Thứ ba 09/06/2026 03:36
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phân cấp tuyển dụng công chức giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp phân cấp về tuyển dụng công chức nhằm phát huy tính năng động,

Tóm tắt: Trong bài viết, tác giả tập trung phân tích một số vấn đề lý luận, thực trạng và đề xuất các giải pháp phân cấp về tuyển dụng công chức nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, đảm bảo sự quản lý tập trung, thống nhất và thông suốt của Chính phủ.

Abstract: This article focuses on analyzing some theoretical issues, the situation and proposing solutions of level arrangement in recruiting public servants with a view to promote flexibility, creativity, autonomy right, self-responsibility of local administrative agencies, to ensure the centralized, unified and clear administration of the Government.

1. Quan niệm phân cấp tuyển dụng công chức giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Theo quan niệm của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) thì: Phân cấp, phân quyền hay quản trị nhà nước liên quan đến việc tổ chức lại hay cơ cấu lại hệ thống đồng trách nhiệm giữa các cơ quan quản trị nhà nước ở các cấp (trung ương, vùng, địa phương) theo nguyên tắc phụ thuộc lẫn nhau nhằm tăng hiệu quả và chất lượng cũng như gia tăng quyền hạn và năng lực của chính quyền địa phương. Phân cấp, phân quyền hy vọng tăng những thành tố cơ bản của quản trị trong quyết định kinh tế, chính trị và xã hội, hỗ trợ phát triển năng lực của nhân dân, mở rộng trách nhiệm của Chính phủ, công khai và chịu trách nhiệm[1]. Phân cấp tạo sự thúc đẩy và cho phép cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tham gia trực tiếp vào vấn đề của địa phương vì lợi ích của cộng đồng.

GS.TS. Phạm Hồng Thái cho rằng: Phân cấp là việc phân công chức năng, phân định nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp hành chính, nếu nhìn từ chế độ quản lý thì bản chất của phân cấp là việc chuyển giao những nhiệm vụ, quyền hạn do mình nắm giữ cho cấp dưới thực hiện một cách thường xuyên, liên tục bằng phương thức ban hành văn bản quy phạm pháp luật, hoặc bằng cách chuyển cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn bằng các quyết định cụ thể[2]. Phân cấp về nhiệm vụ, quyền hạn cho từng cấp quản lý những công việc cụ thể.

Theo tác giả, phân cấp được hiểu dưới hai nghĩa cơ bản: (i) Phân cấp là sự phân định thẩm quyền quản lý giữa các cấp chính quyền; (ii) Phân cấp là sự chuyển giao nhiệm vụ, quyền hạn từ cấp chính quyền cấp trên cho cấp chính quyền cấp dưới. Theo đó, phân cấp tuyển dụng công chức giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương là việc cơ quan hành chính nhà nước trung ương chuyển giao cho cơ quan hành chính nhà nước địa phương thực hiện một cách thường xuyên, liên tục một hay một số nhiệm vụ, quyền hạn đối với các nội dung tuyển dụng công chức thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình bằng các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các quyết định nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính nhà nước.

Việc phân cấp tuyển dụng công chức nhằm phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo, dân chủ, thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường sự kiểm tra, giám sát các nội dung được phân cấp nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Thực trạng phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương ở nước ta hiện nay

2.1. Những kết quả đạt được

Về mặt thể chế, các quy định về phân công, phân cấp, phân quyền giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương đã từng bước được hoàn thiện. Việc phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước trung ương (Chính phủ, Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ) và cơ quan hành chính nhà nước địa phương (ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Nội vụ, Ủy ban nhân dân cấp huyện) đã được triển khai thực hiện cơ bản đầy đủ theo quy định pháp luật, đáp ứng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Phân cấp tuyển dụng công chức đã góp phần loại bỏ sự chồng chéo trong việc phân định các chức năng, nhiệm vụ của các cấp chính quyền, đảm bảo công khai, minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước.

Về phân cấp quản lý biên chế của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và các cơ quan hành chính nhà nước địa phương nhìn chung đều tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về quản lý biên chế (Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức).

Việc phân cấp về điều kiện tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hiện nay ở Việt Nam được quy định tại Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập… Một số địa phương ra quyết định về phân cấp thẩm quyền tuyển dụng công chức tại cơ quan hành chính nhà nước, áp dụng công nghệ thông tin trong tuyển dụng công chức đạt được kết quả đáng khích lệ. Công tác tuyển dụng công chức được thực hiện minh bạch, công khai.

Phân cấp về thẩm quyền tuyển dụng công chức cho cơ quan hành chính nhà nước địa phương đã thể hiện được tính năng động, sáng tạo của đội ngũ công chức ở địa phương theo quy định của Luật Cán bộ, công chức về tổ chức tuyển dụng công chức. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng để tổ chức việc tuyển dụng. Trường hợp không thành lập Hội đồng tuyển dụng, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng công chức giao bộ phận tổ chức cán bộ thực hiện.

2.2. Một số khó khăn, vướng mắc

- Về mặt thể chế: Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 chưa sử dụng đích danh cụm từ “phân cấp” hay “phân quyền” mà vẫn dùng khái niệm “quyết định các vấn đề của địa phương”, “được giao thực hiện một số nhiệm vụ” hay “phân định thẩm quyền”. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã bước đầu có quy định về việc phân cấp tuyển dụng công chức, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về việc phân cấp như thế nào mà hiện nay chỉ có quy định mang tính chất chung chung, do đó, việc triển khai cụ thể thực hiện phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương của Việt Nam hiện nay còn gặp những khó khăn nhất định.

- Trong việc xác định biên chế, nhu cầu tuyển dụng công chức: Việc xây dựng kế hoạch biên chế hằng năm ở các bộ, ngành, địa phương chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Kế hoạch biên chế công chức hàng năm của các bộ, ngành, địa phương gửi về Bộ Nội vụ luôn đề nghị tăng từ 9% - 11% so với số biên chế công chức giao của năm trước[3]. Vẫn còn tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu” và vẫn còn cơ chế “xin - cho” chưa phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của từng địa phương, chưa phát huy được hết các thế mạnh của địa phương và chưa phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Một số địa phương có trình độ phát triển, có ưu thế hơn các địa phương khác như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… có tỷ lệ dân số cao, do đó, một số cơ quan hành chính nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, Phòng Tư pháp, ủy ban nhân dân cấp phường…) quá tải trong việc thực thi các chức năng, nhiệm vụ theo các quy định của pháp luật, do vậy, biên chế không đủ nên không phát huy được hết các lợi thế, tiềm năng vốn có của địa phương.

- Phân cấp về điều kiện tuyển dụng: Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đã có quy định về các điều kiện cơ bản để tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Một số địa phương đưa ra các tiêu chuẩn đặc thù, chưa tương thích với các quy định của pháp luật. Ví dụ trong tuyển dụng công chức tại Đồng Nai, quy định điều kiện đăng ký dự tuyển là phải có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Đồng Nai[4]. Quy định phải có hộ khẩu thường trú tại địa phương mới đủ tiêu chuẩn tuyển dụng là không đúng với quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2008, thuộc các hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 2 Điều 8 Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013).

- Phân cấp trong việc tổ chức tuyển dụng công chức: Trong việc tổ chức thực hiện phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan hành chính nhà nước vẫn còn cơ chế “song trùng lãnh đạo” dẫn đến sự chồng chéo trong tổ chức quản lý và thực hiện việc phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Trong thực tiễn của Việt Nam hiện nay, đã có sự phân cấp cho chính quyền tỉnh nhưng các bộ, ngành trung ương vẫn nắm quyền kiểm soát (ví dụ như đã phân cấp tuyển dụng nhưng việc tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước vẫn cần phải có sự đồng ý của Bộ Nội vụ).

3. Giải pháp bảo đảm phân cấp tuyển dụng công chức giữa các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương

Thứ nhất, nâng cao nhận thức việc phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam

Phân cấp tuyển dụng công chức vẫn còn là một vấn đề tương đối mới mẻ trong khoa học pháp lý ở Việt Nam về cả mặt lý luận và thực tiễn. Khi thực hiện phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước cần phân tích rõ các đặc trưng của từng vùng, miền trong đơn vị hành chính lãnh thổ. Mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các cấp, các địa phương gần giống nhau, trong khi lại áp dụng cho các đơn vị hành chính - lãnh thổ rất khác nhau (miền núi, hải đảo...) nên chính quyền địa phương khó hoạt động hiệu quả, chưa phát huy được thế mạnh của mỗi địa phương, làm hạn chế tính đa dạng trong sự phát triển của các địa phương. Thực tế cho thấy, mô hình tổ chức chính quyền địa phương ở các địa bàn khác nhau thì phải khác nhau; không thể có một mô hình thống nhất cho đồng bằng, miền núi, hải đảo hay vùng biển. Tương tự như vậy, không phải địa phương nào, tỉnh nào cũng được phân cấp, phân quyền như nhau, bởi điều này còn phụ thuộc vào điều kiện, khả năng thực hiện ở mỗi địa phương. Chính quyền đô thị sẽ được phân cấp những mảng công việc phù hợp với khả năng của chính quyền đô thị và không giống với chính quyền nông thôn hay miền núi, hải đảo. Như vậy, sẽ khó có một mô hình phân cấp, phân quyền chung cho mọi chính quyền địa phương[5]. Bên cạnh đó, cần phải phân tích, đánh giá thực trạng việc phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương để phát hiện ra các điểm chưa phù hợp để điều chỉnh.

Thứ hai, rà soát, đánh giá, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

- Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cụ thể là Bộ Nội vụ cần tập trung làm những việc mang tầm vĩ mô, các hoạt động cốt lõi, có tầm quan trọng đối với sự phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động phân cấp tuyển dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước. Thực hiện chuyển giao một số thẩm quyền của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương cho các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và các tổ chức dưới các hình thức đa dạng như ủy quyền, phân cấp, xã hội hóa.

- Bổ sung quy định, trao quyền nhiều hơn cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xem xét không qua thi tuyển đối với những trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức.

- Cần sửa đổi, bổ sung các quy định về công tác tuyển dụng, thu hút nhân tài (các điều từ Điều 35 đến Điều 41 Luật Cán bộ, công chức năm 2008).

- Cần quy định rõ ràng, cụ thể hơn về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương với cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương trong việc phê duyệt kế hoạch tuyển dụng, ra quyết định tuyển dụng…

- Đảm bảo thống nhất, tập trung, thông suốt của Chính phủ trong việc thực hiện phân cấp tuyển dụng công chức giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương và có sự phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp trong việc phân cấp tuyển dụng công chức.

Thứ ba, nâng cao năng lực của chủ thể được phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước

Việc phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương phải trên cơ sở chính quyền địa phương bảo đảm được năng lực, điều kiện để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn đã được phân quyền, phân cấp và chịu trách nhiệm trong phạm vi được phân quyền, phân cấp. Rõ ràng, không thể phân cấp, phân quyền cho chính quyền địa phương những việc mà bộ máy này không thể thực hiện được, vì như vậy sẽ làm mất đi tính hiệu lực, hiệu quả của nền công vụ. Việc lựa chọn chủ thể quản lý phải xuất phát từ tiêu chí hiệu quả, có nghĩa là cấp nào có khả năng đạt được mục tiêu, chất lượng và yêu cầu quản lý với chi phí ít nhất và thời gian ngắn nhất thì nên giao nhiệm vụ tương ứng cho cấp đó[6]. Quy định chặt chẽ hơn về trách nhiệm pháp lý của người làm phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước hướng tới chuyên nghiệp hóa những tổ chức và công chức làm công tác tuyển dụng.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, giám sát việc phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước

Nâng cao công tác thanh tra, kiểm tra trong quá trình phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương. Tổ chức thực hiện việc phân cấp, phân quyền trong các cơ quan hành chính nhà nước gắn với sự thanh tra, kiểm tra theo định kỳ và hàng năm tại các cơ quan hành chính nhà nước, từ đó có những kiến nghị kịp thời để điều chỉnh, bổ sung các nhiệm vụ đảm bảo hiệu quả, đúng quy định của pháp luật. Cần đưa ra các chế tài nghiêm khắc đối với các công chức hay cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định về phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước. Bởi lẽ, với các quy định hiện nay về các biện pháp xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe các chủ thể vi phạm pháp luật về phân cấp tuyển dụng công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước.

Đảng và Nhà nước ta nhất quán chủ trương phân cấp tuyển dụng công chức của các cơ quan hành chính nhà nước trung ương và cơ quan hành chính nhà nước địa phương. Thực hiện quản lý nhà nước thống nhất, thông suốt từ trung ương đến địa phương, bảo đảm Chính phủ quản lý thống nhất về thể chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, thanh tra, kiểm tra. Tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ, phân định rõ những nhiệm vụ quản lý nhà nước của bộ, ngành với nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với các hoạt động kinh tế - xã hội trên địa bàn lãnh thổ, đảm bảo tính tự chủ, độc lập của các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương nhằm xây dựng đội ngũ công chức toàn tâm, toàn trí phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội của nước ta.

TS. Trần Thị Hải Yến

Học viện Hành chính Quốc gia





[1]. UNDP, Decentralized Governance Programme: Strengthening capacity for people - Centered Development, Management Development and Governance Division, Bureau for Development Policy, September 1997, tr. 67.

[2]. Phân cấp quản lý nhà nước, GS.TS. Phạm Hồng Thái, GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Nguyễn Ngọc Chí (đồng chủ biên), 2011, Nxb. Công an nhân dân, tr. 10.

[3]. Báo cáo tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức của Bộ Nội vụ, tr. 5.

[4]. http://thanhtra.com.vn/thanh-tra/sau-thanh-tra/dong-nai-con-nhieu-sai-pham-trong-tuyen-dung-cong-chuc-vien-chuc_t114c1142n144068.

[5]. Phân cấp, phân quyền giữa trung ương và địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Khóa XII, tham khảo tại: http://tcnn.vn/news/detail/43267/Phan-cap-phan-quyen-giua-Trung-uong-va-dia-phuong-theo-tinh-than-Nghi-quyet-so-18%E2%80%93NQTW-Hoi-nghi-Trung-uong-lan-thu-6-Khoa-XII.html.

[6]. Phân cấp, phân quyền giữa Trung ương và địa phương theo tinh thần Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị Trung ương lần thứ 6, Khóa XII, tham khảo tại: http://tcnn.vn/news/detail/43267/Phan-cap-phan-quyen-giua-Trung-uong-va-dia-phuong-theo-tinh-than-Nghi-quyet-so-18%E2%80%93NQTW-Hoi-nghi-Trung-uong-lan-thu-6-Khoa-XII.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: