Thứ sáu 06/03/2026 05:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động - Một số bất cập và kiến nghị

Tóm tắt: Bài viết phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động và đề xuất phương hướng hoàn thiện.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về vấn đề chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động và đề xuất phương hướng hoàn thiện.

Có thể nói, Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định khá rõ ràng về vấn đề chuyển người lao động (NLĐ) sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động (HĐLĐ), tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định cần phải hoàn thiện để quy định này thật sự có hiệu quả khi áp dụng trong thực tiễn.
1. Bất cập của pháp luật về vấn đề chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động
Thứ nhất, về căn cứ chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ
Theo Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động (Nghị định số 05/2015/NĐ-CP), thì người sử dụng lao động (NSDLĐ) được quyền tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước; do nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Như vậy, có thể thấy rằng, pháp luật lao động đã quy định khá cụ thể các trường hợp NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ đã ký kết. Qua đó, giúp NSDLĐ xác định được những trường hợp mình có quyền điều chuyển tạm thời NLĐ sang làm công việc khác để kịp thời khắc phục khó khăn đột xuất xảy ra, mặt khác cũng hạn chế tình trạng NSDLĐ tùy tiện điều chuyển NLĐ để gây ảnh hưởng đến công việc bình thường của họ.

Phân tích các trường hợp NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ có thể thấy, các trường hợp như “thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh; áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; sự cố điện, nước” khá rõ ràng và dễ xác định. Riêng đối với trường hợp “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” thì vẫn còn những bất cập nhất định.

Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP không quy định rõ như thế nào được hiểu là khó khăn đột xuất do “nhu cầu sản xuất, kinh doanh” mà trao quyền quy định căn cứ này cho NSDLĐ thông qua nội quy lao động của doanh nghiệp. Cụ thể, khoản 2 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định: NSDLĐ quy định cụ thể trong nội quy của doanh nghiệp trường hợp do nhu cầu sản xuất, kinh doanh mà NSDLĐ được tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ. Để tạo thuận lợi cho NSDLĐ trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý NLĐ, pháp luật lao động cho phép NSDLĐ được chủ động trong việc quy định các trường hợp được xem là khó khăn đột xuất do nhu cầu sản xuất, kinh doanh để làm căn cứ điều chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ. Theo đó, NSDLĐ sẽ căn cứ vào quy mô, điều kiện hoạt động của doanh nghiệp mình để quy định rõ các trường hợp như cần phải thay đổi mô hình hoặc ngành nghề sản xuất, kinh doanh, thu hẹp quy mô sản xuất… từ đó dẫn đến thay đổi nhu cầu sử dụng lao động và NSDLĐ phải tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ. Nếu doanh nghiệp không quy định cụ thể trong nội quy lao động trường hợp khó khăn đột xuất do “nhu cầu sản xuất, kinh doanh” thì NSDLĐ không được sử dụng căn cứ này để điều chuyển NLĐ.

Tuy nhiên, do không quy định rõ ràng mà trao toàn quyền quyết định cho NSDLĐ dẫn đến nhiều trường hợp trên thực tế NSDLĐ đã áp dụng một cách tùy tiện quy định này để làm căn cứ chuyển NLĐ sang làm công việc khác, từ đó gây ra những thiệt hại nhất định đến quyền và lợi ích hợp pháp, nhất là việc làm và thu nhập của NLĐ. Bởi lẽ, nhu cầu sản xuất, kinh doanh là rất đa dạng và NSDLĐ rất dễ tạo ra căn cứ này. Thực tiễn, cũng cho thấy, đây còn là công cụ để NSDLĐ gây sức ép với NLĐ để cho họ bất mãn mà tự xin nghỉ việc[1]. Nhiều trường hợp NSDLĐ muốn chấm dứt HĐLĐ với NLĐ nhưng lại không có căn cứ pháp lý, chẳng hạn khi tuyển dụng đã không đánh giá đúng năng lực của NLĐ nên NLĐ làm việc không đạt hiệu quả như mong muốn của NSDLĐ nhưng chưa đến mức vi phạm HĐLĐ và nội quy của công ty để bị xử lý kỷ luật, hay NSDLĐ không thích thái độ của NLĐ nên muốn thay thế lao động khác... Trong khi đó, NLĐ không chấp nhận thỏa thuận về việc chấm dứt HĐLĐ, mức bồi thường khi chấm dứt HĐLĐ, do đó NSDLĐ đã lấy lý do nhu cầu sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp để chuyển NLĐ làm công việc khác nhằm mục đích ép NLĐ nghỉ việc.

Theo khoản 1 Điều 119 Bộ luật Lao động năm 2012, thì việc xây dựng nội quy lao động bằng văn bản chỉ bắt buộc đối với trường hợp NSDLĐ sử dụng từ 10 NLĐ trở lên. Câu hỏi đặt ra là, đối với trường hợp NSDLĐ sử dụng dưới 10 NLĐ thì việc quy định căn cứ khó khăn đột xuất “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” để tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ sẽ thực hiện như thế nào, bởi lẽ trong trường hợp này pháp luật không bắt buộc NSDLĐ phải ban hành nội quy lao động. Nếu không ban hành nội quy lao động thì NSDLĐ có thể chuyển NLĐ sang làm công việc khác được hay không? Có thể thấy, pháp luật lao động đã không có sự thống nhất khi quy định về vấn đề này. Cần lưu ý rằng, nội quy lao động không chỉ được sử dụng để làm căn cứ điều chuyển NLĐ trong trường hợp NSDLĐ gặp khó khăn đột xuất “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” mà còn là căn cứ quan trọng để NSDLĐ quản lý NLĐ, nếu NLĐ vi phạm các nội dung được quy định trong nội quy lao động thì NSDLĐ có thể sử dụng để làm căn cứ xem xét xử lý kỷ luật đối với NLĐ.

Để tháo gỡ bài toán trên, ngày 16/11/2015, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều về hợp đồng, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động (Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH), trong đó có hướng dẫn về việc ban hành nội quy lao động của doanh nghiệp sử dụng dưới 10 NLĐ. Theo đó, khoản 4 Điều 10 Thông tư này quy định: NSDLĐ sử dụng dưới 10 NLĐ không phải đăng ký nội quy lao động; trường hợp ban hành nội quy lao động bằng văn bản thì hiệu lực của nội quy lao động do NSDLĐ quyết định trong nội quy lao động; trường hợp không ban hành nội quy lao động bằng văn bản thì NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận nội dung kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và ghi trong HĐLĐ để thực hiện. Tác giả cho rằng, quy định này chỉ là một giải pháp tình thế nhưng lại rất cần thiết để khắc phục sự chồng chéo giữa các quy định của pháp luật lao động.

Như đã trình bày, nếu như không ban hành nội quy lao động để quy định về căn cứ điều chuyển NLĐ “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh”, thì NSDLĐ sẽ không thể điều chuyển NLĐ sang làm công việc khác. Do đó, cần bổ sung một quy định riêng trong việc quy định cụ thể căn cứ điều chuyển NLĐ “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” trong Nghị định số 05/2015/NĐ-CP đối với trường hợp NSDLĐ sử dụng dưới 10 NLĐ theo hướng không quy định bắt buộc mà có thể cho phép NSDLĐ và NLĐ có thể thỏa thuận với nhau khi không ban hành nội quy lao động bằng văn bản như hướng dẫn của Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH.

Thứ hai, về hình thức thỏa thuận giữa NSDLĐ và NLĐ khi thời hạn chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ quá thời hạn pháp luật quy định

Khoản 1 Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ với thời hạn không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của NLĐ. Mục đích của việc quy định rõ thời hạn tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ nhằm hạn chế tối đa sự xáo trộn trong công việc cũng như mức độ ảnh hưởng của việc điều chuyển đến cuộc sống của bản thân, gia đình NLĐ. Bởi lẽ, công việc được điều chuyển này có thể là công việc không phù hợp với chuyên môn của NLĐ hoặc địa điểm làm việc không thuận tiện cho NLĐ, đồng thời có thể đưa NLĐ vào tình thế bất lợi, bị động. Trong bối cảnh pháp luật trao cho NSDLĐ quyền quản lý, điều hành để giúp NSDLĐ tháo gỡ các khó khăn đột xuất gặp phải hoặc để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong sản xuất, kinh doanh thì NLĐ bắt buộc phải thực hiện. Đây chính là lý do pháp luật lao động không yêu cầu NSDLĐ phải thỏa thuận với NLĐ về việc tạm thời chuyển họ sang làm công việc khác so với HĐLĐ mà quy định là một quyền đơn phương của NSDLĐ (trừ trường hợp điều chuyển vượt quá 60 ngày làm việc). Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, hạn chế những bất lợi có thể gặp phải cho NLĐ, pháp luật lao động cần phải khống chế thời gian mà NSDLĐ được phép tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác.

Để hướng dẫn nội dung này, khoản 3 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định “NSDLĐ đã tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ đủ 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, nếu tiếp tục phải tạm thời chuyển NLĐ đó làm công việc khác so với HĐLĐ thì phải được sự đồng ý của NLĐ bằng văn bản”. Quy định phải có sự đồng ý “bằng văn bản” của NLĐ nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của họ, tránh trường hợp NSDLĐ lạm dụng quy định về điều chuyển NLĐ để thay đổi công việc, tiền lương của NLĐ trong một thời gian dài; đồng thời tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng cho các bên khi có tranh chấp xảy ra. Tuy nhiên, quy định này còn hạn chế, bởi vì Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP chưa quy định cụ thể hình thức văn bản thể hiện sự đồng ý của NLĐ. Giả sử, NSDLĐ thông báo việc kéo dài thời gian điều chuyển NLĐ sang làm công việc khác quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm và được NLĐ phản hồi qua email thì có được xem là NLĐ đồng ý bằng văn bản hay không? Việc quy định chưa rõ ràng đó có khả năng làm phát sinh các tranh chấp giữa NSDLĐ và NLĐ về thủ tục điều chuyển NLĐ sang làm công việc khác trên thực tế.

Hiện nay, bên cạnh loại hình văn bản giấy đã tồn tại thêm văn bản điện tử, đây là loại hình văn bản được sử dụng rất phổ biến trong xã hội hiện đại. Quy định của pháp luật hiện hành cũng đã thừa nhận loại hình văn bản điện tử trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cụ thể, khoản 8 Điều 3 Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giải thích “văn bản điện tử là văn bản được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu”. Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 8 Nghị định này còn quy định: Người đứng đầu cơ quan nhà nước ở các cấp có trách nhiệm chỉ đạo việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý công việc, tăng cường sử dụng văn bản điện tử, từng bước thay thế văn bản giấy trong quản lý, điều hành và trao đổi thông tin. Thiết nghĩ, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP nên giải thích rõ nội dung thuật ngữ “văn bản” bao gồm cả loại hình văn bản giấy và văn bản điện tử để phù hợp với thực tiễn cuộc sống.

Thứ ba, về thủ tục chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ

Khoản 2 Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Khi tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ, NSDLĐ phải báo cho NLĐ biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của NLĐ”. Quy định về thủ tục báo trước cho NLĐ trước khi chuyển họ sang làm công việc khác so với HĐLĐ là hợp lý để họ sắp xếp công việc cá nhân trước khi chuyển sang một công việc mới.

Đối với NLĐ, thời hạn báo trước 03 ngày làm việc là khoảng thời gian vừa đủ để họ suy nghĩ, quyết định cũng như có sự chuẩn bị về tâm lý, kỹ năng, chuyên môn, hoàn tất công việc cũ trước khi được chuyển sang làm công việc mới. Tuy nhiên, đối với NSDLĐ, quy định về nghĩa vụ báo trước ít nhất 03 ngày làm việc trước khi chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ trong mọi trường hợp là chưa thật sự hợp lý, có phần cứng nhắc và có thể gây trở ngại cho doanh nghiệp trong việc kịp thời khắc phục các khó khăn đột xuất, bất khả kháng (ví dụ như doanh nghiệp phải khắc phục hậu quả thiên tai, cháy nổ, hỏa hoạn, sự cố điện nước nghiêm trọng... cần phải thực hiện điều chuyển ngay NLĐ). Bên cạnh đó, quy định này cũng chưa nêu rõ hình thức thông báo như thế nào được coi là phù hợp với quy định của pháp luật. NSDLĐ phải thông báo bằng hình thức văn bản hay chỉ cần thông báo miệng? Bộ luật Lao động năm năm 2012 và Nghị định số 05/2015/NĐ-CP không quy định cụ thể về vấn đề này. Theo đó, nên quy định thống nhất hình thức thông báo bằng văn bản để tạo cơ sở áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Liên quan đến việc xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, trong đó có các vi phạm liên quan đến việc tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ, điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22/8/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Nghị định số 95/2013/NĐ-CP) - được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với NSDLĐ có hành vi chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ không đúng lý do, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của NLĐ theo quy định của pháp luật. Như vậy, pháp luật đã quy định chế tài đối với NSDLĐ trong trường hợp vi phạm quy định liên quan đến căn cứ điều chuyển, thời hạn điều chuyển, văn bản thể hiện sự đồng ý của NLĐ khi chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ quá thời hạn quy định; điều này góp phần hạn chế tình trạng NSDLĐ tùy tiện, lạm dụng việc điều chuyển để gây thiệt hại cho NLĐ. Tuy nhiên, quy định trên chưa bao quát được trường hợp NSDLĐ vi phạm nghĩa vụ thông báo đối với NLĐ trước khi thực hiện việc điều chuyển, dẫn đến không có chế tài để áp dụng khi NSDLĐ vi phạm nghĩa vụ này.

Có thể thấy rằng, mặc dù pháp luật lao động quy định về nghĩa vụ thông báo đối với NSDLĐ khi tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ nhưng lại không quy định rõ chế tài xử lý khi có vi phạm sẽ làm giảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật, NSDLĐ có thể thực hiện hoặc không thực hiện, dẫn đến các tranh chấp pháp lý phát sinh, gây thiệt hại về quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ; đồng thời tạo gánh nặng cho các cơ quan có thẩm quyền quản lý trong lĩnh vực lao động khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ.

2. Kiến nghị

Để khắc phục những bất cập liên quan đến các trường hợp NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ, tác giả kiến nghị:

Một là, cần phát huy vai trò của thỏa ước lao động tập thể trong việc quy định căn cứ khó khăn đột xuất do “nhu cầu sản xuất, kinh doanh” để điều chuyển NLĐ. Để khắc phục bất cập nhằm hạn chế sự tùy tiện của NSDLĐ trong việc quy định căn cứ “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” cần điều chuyển NLĐ, NSDLĐ và NLĐ cần thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể những trường hợp cụ thể được coi là do “nhu cầu sản xuất, kinh doanh” mà NSDLĐ có quyền tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ để phù hợp với tình hình thực tiễn của doanh nghiệp. Trong trường hợp này, vai trò của thỏa ước lao động tập thể sẽ phát huy tác dụng tốt hơn nội quy lao động trong việc giải thích cụm từ này. Điều này sẽ góp phần hạn chế việc lợi dụng lý do điều chuyển nhằm mục đích trù dập, phân biệt đối xử đối với NLĐ[2].

Hai là, cần bổ sung trong Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH quy định đối với NSDLĐ sử dụng dưới 10 NLĐ, nếu không ban hành nội quy lao động bằng văn bản để quy định về trường hợp “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” làm căn cứ để điều chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ thì phải thỏa thuận cụ thể vấn đề này với NLĐ và ghi rõ trong HĐLĐ để thực hiện, tương tự như các nội dung về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất. Nếu không thỏa thuận cụ thể thì NLĐ có quyền từ chối yêu cầu của NSDLĐ khi sử dụng căn cứ này để tạm thời chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ.

Ba là, cần bổ sung quy định để giải thích rõ hình thức văn bản thể hiện sự đồng ý của NLĐ để làm căn cứ cho NSDLĐ tiếp tục kéo dài thời hạn chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ tại khoản 3 Điều 8 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP như sau: “NSDLĐ đã tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ đủ 60 ngày làm việc liên tục trong một năm, nếu tiếp tục phải tạm thời chuyển NLĐ đó làm công việc khác so với HĐLĐ thì phải được sự đồng ý của NLĐ bằng văn bản.

Văn bản thể hiện sự đồng ý của NLĐ có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản giấy hoặc văn bản điện tử”.

Bốn là, để hoàn thiện các quy định pháp luật về thủ tục chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ, khoản 2 Điều 31 Bộ luật Lao động năm 2012 nên sửa đổi, bổ sung như sau: “2. Khi tạm thời chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLD, NSDLĐ phải thông báo bằng văn bản cho NLĐ biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn điều chuyển và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe, giới tính của NLĐ; trừ trường hợp khẩn cấp phải chuyển ngay NLĐ sang làm công việc khác mà không thể thực hiện việc thông báo trước”.

Bên cạnh đó, Nghị định số 05/2015/NĐ-CP cần bổ sung quy định cho phép NSDLĐ quy định các trường hợp khẩn cấp không cần phải thực hiện việc thông báo trước khi chuyển NLĐ sang làm công việc khác trong nội quy lao động hoặc thỏa ước lao động tập thể để làm căn cứ thực hiện nghĩa vụ thông báo của NSDLĐ tương tự như quy định về căn cứ khó khăn đột xuất “do nhu cầu sản xuất, kinh doanh” để chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ.

Đồng thời, để có cơ sở buộc NSDLĐ thực hiện nghĩa vụ thông báo, cần bổ sung quy định về xử phạt vi phạm hành chính tại điểm c khoản 2 Điều 7 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP đối với NSDLĐ vi phạm quy định về thời hạn báo trước khi chuyển NLĐ sang làm công việc khác so với HĐLĐ tương tự như xử phạt đối với trường hợp điều chuyển NLĐ không đúng lý do, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của NLĐ như sau: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với NSDLĐ có hành vi chuyển NLĐ làm công việc khác so với HĐLĐ không thông báo trước, không đúng lý do, thời hạn hoặc không có văn bản đồng ý của NLĐ theo quy định của pháp luật.

ThS. Nguyễn Nhật Khanh

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh



[1]. Đinh Thị Chiến (2015), “Một số vấn đề về thực hiện hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012”, Tạp chí Khoa học pháp lý số 02 (87), tr. 38.

[2]. Xem thêm: Phan Thị Thanh Huyền (chủ biên), Hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2014, tr. 64 - 65.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: