Thứ ba 22/09/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động trong giai đoạn hiện nay

Công tác giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp hiện nay đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tại các doanh nghiệp, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật của người lao động diễn ra phổ biến đã gây nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Đa phần người lao động chưa tạo được thói quen thực hiện và sử dụng quyền, nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, dẫn đến dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ vi phạm pháp luật.


Trong bài viết, tác giả Ngô Quỳnh Hoa đã đi sâu phân tích thực trạng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Theo đó, ngoài những kết quả đạt được, tác giả cũng đã đề cập đến một số hạn chế, tồn tại cả về nội dung giáo dục và hình thức giáo dục. Từ những phân tích thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho người lao động, cụ thể: (i) Các giải pháp liên quan đến nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động; (ii) Các giải pháp liên quan đến hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động; (iii) Các giải pháp về nguồn lực đảm bảo.

Hiện nay nhu cầu có được thông tin pháp luật càng tỏ ra cần thiết đối với người lao động (NLĐ) trong doanh nghiệp, tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật đã gây ra nhiều khó khăn trong cuộc sống cũng như trong các quan hệ lao động. Đa phần NLĐ trong doanh nghiệp chưa tạo được thói quen thực hiện và sử dụng quyền, nghĩa vụ pháp lý trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình, dẫn đến dễ bị người khác lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ vi phạm pháp luật mà chính bản thân họ, do không hiểu biết pháp luật đã không tự bảo vệ được mình hoặc vi phạm pháp luật. Trong quan hệ lao động ở khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư của nước ngoài, đặc biệt là quan hệ giữa người lao động với chủ sử dụng lao động có những nơi diễn biến phức tạp về các vụ việc liên quan đến vướng mắc về pháp luật. Nhiều chủ doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động, pháp luật công đoàn và những cam kết, thỏa thuận với người lao động, nhất là các quy định về hợp đồng lao động, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, thời gian làm việc và nghỉ ngơi, điều kiện làm việc... Trong khi đó, người lao động cũng không nắm rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong các mối quan hệ lao động để đấu tranh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Bởi vậy, trong giai đoạn hiện nay, cần tổ chức tốt việc đưa pháp luật đến với NLĐ trong các doanh nghiệp thông qua hoạt động giáo dục pháp luật.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những công đoạn hết sức quan trọng. Nó không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, mà còn tạo ra khả năng hình thành những nhu cầu, tình cảm, những chuẩn mực mới, đồng thời, góp phần củng cố ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức, ngăn chặn các biểu hiện xâm phạm lợi ích chính đáng của người khác, khuyến khích những hành vi hợp pháp và hợp đạo lý. Người đã từng nhắc nhở: “Việc công bố đạo luật chưa phải là đã xong, mà còn phải tuyên truyền, giáo dục lâu dài mới thực hiện được tốt”. Vì vậy, để pháp luật trở thành chuẩn mực về nhân cách trong xử sự của mỗi công dân nói chung và NLĐ nói riêng, một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường GDPL để giúp họ không những biết bảo vệ quyền lợi của bản thân, mà còn biết tôn trọng quyền của người khác, điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với pháp luật. Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi là phải lựa chọn nội dung và triển khai các hình thức GDPL phù hợp cho đối tượng này.

1. Thực trạng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho người lao động trong các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

1.1. Những kết quả đạt được

1.1.1. Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

Trong thời gian qua, để công tác GDPL cho NLĐ đạt hiệu quả, việc xác định nội dung pháp luật luôn là vấn đề cần được nghiên cứu, cân nhắc kỹ lưỡng. Theo Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, GDPL cho NLĐ được thực hiện với các nhóm nội dung như: (i) Đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ. Trong thời gian qua, các chủ thể thực hiện GDPL cho NLĐ đã quan tâm vấn đề này; đặc biệt, trong lựa chọn nội dung pháp luật phù hợp với nhu cầu của NLĐ hoặc nơi có các doanh nghiệp, NLĐ đang có điểm nóng về vi phạm pháp luật, có nhiều vướng mắc liên quan đến pháp luật; (ii) Phổ biến các quy định cơ bản về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. Trong đó, tập trung phổ biến, giáo dục (PBGD) về các quy định của Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Đất đai, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Giao thông đường bộ, các quy định pháp luật về phòng chống tệ nạn xã hội… Đây là những văn bản pháp luật liên quan đến người dân nói chung, gắn với quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân. NLĐ trước khi hiểu biết về các quy định liên quan đến công việc của bản thân, cần có trách nhiệm nắm vững các quy định về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và luật định; như vậy, họ mới có thể tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ pháp lý, biết cách bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình, của gia đình và xã hội; (iii) Phổ biến, giáo dục về các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến người lao động trong các doanh nghiệp, như Bộ luật Lao động với các quy định liên quan tới hợp đồng, tiền công, làm thêm giờ, thời giờ lao động, nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, thỏa ước lao động tập thể, trợ cấp thất nghiệp, chế độ nghỉ ốm đau, thai sản, đình công, xuất khẩu lao động…); Luật Doanh nghiệp, Luật Công đoàn, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Thuế thu nhập cá nhân, các văn bản có liên quan…

Việc xác định nội dung GDPL này dựa trên hai tiêu chí: Một là, dựa trên cơ sở đặc điểm của người lao động về trình độ học vấn, nhận thức, nghề nghiệp, đặc thù ngành nghề, điều kiện, hoàn cảnh sống; Hai là, dựa trên cơ sở khảo sát nhu cầu tìm hiểu pháp luật, những vướng mắc về pháp lý của NLĐ.

1.1.2. Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

Theo Điều 11 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, có 07 hình thức GDPL và có quy định: “Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả”.

Trên thực tiễn, các hình thức khác theo Luật quy định rất phong phú và mang nhiều màu sắc của các địa phương, vùng miền thể hiện sự sáng tạo trong tư duy, cách thức tổ chức thực hiện. Hình thức thường được sử dụng triển khai GDPL cho NLĐ như: GDPL trong trường học; tuyên truyền trực tiếp (nói chuyện chuyên đề, hội nghị, tập huấn, các buổi giới thiệu văn bản pháp luật…); tư vấn pháp luật, đối thoại chính sách pháp luật, tài liệu pháp luật, bản tin pháp luật tại các văn phòng của doanh nghiệp, loa truyền thanh trong doanh nghiệp, thi tìm hiểu pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng, cổng, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, các hình thức ứng dụng công nghệ thông tin… Mỗi hình thức sẽ được lựa chọn tiến hành phù hợp với nội dung, đối tượng, đặc điểm, điều kiện của NLĐ, điều kiện về kinh phí, nguồn lực con người… Theo thống kê chưa đầy đủ, riêng các cấp công đoàn đã tổ chức được 286.519 cuộc tuyên truyền trực tiếp, thu hút 23.000.524 lượt cán bộ công đoàn và công nhân lao động tham gia; tổ chức được 11.554 cuộc tư vấn tại doanh nghiệp, thu hút 488.078 lượt công nhân lao động tham gia; biên soạn và phát hành 11.848.556 loại tài liệu; tổ chức được 3.540 cuộc thi tìm hiểu pháp luật, thu hút 1.284.769 lượt người tham gia; xây dựng được 14.757 tủ sách pháp luật; xây dựng được 2.538 tổ công nhân tự quản thu hút 207.552 công nhân tham gia[1]. Với việc xác định, nội dung, căn cứ vào các yếu tố đặc điểm, hoàn cảnh, trình độ, nhận thức, điều kiện của NLĐ và đầu tư nguồn lực con người, kinh phí, các điều kiện đảm bảo khác, trong thời gian qua công tác GDPL cho NLĐ đã có những chuyển biến tích cực. NLĐ đã có ý thức hơn trong việc tìm hiểu pháp luật, đã biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, ý thức trong tuân thủ pháp luật.

1.2. Những vấn đề còn hạn chế

1.2.1.Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

- Theo Điều 7 Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, bên cạnh quy định nội dung phổ biến là các văn bản pháp luật, còn quy định phổ biến: “Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật”. Tuy nhiên, trên thực tế, việc GDPL cho người lao động vẫn thường thiên về cung cấp thông tin pháp luật. Việc GDPL, vận động NLĐ tự giác tìm hiểu pháp luật, tuân thủ pháp luật còn hạn chế. Chính vì vậy, việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật, củng cố niềm tin đối với pháp luật và hình thành lối sống theo pháp luật cho NLĐ chưa đạt được kết quả như mong muốn.

- Việc phổ biến pháp luật ngay từ khâu dự thảo có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc đưa dự thảo lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động của văn bản, bên cạnh đó giới thiệu về dự thảo để người dân khi tiếp cận với dự thảo văn bản sẽ có cách hiểu đúng. Vấn đề này nếu thực hiện sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn khi văn bản đó được ban hành và tổ chức thực hiện đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, trong thời gian qua chưa tập trung thực hiện nhiệm vụ này.

- Nội dung pháp luật chưa theo kịp được các vấn đề nóng của xã hội, vấn đề dư luận quan tâm và cần định hướng dư luận, các vấn đề người dân, NLĐ đang vướng mắc về pháp luật, xảy ra nhiều tranh chấp và trở thành các điểm nóng…

1.2.2.Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

- Một số hình thức tổ chức GDPL cho NLĐ được lựa chọn chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của NLĐ về lứa tuổi, giới, nghề nghiệp, lĩnh vực lao động, loại hình doanh nghiệp, vùng miền… và nội dung cần phổ biến, GDPL.

- Hình thức GDPL chưa có nhiều đổi mới, chưa khắc phục được tính hình thức; việc đánh giá các hình thức, mô hình hiệu quả để nhân rộng còn chưa được chú trọng; ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong công tác GDPL còn chậm, chưa đồng đều trên phạm vi cả nước...

2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả về nội dung và hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động trong thời gian tới

2.1. Về nội dung giáo dục pháp luật cho người lao động

Thứ nhất, cần lựa chọn nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) phù hợp với tính chất, đặc điểm của NLĐ (trình độ nhận thức, hoàn cảnh sống, tâm lý, điều kiện kinh tế, thời gian, giới tính, lứa tuổi, khu vực, loại hình doanh nghiệp...). Nội dung PBGDPL cho NLĐ, trước hết phải xuất phát từ nhu cầu của bản thân, gia đình, cuộc sống của họ. Để có thông tin về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, các chủ thể PBGDPL cần tiến hành khảo sát thực trạng và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, thông qua công tác quản lý nhà nước về PBGDPL và các kênh thông tin khác để lựa chọn nội dung PBGDPL phù hợp.

Thứ hai, kết hợp giữa PBGDPL những điểm mới, nội dung chính sách pháp luật được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới; các quyền và lợi ích hợp pháp; các hành vi bị nghiêm cấm và chế tài xử lý đối với các hành vi vi phạm với hoạt động tư vấn, hướng dẫn, giải đáp pháp luật, gắn với các tình huống, vụ việc pháp lý cụ thể dựa trên cơ sở nhu cầu của NLĐ để giáo dục kiến thức pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, kỹ năng lựa chọn cách xử sự phù hợp với pháp luật.

Thứ ba, việc PBGDPL cần được thực hiện ngay từ khâu dự thảo văn bản quy phạm pháp luật nhằm trang bị những kiến thức nhất định, tránh việc các văn bản pháp luật mới được ban hành đã không tạo được sự đồng thuận trong xã hội. Bên cạnh đó cần kết hợp giữa giáo dục kiến thức pháp luật và vận động, thuyết phục, xây dựng niềm tin, tình cảm của NLĐ đối với pháp luật, để từ đó nâng cao ý thức tìm hiểu, tuân thủ chấp hành pháp luật.

Thứ tư, đổi mới trong tư duy, cần PBGDPL theo hướng lấy NLĐ làm trung tâm, thực hiện PBGDPL về những nội dung NLĐ cần, chứ không phổ biến, giáo dục về những nội dung mà các chủ thể PBGDPL có. Đặc biệt, cần kịp thời nắm bắt các vấn đề nóng của NLĐ khi có vướng mắc về pháp luật để có thể tư vấn, cung cấp thông tin, tháo gỡ kịp thời.

Thứ năm, hàm lượng nội dung PBGDPL cần được thiết kế phù hợp với khả năng tiếp thu của NLĐ, tránh tình trạng quá tải kiến thức. Tăng cường việc theo dõi đánh giá hiệu quả PBGDPL thông qua đánh giá, tham khảo ý kiến nhận xét của NLĐ trước và sau các đợt PBGDPL.

2.2. Về hình thức giáo dục pháp luật cho người lao động

Một là, cần đa dạng hóa các hình thức GDPL, kết hợp các hình thức GDPL truyền thống như GDPL trong nhà trường, tuyên truyền trực tiếp, tài liệu pháp luật, phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh cơ sở, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, câu lạc bộ pháp luật… với các hình thức GDPL mới như đối thoại trực tuyến, thi tìm hiểu pháp luật trực tuyến, hỏi đáp pháp luật, giáo dục pháp luật trên cổng/trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong công tác này.

Hai là, thông qua các cuộc khảo sát, báo cáo, kiểm tra thực tế về thực trạng và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của NLĐ, thông qua phân tích các đặc điểm, điều kiện của NLĐ để các chủ thể lựa chọn hình thức PBGDPL phù hợp với NLĐ.

Ba là, phát huy các hình thức, mô hình hiệu quả trong GDPL cho người lao động như đối thoại chính sách, pháp luật, tư vấn pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, tuyên truyền miệng, các hình thức GDPL có ứng dụng công nghệ thông tin, trong đó xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về GDPL cho NLĐ. Nghiên cứu, sử dụng mạng xã hội để tăng cường các hoạt động truyền thông, GDPL để phù hợp với nhu cầu của NLĐ, tạo sự lan tỏa, kịp thời thu thập thông tin, nắm bắt nhu cầu và phản ứng của dư luận để có định hướng tương tác, điều chỉnh hoạt động GDPL cho phù hợp.

2.3. Về các nguồn lực đảm bảo

Thứ nhất, cần tinh gọn, chuyên nghiệp hóa đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo hướng củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng; tách bạch nhiệm vụ giữa đội ngũ công chức thực hiện PBGDPL với đội ngũ tác nghiệp trực tiếp PBGDPL, đảm bảo không chồng lấn về nhiệm vụ, tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của đội ngũ này. Định kỳ bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công đoàn, pháp chế, tư vấn viên pháp luật…; cung cấp tài liệu pháp luật, kỹ năng nghiệp vụ GDPL cho đội ngũ này. Thu hút đội ngũ luật sư, luật gia, những người công tác trong ngành pháp luật tham gia GDPL cho NLĐ.

Thứ hai, từ kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới cho thấy, cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ những người thực hiện công tác GDPL. Ở các nước trên thế giới, đội ngũ thực hiện công tác này đều là những người, những chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật, họ là luật sư, thẩm phán… Vì vậy, Việt Nam muốn thực hiện hiệu quả công tác GDPL nói chung và cho người lao động nói riêng trong thời gian tới, cần xây dựng, phát triển đội ngũ chuyên trách, kiêm nhiệm thực sự vững vàng, giỏi về kiến thức pháp luật và kỹ năng nghiệp vụ.

Thứ ba, cần có sự hài hòa về trách nhiệm GDPL cho NLĐ, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội và đặc biệt xác định rõ vai trò, trách nhiệm của doanh nghiệp, vấn đề này thuộc nội tại của từng doanh nghiệp. Vì vậy, đối với GDPL cho NLĐ, trước tiên là trách nhiệm của doanh nghiệp. Bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước, kinh phí từ doanh nghiệp và thu hút các nguồn kinh phí hợp pháp từ nhiều nguồn khác nhau trong xã hội tập trung GDPL cho NLĐ đi vào thực chất, hiệu quả.

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật



[1]. Báo cáo số 160-BC/ĐĐTLĐ ngày 14/8/2019 của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam về kết quả 15 năm thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: