Chủ nhật 15/03/2026 01:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật của Phần Lan về hòa giải trong vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện quy định về hòa giải tại cộng đồng trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Phần Lan là nước duy nhất trong bốn nước Bắc Âu có thể chế chính trị cộng hòa, có tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, phát triển, mức thu nhập bình quân cao (GDP 36.500 USD/người). Các quy định về hòa giải thường được quy định trong Đạo luật về dân sự hoặc hình sự của các quốc gia, tuy nhiên, Phần Lan là một trong một số ít trong số các nước ban hành một đạo luật riêng về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự.

Năm 2005, Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự được ban hành (sau đây gọi tắt là Đạo luật) và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006. Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự gồm 04 chương, 26 Mục, cụ thể: Chương 1 về Những quy định chung; Chương 2 về Thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí; Chương 3 về Thủ tục hòa giải và Chương 4 về Các điều khoản khác.

1. Một số quy định cụ thể của Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự của Phần Lan

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Đoạn 1 Mục 1 của Đạo luật này quy định về phạm vi điều chỉnh của hòa giải trong vụ án hình sự. Theo đó, hòa giải trong vụ án hình sự được hiểu là dịch vụ không thu phí, trong đó, nghi phạm và nạn nhân được tạo cơ hội để gặp riêng thông qua cơ quan hòa giải độc lập để trao đổi, thảo luận về thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần gây ra bởi nghi phạm trong vụ án và chủ động thỏa thuận về phương thức bồi thường thiệt hại.

1.2. Về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải

Mục 2 Đạo luật quy định về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải trong vụ án hình sự. Cụ thể, việc hòa giải được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, chỉ được thực hiện bởi các bên có tư cách pháp nhân và tự nguyện, thiện chí trong việc hòa giải và có khả năng hiểu được ý nghĩa của việc hòa giải và các giải pháp được đưa ra trong quá trình hòa giải. Trước khi các bên đồng ý hòa giải, các bên phải được giải thích về quyền của họ về hòa giải và địa chỉ của họ trong quá trình hòa giải. Các bên đều có quyền rút hòa giải tại bất cứ thời điểm nào của quá trình hòa giải.

Thứ hai, người chưa thành niên phải tự mình thể hiện sự nhất trí đối với việc hòa giải. Ngoài ra, việc tham dự của người chưa thành niên trong quá trình hòa giải yêu cầu phải có người giám hộ của người chưa thành niên đó hoặc người đại diện hợp pháp khác đồng ý với việc hòa giải. Người bị hạn chế năng lực hành vi có thể được tham gia quá trình hòa giải nếu người đó hiểu được ý nghĩa của vụ án và đưa ra ý kiến cá nhân để hòa giải.

1.3. Về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí

Chương 2 của Đạo luật quy định về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí. Theo đó, đối với việc hòa giải trong các vụ án hình sự và dân sự nói chung, Chính phủ giao thẩm quyền cho Bộ Y tế và Xã hội trong việc quản lý, giám sát và kiểm tra dịch vụ hòa giải. Đối với việc hòa giải trong vụ án hình sự, Chính phủ giao nhiệm vụ này cho Ủy ban Tư vấn về hòa giải trong vụ án hình sự với thời hạn là 03 năm kể từ ngày Chính phủ giao nhiệm vụ và nằm trong sự bảo trợ của Bộ Y tế và Xã hội. Đồng thời, nghĩa vụ cung cấp dịch vụ hòa giải được giao cho các chính quyền ở các tỉnh, thành phố thực hiện và phải bảo đảm việc hòa giải được thực hiện theo hình thức thống nhất tại tất cả các cơ quan trên địa phương.

Bên cạnh việc quy định về các cơ quan có thẩm quyền cung cấp dịch vụ hòa giải trong vụ án hình sự như đã nêu trên, Chương 2 của Đạo luật còn quy định về hình thức và nội dung của Hợp đồng hòa giải (Mục 9 của Đạo luật); yêu cầu về năng lực đối với người được giao thực hiện dịch vụ hòa giải (Mục 10 và 11 của Đạo luật); bồi thường chi phí cho ngân sách nhà nước (Mục 12 của Đạo luật).

1.4. Trình tự hòa giải

Trình tự, thủ tục hòa giải là một trong những nội dung quan trọng của Đạo luật, được quy định tại Chương 3 với 7 Mục, với các nội dung chính như sau:

- Bắt đầu việc hòa giải

Theo quy định tại Mục 13 của Đạo luật thì việc hòa giải được tiến hành với sự tham gia của nghi phạm, nạn nhân, công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố hoặc cơ quan có thẩm quyền khác. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân là người chưa thành niên thì người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp khác của họ có quyền tham gia hòa giải. Trường hợp phải có sự tham gia của người bị hạn chế năng lực hành vi thì người quản lý tài sản của họ cũng phải tham gia hòa giải. Tuy nhiên, chỉ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố có quyền tiến hành hòa giải trong trường hợp tội phạm có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Khi công an và người có thẩm quyền khởi tố tiếp cận vụ án mà thấy rằng vụ án đủ yếu tố để hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất mục 2 của Đạo luật thì phải thông báo cho nghi phạm và nạn nhân của vụ án về khả năng hòa giải của vụ án, trừ trường hợp vụ án có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân của vụ án là người chưa thành niên thì thông báo về khả năng hòa giải phải được thông tin đến người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp của họ. Đối với trường hợp vụ án có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành vi thì thông tin về khả năng hòa giải của vụ án phải được gửi đến đồng thời người bị hạn chế năng lực hành vi và người quản lý tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi.

- Về địa điểm hòa giải

Việc hòa giải phải được thực hiện tại một trong các địa điểm sau đây:

Thứ nhất, đề nghị có liên quan đến hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải nơi mà người đề nghị sinh sống, nơi đề nghị thực hiện hòa giải phải phù hợp để thực hiện việc hòa giải và phù hợp với điều kiện của các bên. Địa điểm hòa giải cũng có thể được thực hiện tại địa điểm mà vụ án diễn ra.

Thứ hai, các bên có quyền đề trình yêu cầu có liên quan đến hòa giải đến các cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nơi họ cư trú. Khi cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nhận được yêu cầu mà không giải quyết thì cơ quan đó có trách nhiệm chuyển ngay vụ án đó đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất nêu trên.

Thứ ba, trường hợp không có sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền hòa giải về vấn đề quyết định cơ quan nào là cơ quan thực hiện hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất của mục này thì việc hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải mà cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương về hòa giải quyết định, trừ trường hợp cơ quan hòa giải nằm trong cùng địa phương với cơ quan hòa giải tại địa phương. Trường hợp cơ quan hòa giải khác tỉnh với cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương thì quyết định sẽ được đưa ra bởi Bộ Y tế và Xã hội.

- Xác minh các điều kiện để hòa giải và quyết định hòa giải

Trước khi quyết định bắt đầu hòa giải, cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải bảo đảm rằng các điều kiện để hòa giải phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải như đã nêu tại Mục 2 Phần I của bài viết này; đồng thời, phải phù hợp với vụ án được hòa giải. Nếu vụ án có liên quan đến vụ án dân sự thì cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải đánh giá tính thiết thực của vụ án trong việc sử dụng cơ chế hòa giải. Người có thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền hòa giải sẽ quyết định việc có chấp nhận việc hòa giải hay không.

- Nghĩa vụ của cơ quan hòa giải trong việc quá trình hòa giải

Mục 16 của Đạo luật quy định cơ quan có thẩm quyền hòa giải khi xét thấy vụ việc có thể hòa giải theo quy định của Đạo luật, sẽ phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, chỉ định một hòa giải viên để tiến hành hòa giải. Người được chỉ định phải đáp ứng một số yêu cầu như có kinh nghiệm trong lĩnh vực được chỉ định hòa giải và cá nhân có tư cách phù hợp và không trái với các quy định về nhân thân quy định tại Đạo luật về Thủ tục hành chính (434/2003);

Thứ hai, trên cơ sở thỏa thuận của các bên, thu thập các hồ sơ cần thiết từ công an, cơ quan có thẩm quyền khác, Tòa án và các bên về việc hòa giải;

Thứ ba, bảo đảm việc dịch hoặc giải thích các nội dung hòa giải trong trường hợp bên tham gia hòa giải không hiểu được ngôn ngữ, thiểu năng về ngôn ngữ hoặc vì một lý do nào đó không hiểu được nội dung thảo luận trong quá trình hòa giải;

Thứ tư, sau khi hòa giải, thông báo cho công an và cơ quan có thẩm quyền về quá trình hòa giải, kết quả hòa giải, kể cả trong trường hợp có các điều khoản bảo mật.

- Nghĩa vụ của hòa giải viên

Đạo luật quy định cụ thể về các nghĩa vụ mà hòa giải viên phải thực hiện khi hòa giải vụ việc. Theo đó, Mục 18 của Đạo luật thì hòa giải viên có các nghĩa vụ: dàn xếp buổi hòa giải giữa các bên; không thành kiến và tôn trọng các bên khi tiến hành hòa giải; giúp các bên tìm được giải pháp thống nhất liên quan đến vụ việc để bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần mà nạn nhân phải chịu bởi tội phạm; cung cấp thông tin tư vấn pháp lý cho các bên và các dịch vụ khác; soạn thảo văn bản thể hiện thỏa thuận giữa các bên trong quá trình hòa giải và xác nhận bằng chữ ký. Sau khi hòa giải, hòa giải viên có trách nhiệm trình báo cáo về kết quả của quá trình hòa giải đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương.

1.5. Khởi kiện

Tại Chương 4 của Đạo luật quy định về việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến các thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải và quyền khởi kiện. Theo đó, các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng hòa giải đã được thực hiện theo Đạo luật thì được giải quyết tại Tòa hành chính như đã được quy định trong Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan (586/1996). Quyền khởi kiện đối với quyết định của cơ quan chính quyền địa phương hoặc Bộ Y tế và Xã hội theo quy định về khoản 3 Mục 14 của Đạo luật, như đã nêu tại ý thứ ba mục 3.2 phần I của bài nghiên cứu này, hoặc hòa giải tại các cơ quan theo quy định của Đạo luật thì Tòa hành chính có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan. Như vậy, theo quy định về khởi kiện và quyền khởi kiện, các bên tham gia hòa giải đều có quyền khởi kiện đối với thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải cũng như văn bản thể hiện ý chí của việc hòa giải giữa các bên. Đồng thời, Đạo luật cũng cho phép các cơ quan có thẩm quyền hòa giải được phép tiếp cận các tài liệu cần thiết để thực hiện việc hòa giải từ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố và tòa án.

2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hòa giải tại cộng đồng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện

BLHS năm 2015 có 02 điều quy định về nội dung này là các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) và hòa giải tại cộng đồng (Điều 94). Để có thể thực hiện chế định này trong thực tiễn, tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, Điều 92 BLHS năm 2015 quy định điều kiện áp dụng là “người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này”. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, để bảo đảm tính khả thi, ngoài điều kiện nêu trên, cần bổ sung thêm một điều kiện là “có sự đồng ý của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Kinh nghiệm nước ngoài cũng quy định điều kiện để hòa giải là có sự đồng ý từ các bên (Mục 2 Đạo luật hòa giải vụ án hình sự tại Phần Lan).

Thứ hai, còn tồn tại sự chưa thống nhất giữa quy định tại Điều 91 và Điều 94 BLHS năm 2015. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng” được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 lại loại trừ một số tội không áp dụng biện pháp này như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141)… Do đó, để thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91, tác giả cho rằng, cần chỉnh lý lại điểm a khoản 1 Điều 94 theo hướng “Ḥa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này”.

Thứ ba, cân nhắc bổ sung quy định về thời điểm tổ chức hòa giải tại cộng đồng. Khoản 2 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự”. Để xác định rõ thời điểm biện pháp hòa giải tại cộng đồng được thực hiện, tác giả cho rằng, cần quy định bổ sung “sau khi có quyết định miễn trách nhiệm hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng”.

Thịnh Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: