[1]. Với việc xác định, nội dung, căn cứ vào các yếu tố đặc điểm, hoàn cảnh, trình độ, nhận thức, điều kiện của NLĐ và đầu tư nguồn lực con người, kinh phí, các điều kiện đảm bảo khác, trong thời gian qua công tác GDPL cho NLĐ đã có những chuyển biến tích cực. NLĐ đã có ý thức hơn trong việc tìm hiểu pháp luật, đã biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, ý thức trong tuân thủ pháp luật.

1.2. Những vấn đề còn hạn chế

1.2.1.Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

- Theo Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, bên cạnh quy định nội dung phổ biến là các văn bản pháp luật, còn quy định phổ biến: “Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc GDPL cho người lao động vẫn thường thiên về cung cấp thông tin pháp luật. Việc GDPL, vận động NLĐ tự giác tìm hiểu pháp luật, tuân thủ pháp luật còn hạn chế. Chính vì vậy, việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật, củng cố niềm tin đối với pháp luật và hình thành lối sống theo pháp luật cho NLĐ chưa đạt được kết quả như mong muốn.

- Việc phổ biến pháp luật ngay từ khâu dự thảo có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc đưa dự thảo lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động của văn bản, bên cạnh đó giới thiệu về dự thảo để người dân khi tiếp cận với dự thảo văn bản sẽ có cách hiểu đúng. Vấn đề này nếu thực hiện sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn khi văn bản đó được ban hành và tổ chức thực hiện đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa tập trung thực hiện nhiệm vụ này.

- Nội dung pháp luật chưa theo kịp được các vấn đề nóng của xã hội, vấn đề dư luận quan tâm và cần định hướng dư luận, các vấn đề người dân, NLĐ đang vướng mắc về pháp luật, xảy ra nhiều tranh chấp và trở thành các điểm nóng…

1.2.2.Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

- Một số hình thức tổ chức GDPL cho NLĐ được lựa chọn chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của NLĐ về lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, lĩnh vực lao động, loại hình doanh nghiệp, vùng miền… và nội dung cần phổ biến, GDPL.

- Hình thức GDPL chưa có nhiều đổi mới, chưa khắc phục được tính hình thức; việc đánh giá các hình thức, mô hình hiệu quả để nhân rộng còn chưa được chú trọng; ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác GDPL còn chậm, chưa đồng đều trên phạm vi cả nước...

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả về nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động trong thời gian tới

2.1. Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

Thứ nhất, cần lựa chọn nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) phù hợp với tính chất, đặc điểm của NLĐ (trình độ nhận thức, hoàn cảnh sống, tâm lý, điều kiện kinh tế, thời gian, giới tính, lứa tuổi, khu vực, loại hình doanh nghiệp...). Nội dung PBGDPL cho NLĐ, trước hết phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân, gia đình, cuộc sống của họ. Để có thông tin về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, các chủ thể PBGDPL cần tiến hành khảo sát thực trạng và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, thông qua công tác quản lý nhà nước về PBGDPL và các kênh thông tin khác để lựa chọn nội dung PBGDPL phù hợp.

Thứ hai, kết hợp giữa PBGDPL những điểm mới, nội dung chính sách pháp luật được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; các quyền và lợi ích hợp pháp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm với hoạt động tư vấn, hướng dẫn, giải đáp pháp luật, gắn với các tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể dựa trên cơ sở nhu cầu của NLĐ để giáo dục kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, kỹ năng lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật.

Thứ ba, việc PBGDPL cần được thực hiện ngay từ khâu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm trang bị những kiến thức nhất định, tránh việc các văn bản pháp luật mới được ban hành đã không tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Bên cạnh đó cần kết hợp giữa giáo dục kiến thức pháp luật và vận động, thuyết phục, xây dựng niềm tin, tình cảm của NLĐ đối với pháp luật, để từ đó nâng cao ý thức tìm hiểu, tuân thủ chấp hành pháp luật.

Thứ tư, đổi mới trong tư duy, cần PBGDPL theo hướng lấy NLĐ làm trung tâm, thực hiện PBGDPL về những nội dung NLĐ cần, chứ không phổ biến, giáo dục về những nội dung mà các chủ thể PBGDPL có. Đặc biệt, cần kịp thời nắm bắt các vấn đề nóng của NLĐ khi có vướng mắc về pháp luật để có thể tư vấn, cung cấp thông tin, tháo gỡ kịp thời.

Thứ năm, hàm lượng nội dung PBGDPL cần được thiết kế phù hợp với khả năng tiếp thu của NLĐ, tránh tình trạng quá tải kiến thức. Tăng cường việc theo dõi đánh giá hiệu quả PBGDPL thông qua đánh giá, tham khảo ý kiến nhận xét của NLĐ trước và sau các đợt PBGDPL.

2.2. Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

Một là, cần đa dạng hóa các hình thức GDPL, kết hợp các hình thức GDPL truyền thống như GDPL trong nhà trường, tuyên truyền trực tiếp, tài liệu pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh cơ sở, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, câu lạc bộ pháp luật… với các hình thức GDPL mới như đối thoại trực tuyến, thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến, hỏi đáp pháp luật, giáo dục pháp luật trên cổng/trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong công tác này.

Hai là, thông qua các cuộc khảo sát, báo cáo, kiểm tra thực tế về thực trạng và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, thông qua phân tích các đặc điểm, điều kiện của NLĐ để các chủ thể lựa chọn hình thức PBGDPL phù hợp với NLĐ.

Ba là, phát huy các hình thức, mô hình hiệu quả trong GDPL cho người lao động như đối thoại chính sách, pháp luật, tư vấn pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền miệng, các hình thức GDPL có ứng dụng công nghệ thông tin, trong đó xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về GDPL cho NLĐ. Nghiên cứu, sử dụng mạng xã hội để tăng cường các hoạt động truyền thông, GDPL để phù hợp với nhu cầu của NLĐ, tạo sự lan tỏa, kịp thời thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu và phản ứng của dư luận để có định hướng tương tác, điều chỉnh hoạt động GDPL cho phù hợp.

2.3. Về các nguồn lực đảm bảo

Thứ nhất, cần tinh gọn, chuyên nghiệp hóa đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo hướng củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng; tách bạch nhiệm vụ giữa đội ngũ công chức thực hiện PBGDPL với đội ngũ tác nghiệp trực tiếp PBGDPL, đảm bảo không chồng lấn về nhiệm vụ, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của đội ngũ này. Định kỳ bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công đoàn, pháp chế, tư vấn viên pháp luật…; cung cấp tài liệu pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ GDPL cho đội ngũ này. Thu hút đội ngũ luật sư, luật gia, những người công tác trong ngành pháp luật tham gia GDPL cho NLĐ.

Thứ hai, từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ những người thực hiện công tác GDPL. Ở các nước trên thế giới, đội ngũ thực hiện công tác này đều là những người, những chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, họ là luật sư, thẩm phán… Vì vậy, Việt Nam muốn thực hiện hiệu quả công tác GDPL nói chung và cho người lao động nói riêng trong thời gian tới, cần xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên trách, kiêm nhiệm thực sự vững vàng, giỏi về kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ.

Thứ ba, cần có sự hài hòa về trách nhiệm GDPL cho NLĐ, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và đặc biệt xác định rõ vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp, vấn đề này thuộc nội tại của từng doanh nghiệp. Vì vậy, đối với GDPL cho NLĐ, trước tiên là trách nhiệm của doanh nghiệp. Bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí từ doanh nghiệp và thu hút các nguồn kinh phí hợp pháp từ nhiều nguồn khác nhau trong xã hội tập trung GDPL cho NLĐ đi vào thực chất, hiệu quả.

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật



[1]. Báo cáo số 160-BC/ĐĐTLĐ ngày 14/8/2019 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam về kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: