Thứ ba 10/03/2026 00:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Hiện nay, hành lang pháp lý về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông cơ bản đầy đủ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường dịch vụ viễn thông, phù hợp với sự hội tụ giữa lĩnh vực viễn thông, internet và phát thanh truyền hình. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, quá trình thực thi pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, yêu cầu cần thiết hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay.


1. Thực trạng pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông

1.1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ viễn thông

Điều kiện kinh doanh dịch vụ viễn thông được xét trên bốn điều kiện sau:

Thứ nhất, về chủ thể kinh doanh: Doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh viễn thông có thể là doanh nghiệp 100% vốn Việt Nam hoặc có thể có vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài. Tỷ lệ phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh viễn thông có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với doanh nghiệp Việt Nam hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, về tài chính: Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông phải đáp ứng đầy đủ năng lực về tài chính, có khả năng bảo đảm nguồn vốn để thực hiện các hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Luật Viễn thông năm 2009 quy định điều kiện vốn pháp định và mức vốn cam kết đầu tư đối với hoạt động kinh doanh viễn thông. Điều kiện được quy định với hoạt động đầu tư thiết lập mạng viễn thông cố định mặt đất, đầu tư thiết lập mạng viễn thông di động mặt đất, đầu tư thiết lập mạng viễn thông cố định vệ tinh và di động vệ tinh. Tùy theo mức độ phức tạp của hoạt động đầu tư mà quy định mức vốn pháp định có khác nhau. Đơn giản như đầu tư thiết lập mạng trong phạm vi một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Vốn pháp định là 05 tỷ đồng Việt Nam; mức cam kết đầu tư ít nhất là 15 tỷ đồng Việt Nam trong 03 năm đầu tiên kể từ ngày được cấp phép để phát triển mạng viễn thông theo quy định tại giấy phép. Phức tạp như thiết lập mạng viễn thông di động mặt đất có sử dụng băng tần số vô tuyến điện phải đáp ứng điều kiện về vốn pháp định và mức cam kết đầu tư vốn pháp định là 500 tỷ đồng Việt Nam; mức cam kết đầu tư ít nhất là 2.500 tỷ đồng Việt Nam trong 03 năm đầu tiên và ít nhất 7.500 tỷ đồng Việt Nam trong 15 năm để phát triển mạng viễn thông theo quy định tại giấy phép. Tuy nhiên, quy định này không còn phù hợp với tinh thần của Luật Đầu tư năm 2020, khi Luật này bãi bỏ những điều kiện kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, quy định về mức cam kết đầu tư cũng không còn phù hợp quy định pháp luật hiện hành.

Thứ ba, về bộ máy và nhân lực: Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông phải đáp ứng điều kiện bộ máy và nhân lực phù hợp với quy mô của hoạt động đầu tư. Điều 12 Thông tư số 12/2013/TT-BTTT quy định: Doanh nghiệp không đang trong quá trình cơ cấu, tổ chức lại doanh nghiệp, có phương án kinh doanh và bộ máy nhân lực phù hợp với hoạt động kinh doanh. Mặc dù Thông tư trên đây hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định số 81/2016/NĐ-CP được ban hành, tuy nhiên, Nghị định số 81/2016/NĐ-CP vẫn giữ lại nội dung quy định ở trên.

Thứ tư, về kỹ thuật: Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông phải có kế hoạch kinh doanh đồng thời phải có kế hoạch kỹ thuật tương ứng với kế hoạch kinh doanh. Đối với từng loại hình kinh doanh viễn thông khác nhau, yêu cầu về kỹ thuật lại khác nhau. Đối với kinh doanh thiết lập mạng viễn thông, yêu cầu về kỹ thuật phải có: Cấu hình mạng lưới, thiết bị theo từng năm, cả phần chính và phần dự phòng; phân tích năng lực mạng lưới, thiết bị; dung lượng các đường truyền dẫn; tài nguyên viễn thông; công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng; biện pháp bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn, an ninh thông tin. Đối với kinh doanh dịch vụ viễn thông, yêu cầu kỹ thuật phải có: Cấu hình mạng viễn thông sẽ sử dụng theo từng năm, cả phần chính và phần dự phòng; phân tích năng lực mạng và thiết bị viễn thông; dung lượng các đường truyền dẫn; tài nguyên viễn thông; công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng; kết nối viễn thông; phương án bảo đảm chất lượng dịch vụ; biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

1.2. Thủ tục cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông

Theo Điều 35 Luật Viễn thông năm 2009, việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây: (i) Phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển viễn thông quốc gia; (ii) Ưu tiên cấp giấy phép viễn thông cho dự án có khả năng triển khai nhanh trên thực tế, có cam kết cung cấp dịch vụ lâu dài cho đông đảo người sử dụng dịch vụ viễn thông; dự án cung cấp dịch vụ viễn thông đến vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (iii) Trường hợp cấp giấy phép viễn thông có liên quan đến sử dụng tài nguyên viễn thông thì chỉ được xét cấp giấy phép nếu việc phân bổ tài nguyên viễn thông là khả thi, theo đúng quy hoạch được phê duyệt và bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên viễn thông; (iv) Tổ chức được cấp giấy phép viễn thông chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của hồ sơ đề nghị cấp giấy phép viễn thông, về việc triển khai thực hiện các quy định tại giấy phép và cam kết với cơ quan cấp phép; (v) Tổ chức được cấp giấy phép viễn thông phải nộp phí quyền hoạt động viễn thông và lệ phí cấp giấy phép viễn thông theo quy định pháp luật về phí và lệ phí.

Về thủ tục và thẩm quyền cấp phép, trước ngày 01/7/2016, tất cả các thủ tục trên được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP và Thông tư số 12/2013/TT-BTTTT. Tuy nhiên, sau khi Nghị định số 81/2016/NĐ-CP có hiệu lực thì các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông được thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 81/2016/NĐ-CP. Các thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông bao gồm: Cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; sửa đổi, bổ sung giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; gia hạn giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; cấp lại giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông; cấp mới giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông.

2. Thực tiễn thi hành pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông

2.1. Những kết quả đạt được

Các quy định về cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông được quy định rõ ràng, công khai, minh bạch tại Luật Viễn thông năm 2009 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 25/2011/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 81/2016/NĐ-CP, Thông tư số 12/2013/TT-BTTTT. Trên cơ sở các quy định nguyên tắc tại Luật Viễn thông năm 2009, các nội dung quy định chi tiết về điều kiện, quy trình thủ tục cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông được điều chỉnh trên cơ sở cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp.

Trình tự, thủ tục cấp phép ngày càng được cải thiện, các thủ tục hành chính giảm dần đồng thời công tác hậu kiểm sau cấp phép được tăng cường. Đối với các doanh nghiệp thiết lập hạ tầng mạng, việc cần thực hiện các cam kết triển khai mạng lưới và việc cấp phép triển khai mạng viễn thông sẽ được hậu kiểm theo các cam kết đầu tư của doanh nghiệp. Đối với các dự án đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài, các quy định cũng được đưa ra cụ thể, phù hợp với các cam kết quốc tế, do đó, các nhà đầu tư nước ngoài có thể thực hiện đầu tư trực tiếp và gián tiếp, các thủ tục về đăng ký, thẩm tra dự án đầu tư theo quy mô vốn đầu tư theo Điều 5 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP. Với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được quy định đồng bộ và đầy đủ, công tác cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông được thực hiện bài bản. Giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông đã được cấp cho các doanh nghiệp khi đáp ứng các điều kiện theo quy định; các vấn đề cấp phép phức tạp và mới như cấp phép 4G, cấp phép thử nghiệm mạng và dịch vụ di động 5G, cấp phép cho các mạng truyền hình cáp, cấp phép trong các trường hợp tập trung kinh tế đã được hoàn thành theo yêu cầu quản lý nhà nước. Hành lang pháp lý đầy đủ về cấp phép viễn thông đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường dịch vụ viễn thông, đồng thời, phù hợp với sự hội tụ giữa lĩnh vực viễn thông, internet và phát thanh truyền hình, cụ thể:

Một là, thúc đẩy các thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông: Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ viễn thông có hạ tầng mạng không chỉ thuộc về các doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp nhà nước chiếm cổ phần chi phối; số lượng các doanh nghiệp có sở hữu tư nhân, nước ngoài đầu tư phát triển hạ tầng mạng viễn thông công cộng đã tăng lên đáng kể. Việc tham gia của nhiều thành phần kinh tế thu hút nguồn lực (vốn đầu tư, nhân lực) của xã hội trong việc thúc đẩy phát triển hạ tầng mạng viễn thông, tạo động lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tính đến hết năm 2020, tổng số doanh nghiệp đã được cấp giấy phép thiết lập hạ tầng mạng viễn thông công cộng có 59 doanh nghiệp (trong đó phạm vi toàn quốc có 26 doanh nghiệp; phạm vi khu vực có 15 doanh nghiệp; phạm vi 01 tỉnh/thành phố có 18 doanh nghiệp)[1]; có 07 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông di động, trong đó, có 05 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ 4G và 63 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet.

Hai là, mô hình cấp phép đã đáp ứng xu hướng hội tụ giữa viễn thông, Internet, phát thanh truyền hình dẫn đến quản lý thống nhất hạ tầng mạng hội tụ có khả năng cung cấp đa dịch vụ viễn thông, Internet và phát thanh truyền hình.

Ba là, các hoạt động cấp giấy phép đã từng bước đi vào nề nếp, chuyên nghiệp hơn theo hướng minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian thực hiện thủ tục hành chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dễ dàng có được giấy phép nếu đáp ứng đủ các điều kiện cấp phép. Hồ sơ đề nghị cấp phép được hướng dẫn rõ ràng bằng các loại đơn, mẫu cụ thể; thời gian được cắt giảm đáng kể so với trước đây.

Bốn là, việc giám sát, quản lý hoạt động sau cấp phép được thực hiện thường xuyên thông qua các đợt kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện kịp thời những sai phạm, đồng thời nhận diện những điểm bất cập trong các quy định hiện hành về quản lý cấp phép, quản lý thị trường. Thực hiện rà soát, thu hồi phép kinh doanh dịch vụ viễn thông của các doanh nghiệp không triển khai giấy phép hoặc không tuân thủ các quy định pháp luật. Trong giai đoạn từ 2010 đến nay, cơ quan nhà nước đã thu hồi khoảng 80 giấy phép của hơn 70 doanh nghiệp[2].

2.2. Những hạn chế, bất cập và nguyên nhân

Bên cạnh những ưu điểm, quá trình thực thi pháp luật về cấp phép viễn thông vẫn còn một số hạn chế, bất cập như sau:

Thứ nhất, các điều kiện cấp phép và quy trình thủ tục được quy định như nhau cho doanh nghiệp có hạ tầng và không có hạ tầng, không phân biệt theo từng loại mạng viễn thông hay loại hình dịch vụ (đều cùng thời gian, quy trình xử lý hồ sơ). Mặt khác, điều kiện cấp phép đối với các loại hình giấy phép thiết lập mạng có sử dụng tài nguyên viễn thông như tần số, kho số cần quy định cụ thể về thời gian, tiến độ triển khai, vùng phủ, chất lượng, hiệu quả sử dụng. Do vậy, quy trình thủ tục, nội dung và thời gian thẩm định cần nhiều hơn so với các loại hình giấy phép cung cấp dịch vụ. Đối với một số loại hình giấy phép cung cấp dịch vụ có chất lượng dịch vụ phải tuân thủ các quy chuẩn, giá dịch vụ đã cạnh tranh nên yêu cầu thẩm định đơn giản. Tuy nhiên, thực tế hiện nay công tác cấp phép đang tốn kém về thời gian và nhân lực do thủ tục cấp phép đang quy định chung.

Thứ hai, quy định về điều kiện năng lực tài chính của doanh nghiệp đối với doanh nghiệp thiết lập hạ tầng mạng viễn thông hiện nay là mức cam kết đầu tư. Mục đích là mong muốn doanh nghiệp triển khai hạ tầng mạng theo đúng phạm vi quy định trong giấy phép, nhưng thực tế, doanh nghiệp chỉ tập trung đầu tư vào những khu vực kinh doanh hiệu quả, thuận lợi. Do đó, quy định về tổng mức đầu tư là không đạt được mục tiêu quản lý. Bên cạnh đó, tổng mức đầu tư quy định chung, không có sự phân biệt giữa loại hình mạng MVNO và mạng cố định mặt đất. Khi công nghệ phát triển, quy mô kinh doanh khác nhau dẫn đến mức cam kết đầu tư như quy định hiện hành là không phù hợp.

Thứ ba, mức cam kết đầu tư chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp lần đầu xin giấy phép thiết lập mạng. Khi doanh nghiệp được cấp phép thêm tài nguyên (tần số), chưa có quy định các điều kiện bổ sung về triển khai mạng lưới, vùng phủ dẫn đến sự bất bình đẳng với các doanh nghiệp mới xin cấp phép. Ngoài ra, thời hạn giấy phép thiết lập mạng chưa được quy định gia hạn khi doanh nghiệp có quyền được cấp phép thêm tài nguyên tần số.

Thứ tư, theo quy định hiện hành, Giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông bao gồm: (i) Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng, có thời hạn không quá 15 năm được cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng; (ii) Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông, có thời hạn không quá 10 năm được cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng và chưa có quy định về giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông cấp cho doanh nghiệp có hạ tầng mạng. Doanh nghiệp hạ tầng mạng không được phép cung cấp dịch vụ viễn thông nếu không có giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông.

Thứ năm, việc cấp phép mạng dùng riêng 5G có thể được cấp phép cho nhà máy hoặc cho doanh nghiệp viễn thông sử dụng băng tần số tại một khu vực, trong khi đó, quy định hiện hành chưa quy định cụ thể khái niệm mạng viễn thông dùng riêng có sử dụng đường truyền dẫn vô tuyến, sử dụng băng tần số vô tuyến điện dẫn đến khó khăn trong công tác thực thi.

Thứ sáu, hoạt động của dịch vụ vệ tinh tại Việt Nam hiện đang được thực hiện theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Các cam kết hiện quy định để cung cấp dịch vụ qua biên giới vào Việt Nam, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài phải có thỏa thuận thương mại với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh quốc tế được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Để đầu tư cung cấp dịch vụ viễn thông vệ tinh trên lãnh thổ Việt Nam, doanh nghiệp nước ngoài phải liên doanh với các doanh nghiệp viễn thông vệ tinh được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Tỷ lệ góp vốn khác nhau tùy thuộc vào loại hình dịch vụ cung cấp (dịch vụ viễn thông cơ bản hay dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng, có hạ tầng hay không có hạ tầng). Đối với liên doanh cung cấp các dịch vụ viễn thông cơ bản có hạ tầng, thường doanh nghiệp nước ngoài chỉ được góp vốn tối đa là 49% vốn pháp định. Các cam kết này chưa được nội luật hóa đầy đủ để làm rõ quy định đối với các nhà cung cấp dịch vụ thông tin vệ tinh nước ngoài khi cung cấp vào Việt Nam nên công tác thực thi còn khó khăn. Thực tế khi doanh nghiệp nước ngoài xin cấp phép cung cấp dịch vụ thông tin vệ tinh tại Việt Nam, việc hướng dẫn thủ tục cấp phép chưa đầy đủ, rõ ràng. Bên cạnh đó, khi vệ tinh tầm thấp pháp triển, các nước tham gia cam kết quốc tế có thể cân nhắc, yêu cầu đàm phán thêm các điều khoản cho phù hợp với giai đoạn mới.

Thứ bảy, quy định của Luật Viễn thông năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành chưa cập nhật được những xu hướng mới như: Xu thế thông tin vệ tinh mới (vệ tinh tầm thấp phát triển) đặt ra các vấn đề quản lý mới như quản lý việc cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, an ninh quốc phòng...; Xu thế hội tụ viễn thông, công nghệ thông tin và tự động hóa cho phép doanh nghiệp viễn thông phát triển hạ tầng mạng đáp ứng nhu cầu mới của người sử dụng dịch vụ viễn thông trong môi trường số, bổ sung hạ tầng viễn thông thêm các thành phần mới như: hạ tầng kết nối IoT, hạ tầng kết nối trung tâm dữ liệu, hạ tầng cho các dịch vụ điện toán đám mây. Xu thế này đặt ra yêu cầu sớm có cơ chế quản lý, giám sát của Nhà nước bảo đảm sự phát triển của các loại hình dịch vụ, hạ tầng mới.

Thứ tám, xuất hiện thêm nhiềm loại hình dịch vụ mới, phạm vi quản lý của hoạt động viễn thông được mở rộng, rủi ro người dùng gặp phải càng nhiều. Việc đảm bảo bí mật thông tin riêng của người sử dụng không chỉ dừng lại là thông tin về cuộc gọi như đang quy định trong Luật mà cần mở rộng các thông tin riêng khác, đảm bảo giảm thiểu tối đa rủi ro người dùng có thể gặp phải.

3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam

Việc hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông là yêu cầu cấp bách hiện nay nhằm: (i) Quy định rõ điều kiện cấp phép phù hợp với từng loại hình hoạt động viễn thông của doanh nghiệp; (ii) Tăng hiệu quả thực thi đối với việc thiết lập mạng có sử dụng tài nguyên tần số; hạn chế tình trạng các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả tham gia thị trường; (iii) Đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc cấp phép cho doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả công tác quản lý cấp phép đối với các doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng; (iv) Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng; (v) Tháo gỡ vướng mắc, khó khăn trong việc cấp phép cho doanh nghiệp thiết lập hạ tầng mạng. Nâng cao chất lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh viễn thông trong nền kinh tế thị trường cần thực hiện trên tất cả các khía cạnh của hoạt động cấp phép viễn thông nói chung và cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông nói riêng, tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, xin tập trung một số nội dung sau đây:

Một là, cần điều chỉnh, bổ sung cách thức cấp phép, điều kiện cấp phép theo thông lệ quốc tế thành 03 hình thức cấp phép gồm cấp phép riêng, cấp phép nhóm và miễn cấp phép.

Hai là, nên bỏ các quy định về vốn pháp định trong điều kiện cấp giấy phép thiết lập mạng; sửa đổi quy định cam kết đầu tư bằng tiền thay bằng các cam kết về triển khai mạng lưới, dịch vụ.

Ba là, cần điều chỉnh giấy phép cung cấp dịch vụ cấp cho doanh nghiệp có hạ tầng mạng có thời hạn 15 năm để đồng bộ với giấy phép thiết lập mạng.

Bốn là, bổ sung một số quy định liên quan đến kinh doanh viễn thông như: (i) Hạn chế quyền kinh doanh trong một khu vực và trong một khoảng thời gian nhất định đối với doanh nghiệp có hành vi vi phạm pháp luật; (ii) Bổ sung quy định về các trường hợp thu hồi/hoàn trả giấy phép viễn thông (do doanh nghiệp có hành vi vi phạm hoặc tự nguyện hoàn trả), tạm đình chỉ tùy theo mức độ vi phạm của doanh nghiệp…

Năm là, bổ sung các quy định về quản lý và phát triển dịch vụ vệ tinh để đảm bảo có căn cứ khi cần đàm phán.

ThS. Đỗ Xuân Minh
NCS Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: