Thứ năm 25/06/2026 04:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật của Phần Lan về hòa giải trong vụ án hình sự và kiến nghị hoàn thiện quy định về hòa giải tại cộng đồng trong Bộ luật Hình sự năm 2015

Phần Lan là nước duy nhất trong bốn nước Bắc Âu có thể chế chính trị cộng hòa, có tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ổn định, phát triển, mức thu nhập bình quân cao (GDP 36.500 USD/người). Các quy định về hòa giải thường được quy định trong Đạo luật về dân sự hoặc hình sự của các quốc gia, tuy nhiên, Phần Lan là một trong một số ít trong số các nước ban hành một đạo luật riêng về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự.

Năm 2005, Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự được ban hành (sau đây gọi tắt là Đạo luật) và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006. Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự và dân sự gồm 04 chương, 26 Mục, cụ thể: Chương 1 về Những quy định chung; Chương 2 về Thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí; Chương 3 về Thủ tục hòa giải và Chương 4 về Các điều khoản khác.

1. Một số quy định cụ thể của Đạo luật về hòa giải trong vụ án hình sự của Phần Lan

1.1. Về phạm vi điều chỉnh

Đoạn 1 Mục 1 của Đạo luật này quy định về phạm vi điều chỉnh của hòa giải trong vụ án hình sự. Theo đó, hòa giải trong vụ án hình sự được hiểu là dịch vụ không thu phí, trong đó, nghi phạm và nạn nhân được tạo cơ hội để gặp riêng thông qua cơ quan hòa giải độc lập để trao đổi, thảo luận về thiệt hại vật chất và thiệt hại về tinh thần gây ra bởi nghi phạm trong vụ án và chủ động thỏa thuận về phương thức bồi thường thiệt hại.

1.2. Về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải

Mục 2 Đạo luật quy định về các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải trong vụ án hình sự. Cụ thể, việc hòa giải được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, chỉ được thực hiện bởi các bên có tư cách pháp nhân và tự nguyện, thiện chí trong việc hòa giải và có khả năng hiểu được ý nghĩa của việc hòa giải và các giải pháp được đưa ra trong quá trình hòa giải. Trước khi các bên đồng ý hòa giải, các bên phải được giải thích về quyền của họ về hòa giải và địa chỉ của họ trong quá trình hòa giải. Các bên đều có quyền rút hòa giải tại bất cứ thời điểm nào của quá trình hòa giải.

Thứ hai, người chưa thành niên phải tự mình thể hiện sự nhất trí đối với việc hòa giải. Ngoài ra, việc tham dự của người chưa thành niên trong quá trình hòa giải yêu cầu phải có người giám hộ của người chưa thành niên đó hoặc người đại diện hợp pháp khác đồng ý với việc hòa giải. Người bị hạn chế năng lực hành vi có thể được tham gia quá trình hòa giải nếu người đó hiểu được ý nghĩa của vụ án và đưa ra ý kiến cá nhân để hòa giải.

1.3. Về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí

Chương 2 của Đạo luật quy định về thỏa thuận hòa giải và bồi thường chi phí. Theo đó, đối với việc hòa giải trong các vụ án hình sự và dân sự nói chung, Chính phủ giao thẩm quyền cho Bộ Y tế và Xã hội trong việc quản lý, giám sát và kiểm tra dịch vụ hòa giải. Đối với việc hòa giải trong vụ án hình sự, Chính phủ giao nhiệm vụ này cho Ủy ban Tư vấn về hòa giải trong vụ án hình sự với thời hạn là 03 năm kể từ ngày Chính phủ giao nhiệm vụ và nằm trong sự bảo trợ của Bộ Y tế và Xã hội. Đồng thời, nghĩa vụ cung cấp dịch vụ hòa giải được giao cho các chính quyền ở các tỉnh, thành phố thực hiện và phải bảo đảm việc hòa giải được thực hiện theo hình thức thống nhất tại tất cả các cơ quan trên địa phương.

Bên cạnh việc quy định về các cơ quan có thẩm quyền cung cấp dịch vụ hòa giải trong vụ án hình sự như đã nêu trên, Chương 2 của Đạo luật còn quy định về hình thức và nội dung của Hợp đồng hòa giải (Mục 9 của Đạo luật); yêu cầu về năng lực đối với người được giao thực hiện dịch vụ hòa giải (Mục 10 và 11 của Đạo luật); bồi thường chi phí cho ngân sách nhà nước (Mục 12 của Đạo luật).

1.4. Trình tự hòa giải

Trình tự, thủ tục hòa giải là một trong những nội dung quan trọng của Đạo luật, được quy định tại Chương 3 với 7 Mục, với các nội dung chính như sau:

- Bắt đầu việc hòa giải

Theo quy định tại Mục 13 của Đạo luật thì việc hòa giải được tiến hành với sự tham gia của nghi phạm, nạn nhân, công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố hoặc cơ quan có thẩm quyền khác. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân là người chưa thành niên thì người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp khác của họ có quyền tham gia hòa giải. Trường hợp phải có sự tham gia của người bị hạn chế năng lực hành vi thì người quản lý tài sản của họ cũng phải tham gia hòa giải. Tuy nhiên, chỉ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố có quyền tiến hành hòa giải trong trường hợp tội phạm có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Khi công an và người có thẩm quyền khởi tố tiếp cận vụ án mà thấy rằng vụ án đủ yếu tố để hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất mục 2 của Đạo luật thì phải thông báo cho nghi phạm và nạn nhân của vụ án về khả năng hòa giải của vụ án, trừ trường hợp vụ án có liên quan đến vi phạm được gây ra trực tiếp bởi vợ chồng, con cái, bố mẹ hoặc bởi những người có mối quan hệ thân thiết khác với họ. Trường hợp nghi phạm hoặc nạn nhân của vụ án là người chưa thành niên thì thông báo về khả năng hòa giải phải được thông tin đến người giám hộ hoặc đại diện hợp pháp của họ. Đối với trường hợp vụ án có liên quan đến người bị hạn chế năng lực hành vi thì thông tin về khả năng hòa giải của vụ án phải được gửi đến đồng thời người bị hạn chế năng lực hành vi và người quản lý tài sản của người bị hạn chế năng lực hành vi.

- Về địa điểm hòa giải

Việc hòa giải phải được thực hiện tại một trong các địa điểm sau đây:

Thứ nhất, đề nghị có liên quan đến hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải nơi mà người đề nghị sinh sống, nơi đề nghị thực hiện hòa giải phải phù hợp để thực hiện việc hòa giải và phù hợp với điều kiện của các bên. Địa điểm hòa giải cũng có thể được thực hiện tại địa điểm mà vụ án diễn ra.

Thứ hai, các bên có quyền đề trình yêu cầu có liên quan đến hòa giải đến các cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nơi họ cư trú. Khi cơ quan có thẩm quyền về hòa giải tại địa phương nhận được yêu cầu mà không giải quyết thì cơ quan đó có trách nhiệm chuyển ngay vụ án đó đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất nêu trên.

Thứ ba, trường hợp không có sự thống nhất giữa cơ quan có thẩm quyền hòa giải về vấn đề quyết định cơ quan nào là cơ quan thực hiện hòa giải như đã nêu tại ý thứ nhất của mục này thì việc hòa giải sẽ được thực hiện tại cơ quan hòa giải mà cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương về hòa giải quyết định, trừ trường hợp cơ quan hòa giải nằm trong cùng địa phương với cơ quan hòa giải tại địa phương. Trường hợp cơ quan hòa giải khác tỉnh với cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương thì quyết định sẽ được đưa ra bởi Bộ Y tế và Xã hội.

- Xác minh các điều kiện để hòa giải và quyết định hòa giải

Trước khi quyết định bắt đầu hòa giải, cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải bảo đảm rằng các điều kiện để hòa giải phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung để thực hiện việc hòa giải như đã nêu tại Mục 2 Phần I của bài viết này; đồng thời, phải phù hợp với vụ án được hòa giải. Nếu vụ án có liên quan đến vụ án dân sự thì cơ quan có thẩm quyền hòa giải phải đánh giá tính thiết thực của vụ án trong việc sử dụng cơ chế hòa giải. Người có thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền hòa giải sẽ quyết định việc có chấp nhận việc hòa giải hay không.

- Nghĩa vụ của cơ quan hòa giải trong việc quá trình hòa giải

Mục 16 của Đạo luật quy định cơ quan có thẩm quyền hòa giải khi xét thấy vụ việc có thể hòa giải theo quy định của Đạo luật, sẽ phải thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:

Thứ nhất, chỉ định một hòa giải viên để tiến hành hòa giải. Người được chỉ định phải đáp ứng một số yêu cầu như có kinh nghiệm trong lĩnh vực được chỉ định hòa giải và cá nhân có tư cách phù hợp và không trái với các quy định về nhân thân quy định tại Đạo luật về Thủ tục hành chính (434/2003);

Thứ hai, trên cơ sở thỏa thuận của các bên, thu thập các hồ sơ cần thiết từ công an, cơ quan có thẩm quyền khác, Tòa án và các bên về việc hòa giải;

Thứ ba, bảo đảm việc dịch hoặc giải thích các nội dung hòa giải trong trường hợp bên tham gia hòa giải không hiểu được ngôn ngữ, thiểu năng về ngôn ngữ hoặc vì một lý do nào đó không hiểu được nội dung thảo luận trong quá trình hòa giải;

Thứ tư, sau khi hòa giải, thông báo cho công an và cơ quan có thẩm quyền về quá trình hòa giải, kết quả hòa giải, kể cả trong trường hợp có các điều khoản bảo mật.

- Nghĩa vụ của hòa giải viên

Đạo luật quy định cụ thể về các nghĩa vụ mà hòa giải viên phải thực hiện khi hòa giải vụ việc. Theo đó, Mục 18 của Đạo luật thì hòa giải viên có các nghĩa vụ: dàn xếp buổi hòa giải giữa các bên; không thành kiến và tôn trọng các bên khi tiến hành hòa giải; giúp các bên tìm được giải pháp thống nhất liên quan đến vụ việc để bồi thường thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần mà nạn nhân phải chịu bởi tội phạm; cung cấp thông tin tư vấn pháp lý cho các bên và các dịch vụ khác; soạn thảo văn bản thể hiện thỏa thuận giữa các bên trong quá trình hòa giải và xác nhận bằng chữ ký. Sau khi hòa giải, hòa giải viên có trách nhiệm trình báo cáo về kết quả của quá trình hòa giải đến cơ quan có thẩm quyền hòa giải tại địa phương.

1.5. Khởi kiện

Tại Chương 4 của Đạo luật quy định về việc giải quyết tranh chấp có liên quan đến các thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải và quyền khởi kiện. Theo đó, các tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng hòa giải đã được thực hiện theo Đạo luật thì được giải quyết tại Tòa hành chính như đã được quy định trong Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan (586/1996). Quyền khởi kiện đối với quyết định của cơ quan chính quyền địa phương hoặc Bộ Y tế và Xã hội theo quy định về khoản 3 Mục 14 của Đạo luật, như đã nêu tại ý thứ ba mục 3.2 phần I của bài nghiên cứu này, hoặc hòa giải tại các cơ quan theo quy định của Đạo luật thì Tòa hành chính có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Đạo luật về tố tụng tư pháp hành chính của Phần Lan. Như vậy, theo quy định về khởi kiện và quyền khởi kiện, các bên tham gia hòa giải đều có quyền khởi kiện đối với thỏa thuận hòa giải được thực hiện trong quá trình hòa giải cũng như văn bản thể hiện ý chí của việc hòa giải giữa các bên. Đồng thời, Đạo luật cũng cho phép các cơ quan có thẩm quyền hòa giải được phép tiếp cận các tài liệu cần thiết để thực hiện việc hòa giải từ công an hoặc người có thẩm quyền khởi tố và tòa án.

2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về hòa giải tại cộng đồng và đề xuất kiến nghị hoàn thiện

BLHS năm 2015 có 02 điều quy định về nội dung này là các căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29) và hòa giải tại cộng đồng (Điều 94). Để có thể thực hiện chế định này trong thực tiễn, tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung sau đây:

Thứ nhất, Điều 92 BLHS năm 2015 quy định điều kiện áp dụng là “người dưới 18 tuổi phạm tội hoặc người đại diện hợp pháp của họ đồng ý với việc áp dụng một trong các biện pháp này”. Tuy nhiên, tác giả cho rằng, để bảo đảm tính khả thi, ngoài điều kiện nêu trên, cần bổ sung thêm một điều kiện là “có sự đồng ý của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Kinh nghiệm nước ngoài cũng quy định điều kiện để hòa giải là có sự đồng ý từ các bên (Mục 2 Đạo luật hòa giải vụ án hình sự tại Phần Lan).

Thứ hai, còn tồn tại sự chưa thống nhất giữa quy định tại Điều 91 và Điều 94 BLHS năm 2015. Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng” được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng. Tuy nhiên, tại điểm a khoản 2 Điều 91 BLHS năm 2015 lại loại trừ một số tội không áp dụng biện pháp này như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác (Điều 134), tội hiếp dâm (Điều 141)… Do đó, để thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 91, tác giả cho rằng, cần chỉnh lý lại điểm a khoản 1 Điều 94 theo hướng “Ḥa giải tại cộng đồng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong những trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trong quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của Bộ luật này”.

Thứ ba, cân nhắc bổ sung quy định về thời điểm tổ chức hòa giải tại cộng đồng. Khoản 2 Điều 94 BLHS năm 2015 quy định “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự”. Để xác định rõ thời điểm biện pháp hòa giải tại cộng đồng được thực hiện, tác giả cho rằng, cần quy định bổ sung “sau khi có quyết định miễn trách nhiệm hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức hòa giải tại cộng đồng”.

Thịnh Anh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: