Thứ năm 25/06/2026 03:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật Liên bang Nga về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp

Trong bài viết này, tác giả phân tích quy định của pháp luật Liên bang Nga về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp và đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Theo pháp luật Liên bang Nga, tình trạng khẩn cấp là một chế độ pháp lý đặc biệt được áp dụng theo Hiến pháp Liên bang Nga và Luật về tình trạng khẩn cấp trên toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ Liên bang Nga đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ quan, tổ chức tự quản địa phương, công chức nhà nước, các tổ chức, không phụ thuộc vào hình thức pháp lý và hình thức sở hữu, các hiệp hội xã hội, cho phép hạn chế một số quyền và tự do của công dân Liên bang Nga, công dân nước ngoài, người không quốc tịch, quyền của các tổ chức và hiệp hội xã hội cũng như áp đặt thêm trách nhiệm đối với họ.


1. Tình trạng khẩn cấp và trường hợp áp dụng theo pháp luật Liên bang Nga

Tình trạng khẩn cấp là một tình huống đặc biệt thường được ghi nhận khi xảy ra thiên tai, các thảm họa thiên nhiên, dịch bệnh, chiến tranh, xung đột sắc tộc, tôn giáo…, những sự kiện này có thể ảnh hưởng trực tiếp, đặc nghiêm trọng và gây ảnh hưởng ngay lập tức tới tính mạng, sức khỏe của nhân dân, an ninh quốc gia. Đồng thời, việc loại bỏ những tình huống nguy cấp trên sẽ không thể thực hiện nếu như Nhà nước không áp dụng các biện pháp khẩn cấp.

Theo pháp luật Liên bang Nga, tình trạng khẩn cấp là một chế độ pháp lý đặc biệt được áp dụng theo Hiến pháp Liên bang Nga và Luật về tình trạng khẩn cấp trên toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ Liên bang Nga đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ quan, tổ chức tự quản địa phương, công chức nhà nước, các tổ chức (không phụ thuộc vào hình thức pháp lý và hình thức sở hữu), các hiệp hội xã hội cho phép hạn chế một số quyền và tự do của công dân Liên bang Nga, công dân nước ngoài, người không quốc tịch, quyền của các tổ chức và hiệp hội xã hội cũng như áp đặt thêm trách nhiệm đối với họ[1]. Từ quy định trên có thể thấy một số đặc điểm sau:

- Phạm vi áp dụng tình trạng khẩn cấp có thể là toàn bộ hoặc một phần lãnh thổ Liên bang Nga. Thực tế, Liên bang Nga chưa áp dụng tình trạng khẩn cấp trên phạm vi toàn lãnh thổ, tình trạng khẩn cấp chỉ được áp dụng rất hạn chế tại một vài thời điểm liền kề sau khi Liên Xô tan rã.

- Tình trạng khẩn cấp chỉ được áp dụng theo những quy định được ghi nhận trong Hiến pháp liên bang và Luật liên bang về tình trạng khẩn cấp.

- Tình trạng khẩn cấp điều chỉnh đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cơ quan, tổ chức tự quản địa phương, công chức nhà nước, các tổ chức (không phụ thuộc vào hình thức pháp lý và hình thức sở hữu), các hiệp hội xã hội.

- Khi áp dụng tình trạng khẩn cấp, Nhà nước cho phép hạn chế một số quyền và tự do của công dân Liên bang Nga, công dân nước ngoài, người không quốc tịch, quyền của các tổ chức và hiệp hội xã hội cũng như áp đặt thêm trách nhiệm đối với họ.

Khi áp dụng các biện pháp khẩn cấp, đặc biệt để đối phó với các tình huống trên chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyền con người và quyền công dân. Vì vậy, luật pháp Liên bang Nga đã đưa ra những quy định rất nghiêm ngặt về điều kiện, căn cứ để công bố tình trạng khẩn cấp. Theo đó, Luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga ghi nhận hai nhóm trường hợp cụ thể làm căn cứ để công bố tình trạng khẩn cấp như sau:

Một là, cố gắng thay đổi một cách thô bạo hệ thống hiến pháp của Liên bang Nga, chiếm đoạt quyền lực, nổi dậy vũ trang, bạo loạn hàng loạt, tiến hành hoạt động khủng bố, ngăn chặn hoặc chiếm giữ các mục tiêu đặc biệt quan trọng hoặc một số khu vực nhất định, đào tạo và hoạt động của các nhóm vũ trang bất hợp pháp, xung đột giữa các dân tộc, tôn giáo và khu vực, kèm theo đó là bạo lực, các hành động đe dọa ngay lập tức đến tính mạng và sự an toàn của công dân, các hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương.

Hai là, các trường hợp khẩn cấp do tự nhiên và nhân tạo, các trường hợp khẩn cấp về môi trường, bao gồm cả dịch bệnh và dịch bệnh ở động vật, thiên tai, các hiện tượng tự nhiên nguy hiểm và các thảm họa khác kéo theo (có thể dẫn đến) thương vong cho con người, thiệt hại cho sức khỏe con người và môi trường tự nhiên, thiệt hại đáng kể về vật chất và làm gián đoạn điều kiện sống của dân cư và yêu cầu cứu hộ quy mô lớn và các công việc khẩn cấp khác.

2. Các biện pháp hạn chế tạm thời ảnh hưởng tới quyền con người, quyền công dân được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp

Để giải quyết những yêu cầu cấp thiết được đặt ra trong thời gian, phạm vi lãnh thổ đã được ban bố tình trạng khẩn cấp, các lực lượng, cơ quan chuyên môn có thể thực hiện các biện pháp đặc biệt, hạn chế tạm thời được quy định tại Chương 3 “Các biện pháp hạn chế tạm thời được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp”, Luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga, cụ thể là:

- Thiết lập các hạn chế đối với quyền tự do đi lại trong lãnh thổ mà tình trạng khẩn cấp đã được áp dụng, cũng như việc áp dụng một chế độ ra vào lãnh thổ cụ thể đặc biệt, bao gồm việc thiết lập các hạn chế đối với việc nhập cảnh vào lãnh thổ cụ thể và việc lưu trú trên lãnh thổ đó của công dân nước ngoài và người không quốc tịch;

- Thiết lập các hạn chế đối với việc thực hiện một số loại hoạt động kinh tế tài chính, bao gồm cả việc di chuyển hàng hóa, dịch vụ và các nguồn tài chính;

- Thiết lập một thủ tục đặc biệt để bán, mua và phân phối thực phẩm, nhu yếu phẩm;

- Cấm hoặc hạn chế tổ chức các cuộc mít tinh và biểu tình, các cuộc diễu hành, tuần hành, cũng như các sự kiện tập trung đông người khác;

- Cấm tổ chức đình công, tạm dừng hoạt động hoặc cấm hoạt động của các tổ chức này;

- Hạn chế sự di chuyển của các phương tiện giao thông và thực hiện việc kiểm tra chúng;

- Đình chỉ hoạt động của các ngành công nghiệp nguy hiểm và các tổ chức sử dụng chất nổ, phóng xạ, cũng như các chất độc hại về mặt hóa học và sinh học;

- Di tản các giá trị vật chất và văn hóa đến các khu vực an toàn trong trường hợp có nguy cơ thực sự bị phá hủy hoặc thiệt hại liên quan đến các tình huống khẩn cấp;

- Hạn chế hoặc cấm buôn bán vũ khí, đạn dược, chất nổ, phương tiện đặc biệt, chất độc, thiết lập chế độ lưu hành đặc biệt đối với thuốc và chế phẩm có chứa chất gây nghiện, chất hướng thần, chất mạnh, rượu etylic, đồ uống có cồn, sản phẩm có chứa cồn;

- Ban hành lệnh giới nghiêm, nghĩa là cấm ra đường và ở những nơi công cộng khác vào một thời điểm cụ thể trong ngày mà không có giấy tờ tùy thân và thẻ được cấp đặc biệt của công dân;

- Hạn chế quyền tự do báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác bằng cách áp dụng biện pháp kiểm duyệt sơ bộ, quy định các điều kiện và thủ tục thực hiện, cũng như thu giữ các tài liệu in, truyền dẫn vô tuyến, thiết bị kỹ thuật khuếch đại âm thanh, thiết bị nhân bản, thiết lập một thủ tục đặc biệt để công nhận nhà báo;

- Đình chỉ hoạt động của các đảng phái chính trị và các hiệp hội xã hội khác cản trở việc loại bỏ các trường hợp làm cơ sở cho việc đưa ra tình trạng khẩn cấp;

- Kiểm tra giấy tờ tùy thân của công dân, khám người, kiểm tra đồ đạc, nơi ở và phương tiện của họ;

- Kéo dài thời hạn giam giữ những người bị giam giữ theo Bộ luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga do bị tình nghi phạm tội khủng bố và các tội đặc biệt nghiêm trọng khác trong toàn bộ thời gian của tình trạng khẩn cấp, nhưng không quá ba tháng;

- Trục xuất những người vi phạm tình trạng khẩn cấp và không cư trú trên lãnh thổ mà tình trạng khẩn cấp đã được ban bố bằng chi phí của họ, và trong trường hợp không có kinh phí, với chi phí được trích từ ngân sách liên bang, sau đó được hoàn trả theo phán quyết của tòa;

- Tái định cư tạm thời cho người dân đến các khu vực an toàn với việc bắt buộc phải cung cấp nơi ở thường xuyên hoặc tạm thời cho người dân;

- Tiến hành việc kiểm dịch, thực hiện các biện pháp vệ sinh và chống dịch, thú y và các biện pháp khác;

- Thu hút dự trữ vật chất của nhà nước, huy động nguồn lực của các tổ chức để sản xuất các sản phẩm cần thiết trong tình trạng khẩn cấp và các thay đổi khác trong sản xuất và hoạt động kinh tế cần thiết trong tình trạng khẩn cấp;

- Đình chỉ công tác trong thời gian tình trạng khẩn cấp đối với người đứng đầu các tổ chức phi chính phủ;

- Trong các trường hợp ngoại lệ liên quan đến nhu cầu thực hiện và đảm bảo công việc cứu hộ và các công việc khẩn cấp khác, huy động lực lượng dân cư có đủ năng lực và sự tham gia của phương tiện công dân để thực hiện các công việc này, với sự tuân thủ bắt buộc các yêu cầu về bảo hộ lao động;

- Hạn chế quyền tham gia bầu cử và trưng cầu dân ý của công dân Liên bang Nga trong tình trạng khẩn cấp.

Như vậy, có thể thấy rằng, trong tình trạng khẩn cấp, các cơ quan có thẩm quyền có thể sử dụng rất nhiều biện pháp đặc biệt ảnh hưởng trực tiếp tới các quyền cơ bản của con người, quyền công dân như: Quyền tự do đi lại, tự do cư trú, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền hội họp, quyền tự do báo chí, quyền bầu cử… Điều này giúp cho việc tổ chức hoạt động của các cơ quan nhà nước có hiệu quả do có sự mở rộng quyền hạn của các cơ quan nhà nước và tăng hiệu quả điều tiết và quản lý của Chính phủ trong thời kỳ tình trạng khẩn cấp[2].

3. Quy định của pháp luật Liên bang Nga về đảm bảo quyền con người, quyền công dân khi áp dụng tình trạng khẩn cấp

Đồng thời với những quy định về các biện pháp đặc biệt, những hạn chế tạm thời được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp, pháp luật Liên bang Nga cũng có những quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp.

Một là, khi sử dụng các biện pháp đặc biệt và những hạn chế tạm thời trong tình trạng khẩn cấp phải tuyệt đối tuân theo Hiến pháp, Luật liên bang và các công ước, điều ước có liên quan mà Liên bang Nga là thành viên. Theo Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR năm 1966), trong thời gian tình trạng khẩn cấp, các quốc gia thành viên Công ước có quyền áp dụng những biện pháp hạn chế các quyền dân sự và chính trị được quy định trong Công ước. Tuy nhiên, các biện pháp này phải “không chứa đựng bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hoặc nguồn gốc xã hội”[3]. Bên cạnh đó, một số quyền con người đặc biệt, như quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử và trừng phạt tàn ác, quyền không bị bắt làm nô lệ hoặc bắt nô dịch là bất khả xâm phạm và không được vi phạm dù bất kỳ trường hợp nào, kể cả trường hợp khẩn cấp. Pháp luật Liên bang Nga cũng khẳng định: “Các biện pháp đặc biệt được sử dụng trong tình trạng khẩn cấp phải tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế của Liên bang Nga phát sinh từ các điều ước quốc tế của Liên bang Nga trong lĩnh vực nhân quyền và không được gây ra bất kỳ sự phân biệt đối xử nào đối với các cá nhân hoặc nhóm dân cư dựa trên cơ sở giới tính, chủng tộc, quốc tịch, ngôn ngữ, nguồn gốc, tài sản và địa vị xã hội, nơi cư trú, thái độ đối với tôn giáo, tín ngưỡng, tư cách thành viên của các hiệp hội xã hội, cũng như các hoàn cảnh khác”[4].

Đồng thời, quy định về các biện pháp đặc biệt, những hạn chế tạm thời trong tình trạng khẩn cấp được quy định trong Hiến pháp và Luật liên bang. Điều này khẳng định tính pháp lý cao nhất của các văn bản quy phạm pháp luật đó và đề cao tính pháp chế trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp trên, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp.

Hai là, bảo đảm tài sản và các quyền của công dân, tổ chức trong tình trạng khẩn cấp. Những người được huy động để thực hiện, cứu nạn khẩn cấp và các công việc khẩn cấp phải tuân thủ bắt buộc các yêu cầu về bảo hộ lao động và sẽ được bảo đảm thù lao theo quy định của pháp luật Liên bang Nga về lao động. Những người bị thiệt hại do hoàn cảnh làm cơ sở đưa ra tình trạng khẩn cấp hoặc liên quan đến việc áp dụng các biện pháp nhằm loại trừ hoàn cảnh đó hoặc loại bỏ hậu quả của nó, được bố trí nơi ở, được bồi thường thiệt hại về vật chất, được hỗ trợ về việc làm và được hỗ trợ cần thiết khác theo quy định của Chính phủ liên bang. Bên cạnh đó, các tổ chức có tài sản và nguồn lực được được Nhà nước huy động để sản xuất các sản phẩm cần thiết trong tình trạng khẩn cấp và các thay đổi khác trong sản xuất và hoạt động kinh tế cần thiết trong tình trạng khẩn cấp sẽ có quyền bồi thường thiệt hại gây ra theo cách thức và số tiền theo quy định của pháp luật.

Ba là, thủ tục và điều kiện sử dụng vũ lực, phương tiện, thiết bị đặc biệt, vũ khí, quân dụng được quy định bởi luật liên bang và các quy định pháp luật khác của Liên bang Nga không thể thay đổi trong tình trạng khẩn cấp. Đồng thời, hành vi sử dụng bất hợp pháp vũ lực, phương tiện đặc biệt, vũ khí, quân trang và thiết bị đặc biệt của nhân viên cơ quan nội chính, hệ thống hình sự, cơ quan an ninh liên bang, quân nhân của lực lượng vũ trang Liên bang Nga, quân của Vệ binh quốc gia Liên bang Nga, các đơn vị và cơ quan quân đội, cũng như việc vượt quá quyền hạn chính thức của các quan chức của lực lượng đảm bảo tình trạng khẩn cấp, bao gồm cả việc vi phạm các bảo đảm về quyền con người và quyền công dân sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý theo luật của Liên bang Nga. Ngoài ra, quy định về tạm giữ, giam giữ, trục xuất trong tình trạng khẩn cấp cũng được quy định rõ về thời gian, hiệu lực và trình tự, thủ tục tiến hành.

Bốn là, việc chấm dứt thời hạn tình trạng khẩn cấp đồng nghĩa với việc chấm dứt tố tụng hành chính đối với trường hợp vi phạm tình trạng khẩn cấp và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, bắt giữ hành chính mà không cần một văn bản pháp lý nào khác.

4. Kiến nghị đối với Việt Nam

Thông qua những phân tích, nghiên cứu về quy định của pháp luật Liên bang Nga về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong trình trạng khẩn cấp, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về tình trạng khẩn cấp của Việt Nam như sau:

Một là, cần nhanh chóng xây dựng Luật về tình trạng khẩn cấp để phù hợp với các quy định về bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013

Hiện nay, quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp được quy định trong Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 lại khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[5]. Do vậy, để đảm bảo tính hợp hiến của pháp luật về tình trạng khẩn cấp và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân cần sớm xây dựng Luật về tình trạng khẩn cấp tuân thủ theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013.

Hai là, bổ sung chương quy định về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong Luật về tình trạng khẩn cấp

Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp đang có hiệu lực thi hành bao gồm 06 chương và 22 điều. Tuy nhiên, trong nội dung Pháp lệnh này không quy định về các biện pháp bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tình trạng khẩn cấp. Do vậy, khi tiến hành xây dựng Luật về tình trạng khẩn cấp cần bổ sung nội dung quy định trên làm cơ sở thực hiện và bảo đảm các quyền cơ bản của con người, quyền công dân.

ThS. Trần Phi Long
Học viện An ninh nhân dân



[1]. Khoản 1 Điều 1 Luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga.

[2]. Гонтарь Владимир Николаевич, Егоров Андрей Владимирович, Корнилов Артем Эдуардович, Oбеспечение прав и свобод человека и гражданина при возникновении чрезвычайных обстоятельств (Gontar V.N., Egorov A.V., Kornilov A.E., Ensuring the rights and freedoms of man and citizen in case of emergency/ Bảo đảm các quyền và tự do của con người và công dân trong trường hợp khẩn cấp) (https://schoolfut.ru/wp-content/uploads/0jlri9c0yprgdc60lg/2019/20194-journal.pdf#page=14).

[3]. Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR năm 1966).

[4]. Điều 28 Luật về tình trạng khẩn cấp của Liên bang Nga.

[5]. Điều 14 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: