Thứ bảy 13/12/2025 14:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật của Phần Lan về hòa giải trong vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện quy định về hòa giải tại cộng đồng trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Phần Lan là nước duy nhất trong bốn nước Bắc Âu có thể chế chính trị cộng hòa, có tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, phát triển, mức thu nhập bình quân cao (GDP 36.500 USD/người). Các quy định về hòa giải thường được quy định trong Đạo luật về dân sự hoặc hình sự của các quốc gia, tuy nhiên, Phần Lan là một trong một số ít trong số các nước ban hành một đạo luật riêng về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự.

Năm 2005, Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự được ban hành (sau đây gọi tắt là Đạo luật) và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006. Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự gồm 04 chương, 26 Mục, cụ thể: Chương 1 về Những quy định chung; Chương 2 về Thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí; Chương 3 về Thủ tục hòa giải và Chương 4 về Các điều khoản khác.

1. Một số quy định cụ thể của Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự của Phần Lan

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Đoạn 1 Mục 1 của Đạo luật này quy định về phạm vi điều chỉnh của hòa giải trong vụ án hình sự. Theo đó, hòa giải trong vụ án hình sự được hiểu là dịch vụ không thu phí, trong đó, nghi phạm và nạn nhân được tạo cơ hội để gặp riêng thông qua cơ quan hòa giải độc lập để trao đổi, thảo luận về thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần gây ra bởi nghi phạm trong vụ án và chủ động thỏa thuận về phương thức bồi thường thiệt hại.

1.2. Về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải

Mục 2 Đạo luật quy định về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải trong vụ án hình sự. Cụ thể, việc hòa giải được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, chỉ được thực hiện bởi các bên có tư cách pháp nhân và tự nguyện, thiện chí trong việc hòa giải và có khả năng hiểu được ý nghĩa của việc hòa giải và các giải pháp được đưa ra trong quá trình hòa giải. Trước khi các bên đồng ý hòa giải, các bên phải được giải thích về quyền của họ về hòa giải và địa chỉ của họ trong quá trình hòa giải. Các bên đều có quyền rút hòa giải tại bất cứ thời điểm nào của quá trình hòa giải.

Thứ hai, người chưa thành niên phải tự mình thể hiện sự nhất trí đối với việc hòa giải. Ngoài ra, việc tham dự của người chưa thành niên trong quá trình hòa giải yêu cầu phải có người giám hộ của người chưa thành niên đó hoặc người đại diện hợp pháp khác đồng ý với việc hòa giải. Người bị hạn chế năng lực hành vi có thể được tham gia quá trình hòa giải nếu người đó hiểu được ý nghĩa của vụ án và đưa ra ý kiến cá nhân để hòa giải.

1.3. Về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí

Chương 2 của Đạo luật quy định về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí. Theo đó, đối với việc hòa giải trong các vụ án hình sự và dân sự nói chung, Chính phủ giao thẩm quyền cho Bộ Y tế và Xã hội trong việc quản lý, giám sát và kiểm tra dịch vụ hòa giải. Đối với việc hòa giải trong vụ án hình sự, Chính phủ giao nhiệm vụ này cho Ủy ban Tư vấn về hòa giải trong vụ án hình sự với thời hạn là 03 năm kể từ ngày Chính phủ giao nhiệm vụ và nằm trong sự bảo trợ của Bộ Y tế và Xã hội. Đồng thời, nghĩa vụ cung cấp dịch vụ hòa giải được giao cho các chính quyền ở các tỉnh, thành phố thực hiện và phải bảo đảm việc hòa giải được thực hiện theo hình thức thống nhất tại tất cả các cơ quan trên địa phương.

Bên cạnh việc quy định về các cơ quan có thẩm quyền cung cấp dịch vụ hòa giải trong vụ án hình sự như đã nêu trên, Chương 2 của Đạo luật còn quy định về hình thức và nội dung của Hợp đồng hòa giải (Mục 9 của Đạo luật); yêu cầu về năng lực đối với người được giao thực hiện dịch vụ hòa giải (Mục 10 và 11 của Đạo luật); bồi thường chi phí cho ngân sách nhà nước (Mục 12 của Đạo luật).

1.4. Trình tự hòa giải

Trình tự, thủ tục hòa giải là một trong những nội dung quan trọng của Đạo luật, được quy định tại Chương 3 với 7 Mục, với các nội dung chính như sau:

- Bắt đầu việc hòa giải

Theo quy định tại Mục 13 của Đạo luật thì việc hòa giải được tiến hành với sự tham gia của nghi phạm, nạn nhân, công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố hoặc cơ quan có thẩm quyền khác. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân là người chưa thành niên thì người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp khác của họ có quyền tham gia hòa giải. Trường hợp phải có sự tham gia của người bị hạn chế năng lực hành vi thì người quản lý tài sản của họ cũng phải tham gia hòa giải. Tuy nhiên, chỉ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố có quyền tiến hành hòa giải trong trường hợp tội phạm có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Khi công an và người có thẩm quyền khởi tố tiếp cận vụ án mà thấy rằng vụ án đủ yếu tố để hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất mục 2 của Đạo luật thì phải thông báo cho nghi phạm và nạn nhân của vụ án về khả năng hòa giải của vụ án, trừ trường hợp vụ án có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân của vụ án là người chưa thành niên thì thông báo về khả năng hòa giải phải được thông tin đến người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp của họ. Đối với trường hợp vụ án có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành vi thì thông tin về khả năng hòa giải của vụ án phải được gửi đến đồng thời người bị hạn chế năng lực hành vi và người quản lý tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi.

- Về địa điểm hòa giải

Việc hòa giải phải được thực hiện tại một trong các địa điểm sau đây:

Thứ nhất, đề nghị có liên quan đến hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải nơi mà người đề nghị sinh sống, nơi đề nghị thực hiện hòa giải phải phù hợp để thực hiện việc hòa giải và phù hợp với điều kiện của các bên. Địa điểm hòa giải cũng có thể được thực hiện tại địa điểm mà vụ án diễn ra.

Thứ hai, các bên có quyền đề trình yêu cầu có liên quan đến hòa giải đến các cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nơi họ cư trú. Khi cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nhận được yêu cầu mà không giải quyết thì cơ quan đó có trách nhiệm chuyển ngay vụ án đó đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất nêu trên.

Thứ ba, trường hợp không có sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền hòa giải về vấn đề quyết định cơ quan nào là cơ quan thực hiện hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất của mục này thì việc hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải mà cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương về hòa giải quyết định, trừ trường hợp cơ quan hòa giải nằm trong cùng địa phương với cơ quan hòa giải tại địa phương. Trường hợp cơ quan hòa giải khác tỉnh với cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương thì quyết định sẽ được đưa ra bởi Bộ Y tế và Xã hội.

- Xác minh các điều kiện để hòa giải và quyết định hòa giải

Trước khi quyết định bắt đầu hòa giải, cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải bảo đảm rằng các điều kiện để hòa giải phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải như đã nêu tại Mục 2 Phần I của bài viết này; đồng thời, phải phù hợp với vụ án được hòa giải. Nếu vụ án có liên quan đến vụ án dân sự thì cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải đánh giá tính thiết thực của vụ án trong việc sử dụng cơ chế hòa giải. Người có thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền hòa giải sẽ quyết định việc có chấp nhận việc hòa giải hay không.

- Nghĩa vụ của cơ quan hòa giải trong việc quá trình hòa giải

Mục 16 của Đạo luật quy định cơ quan có thẩm quyền hòa giải khi xét thấy vụ việc có thể hòa giải theo quy định của Đạo luật, sẽ phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, chỉ định một hòa giải viên để tiến hành hòa giải. Người được chỉ định phải đáp ứng một số yêu cầu như có kinh nghiệm trong lĩnh vực được chỉ định hòa giải và cá nhân có tư cách phù hợp và không trái với các quy định về nhân thân quy định tại Đạo luật về Thủ tục hành chính (434/2003);

Thứ hai, trên cơ sở thỏa thuận của các bên, thu thập các hồ sơ cần thiết từ công an, cơ quan có thẩm quyền khác, Tòa án và các bên về việc hòa giải;

Thứ ba, bảo đảm việc dịch hoặc giải thích các nội dung hòa giải trong trường hợp bên tham gia hòa giải không hiểu được ngôn ngữ, thiểu năng về ngôn ngữ hoặc vì một lý do nào đó không hiểu được nội dung thảo luận trong quá trình hòa giải;

Thứ tư, sau khi hòa giải, thông báo cho công an và cơ quan có thẩm quyền về quá trình hòa giải, kết quả hòa giải, kể cả trong trường hợp có các điều khoản bảo mật.

- Nghĩa vụ của hòa giải viên

Đạo luật quy định cụ thể về các nghĩa vụ mà hòa giải viên phải thực hiện khi hòa giải vụ việc. Theo đó, Mục 18 của Đạo luật thì hòa giải viên có các nghĩa vụ: dàn xếp buổi hòa giải giữa các bên; không thành kiến và tôn trọng các bên khi tiến hành hòa giải; giúp các bên tìm được giải pháp thống nhất liên quan đến vụ việc để bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần mà nạn nhân phải chịu bởi tội phạm; cung cấp thông tin tư vấn pháp lý cho các bên và các dịch vụ khác; soạn thảo văn bản thể hiện thỏa thuận giữa các bên trong quá trình hòa giải và xác nhận bằng chữ ký. Sau khi hòa giải, hòa giải viên có trách nhiệm trình báo cáo về kết quả của quá trình hòa giải đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương.

1.5. Khởi kiện

Tại Chương 4 của Đạo luật quy định về việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến các thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải và quyền khởi kiện. Theo đó, các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng hòa giải đã được thực hiện theo Đạo luật thì được giải quyết tại Tòa hành chính như đã được quy định trong Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan (586/1996). Quyền khởi kiện đối với quyết định của cơ quan chính quyền địa phương hoặc Bộ Y tế và Xã hội theo quy định về khoản 3 Mục 14 của Đạo luật, như đã nêu tại ý thứ ba mục 3.2 phần I của bài nghiên cứu này, hoặc hòa giải tại các cơ quan theo quy định của Đạo luật thì Tòa hành chính có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan. Như vậy, theo quy định về khởi kiện và quyền khởi kiện, các bên tham gia hòa giải đều có quyền khởi kiện đối với thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải cũng như văn bản thể hiện ý chí của việc hòa giải giữa các bên. Đồng thời, Đạo luật cũng cho phép các cơ quan có thẩm quyền hòa giải được phép tiếp cận các tài liệu cần thiết để thực hiện việc hòa giải từ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố và tòa án.

2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hòa giải tại cộng đồng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện

BLHS năm 2015 có 02 điều quy định về nội dung này là các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) và hòa giải tại cộng đồng (Điều 94). Để có thể thực hiện chế định này trong thực tiễn, tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, Điều 92 BLHS năm 2015 quy định điều kiện áp dụng là “người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này”. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, để bảo đảm tính khả thi, ngoài điều kiện nêu trên, cần bổ sung thêm một điều kiện là “có sự đồng ý của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Kinh nghiệm nước ngoài cũng quy định điều kiện để hòa giải là có sự đồng ý từ các bên (Mục 2 Đạo luật hòa giải vụ án hình sự tại Phần Lan).

Thứ hai, còn tồn tại sự chưa thống nhất giữa quy định tại Điều 91 và Điều 94 BLHS năm 2015. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng” được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 lại loại trừ một số tội không áp dụng biện pháp này như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141)… Do đó, để thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91, tác giả cho rằng, cần chỉnh lý lại điểm a khoản 1 Điều 94 theo hướng “Ḥa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này”.

Thứ ba, cân nhắc bổ sung quy định về thời điểm tổ chức hòa giải tại cộng đồng. Khoản 2 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự”. Để xác định rõ thời điểm biện pháp hòa giải tại cộng đồng được thực hiện, tác giả cho rằng, cần quy định bổ sung “sau khi có quyết định miễn trách nhiệm hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng”.

Thịnh Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.
Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Trách nhiệm pháp lý của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

Tóm tắt: Bài viết phân tích, làm rõ khái niệm người có ảnh hưởng, tình hình thực tiễn về mô hình quảng cáo thông qua người có ảnh hưởng và các hành vi quảng cáo gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của người có ảnh hưởng trong hoạt động quảng cáo nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới với những yêu cầu đặt ra về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng như yêu cầu tháo gỡ những “điểm nghẽn”, “nút thắt” có nguyên nhân từ quy định của pháp luật hiện nay, việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về thi hành án dân sự nói riêng là cấp thiết, đặc biệt, dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi) dự kiến được Quốc hội khóa XV thông qua tại kỳ họp thứ 10 vào tháng 10/2025. Trước bối cảnh đó, với vai trò là trụ cột, là nguồn lực chủ yếu để xây dựng và phát triển lực lượng sản xuất mới, đồng thời là đội ngũ tiên phong tham gia các lĩnh vực mới, thanh niên ngành thi hành án dân sự cần tiếp tục phát huy vai trò và trách nhiệm trong việc tham gia vào công tác hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự.

Theo dõi chúng tôi trên: