Thứ tư 13/05/2026 00:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không

Giao thông vận tải là ngành kinh tế mang tính kỹ thuật cao, với năm lĩnh vực là đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không. Trong đó, hàng không là lĩnh vực giao thông vận tải đặc thù, chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Việc áp dụng các điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình về hàng không cũng như kinh doanh trong lĩnh vực hàng không chủ yếu áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động hàng không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe, môi trường, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam… nên theo pháp luật Việt Nam, một số ngành, nghề đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực hàng không được quy định là ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện.

Việc quy định như trên là cần thiết, một mặt Nhà nước có thể kiểm soát, can thiệp, điều tiết các doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực này để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội gắn với giữ vững an ninh, an toàn trong lĩnh vực khai thác bay, bảo đảm hoạt động bay,... phù hợp với tiêu chuẩn, khuyến cáo của Tổ chức Hàng không dân dụng Quốc tế (ICAO), Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA). Mặt khác, việc quy định rõ ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sẽ giúp nhà đầu tư thực hiện tối đa quyền tự do kinh doanh của mình theo nguyên tắc “được làm những gì mà pháp luật không cấm”.

1. Khái quát về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không

Theo Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, thì ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư năm 2014[1]. Như vậy, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không là những tiêu chuẩn đòi hỏi người kinh doanh trong lĩnh vực này phải đáp ứng trong quá trình hoạt động với sự giám sát, kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục tiêu bảo đảm an ninh, an toàn bay, khai thác bay, khai thác cảng hàng không; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời sự cố về an ninh hàng không, đặc biệt là các chuyến bay ngoại giao, chuyên cơ.

Theo Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng, thì ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện lĩnh vực hàng không gồm: a) Kinh doanh vận tải hàng không; b) Kinh doanh cảng hàng không, sân bay; c) Kinh doanh dịch vụ hàng không tại cảng hàng không, sân bay; d) Kinh doanh dịch vụ thiết kế, sản xuất, bảo dưỡng hoặc thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang thiết bị tàu bay tại Việt Nam; đ) Kinh doanh dịch vụ bảo đảm hoạt động bay; e) Kinh doanh dịch vụ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không.

Từ thực tế quy định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không, có thể thấy rằng:

Một là, trước đây, một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không được quy định trong các văn bản hướng dẫn (như nghị định, thông tư), nhưng hiện nay, các ngành, nghề này đã được quy định cụ thể trong Luật Đầu tư năm 2014. Ngoài ra, theo Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, thì điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Như vậy, chỉ có Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ mới được quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, tổ chức, cá nhân khác không có thẩm quyền này. Quy định trên có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát hiệu quả vấn đề ban hành điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, đồng thời, khắc phục tình trạng “lạm phát” về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực này.

Hai là, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không chiếm tỷ lệ khá lớn trên tổng số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực giao thông, vận tải. Trong số 267 ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện theo Luật Đầu tư năm 2014, có 29 ngành, nghề thuộc lĩnh vực giao thông, vận tải. Trong số đó, có sáu ngành, nghề thuộc lĩnh vực hàng không (chiếm 20,6%). So với trước khi có Luật Đầu tư năm 2014, đã giảm năm ngành, nghề trong tổng số 11 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực này[2]. Việc giảm trên là do gộp một số ngành, nghề có điểm chung như kinh doanh vận chuyển hàng không, kinh doanh vận chuyển hàng không chung vì mục đích thương mại và kinh doanh vận chuyển hàng không chung không vì mục đích thương mại thành kinh doanh vận tải hàng không; gộp kinh doanh cảng hàng không nội địa và kinh doanh cảng hàng không quốc tế thành kinh doanh cảng hàng không, sân bay. Ngoài ra, ngành, nghề được bỏ ra khỏi nhóm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là hành nghề hàng không và đánh giá trình độ tiếng Anh nhân viên hàng không.

Ba là, việc loại bỏ một số ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không là thể hiện phạm vi tự do kinh doanh của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực hàng không ngày càng được mở rộng.

Như đã nói ở trên, hành nghề hàng không và kinh doanh dịch vụ đánh giá trình độ tiếng Anh nhân viên hàng không là hai ngành, nghề đã đưa ra khỏi danh mục các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Hành nghề hàng không là việc nhân viên hàng không (thành viên tổ lái, tiếp viên, nhân viên không lưu, nhân viên thông báo tin tức…) thực hiện nhiệm vụ được giao. Những đối tượng này, khi thực hiện chức trách nhiệm vụ phải đáp ứng điều kiện là có chứng chỉ chuyên môn nhân viên hàng không và giấy phép nhân viên hàng không do Cục Hàng không Việt Nam cấp. Bản chất hoạt động của họ là thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao (khi thỏa mãn các điều kiện nhất định), mà không phải là cung cấp các dịch vụ để thu lợi nhuận. Bên cạnh đó, họ cũng không phải đăng ký kinh doanh để cung cấp dịch vụ. Do đó, pháp luật coi đây không phải là ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.

Ngoài ra, do nhân viên hàng không phải thường xuyên giao tiếp với các hãng hàng không, người khai thác hàng không, phi hành đoàn là người nước ngoài nên pháp luật đòi hỏi nhân viên hàng không phải có trình độ tiếng Anh nhất định. Trước kia, các cơ sở đào tạo tiếng Anh phải đủ điều kiện nhất định mới được phép thực hiện việc đánh giá năng lực tiếng Anh của nhân viên hàng không. Hiện nay, pháp luật không quy định về điều kiện của các cơ sở đánh giá năng lực của nhân viên hàng không nữa. Vì khi nhân viên hàng không đi học tiếng Anh, họ có thể học tại bất kỳ cơ sở đánh giá năng lực tiếng Anh nào, sau đó đề nghị Cục Hàng không Việt Nam cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, việc quy định về điều kiện của các cơ sở sát hạch, đánh giá trình độ, năng lực của nhân viên hàng không là không cần thiết. Điều này đồng nghĩa với việc các cơ sở đánh giá trình độ, năng lực tiếng Anh của nhân viên hàng không sẽ không bị ràng buộc bởi các điều kiện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra.

Bốn là, các điều kiện đầu tư, kinh doanh lĩnh vực hàng không chủ yếu sử dụng thông qua hình thức giấy phép và giấy chứng nhận. Hiện nay, theo quy định của pháp luật, đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện trước khi được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh như điều kiện về vốn pháp định hoặc chứng chỉ hành nghề (ví dụ như kinh doanh bảo hiểm, kế toán…). Đối với kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không, doanh nghiệp sẽ đáp ứng các điều kiện sau khi được cơ quan đăng ký kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng phải có trước khi tiến hành các hoạt động kinh doanh trên thực tế. Ví dụ, mặc dù Công ty Hàng không lưỡng dụng Ngôi sao Việt (Vietstar Airlines) được Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh năm 2010, nhưng nếu Công ty này muốn thực hiện hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa, thì phải được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chủ trương, Bộ Giao thông vận tải cấp giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không.

Điều kiện kinh doanh được áp dụng theo một trong các hình thức: Giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, văn bản xác nhận và các hình thức khác. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực hàng không, trong sáu nhóm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, không có các điều kiện về chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, mà chủ yếu là giấy phép và giấy chứng nhận đủ điều kiện. Hiện tại, trong sáu ngành, nghề trên, có 120 giấy phép, giấy chứng nhận; 27 loại văn bản thể hiện dưới hình thức văn bản chấp thuận, phê duyệt[3]. Bên cạnh đó, đối với việc kinh doanh dịch vụ bảo đảm hoạt động bay, pháp luật chưa hướng dẫn cụ thể về điều kiện kinh doanh lĩnh vực này, mà chỉ quy định nhà đầu tư phải đáp ứng hai điều kiện về vốn pháp định và phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước[4].

Năm là, thẩm quyền cấp giấy phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không là Thủ tướng Chính phủ hoặc Bộ Giao thông vận tải.

Như đã trình bày ở trên, hàng không là lĩnh vực giao thông vận tải đặc thù, tuân theo nhiều quy định khắt khe về tiêu chuẩn an toàn, quy trình kỹ thuật… của các tổ chức hàng không quốc tế. Bên cạnh đó, các lĩnh vực đường bộ, đường thủy nội địa, đường sắt, hàng hải đều được dàn trải trên các địa phương, vùng miền, nên hầu hết công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực này đều có sự tham gia của Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải và các địa phương. Khác với các lĩnh vực trên, không phải địa phương nào cũng có cảng hàng không, sân bay để phục vụ mục đích dân sự. Hiện nay, cả nước có 21 cảng hàng không, sân bay đặt tại 21 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phục vụ mục đích dân sự. Do tính chất đặc thù trên, pháp luật không phân cấp quản lý nhà nước về lĩnh vực hàng không cho các địa phương.

Đối với lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, đa phần Sở Giao thông vận tải sẽ thực hiện việc cấp giấy phép, giấy chứng nhận... Tuy nhiên, thẩm quyền chấp thuận, công nhận các thủ tục liên quan đến điều kiện kinh doanh lĩnh vực hàng không đều do Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải hoặc Cục Hàng không Việt Nam với tư cách là nhà chức trách hàng không thực hiện. Cụ thể, trong sáu ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không, với 120 giấy phép, giấy chứng nhận, Thủ tướng Chính phủ chỉ quyết định chủ trương cấp hai loại là giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không và giấy phép kinh doanh hàng không chung vì mục đích thương mại[5]. Sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương, Bộ Giao thông vận tải sẽ thực hiện việc cấp giấy phép. Còn lại, các giấy phép, giấy chứng nhận khác đều do nhà chức trách hàng không thực hiện.

Có thể nói, việc công khai danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và công bố điều kiện đầu tư kinh doanh đối với lĩnh vực hàng không, trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, Cổng thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư được thực hiện quyền tự do thành lập và đăng ký kinh doanh của mình, đồng thời bảo đảm được hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động này.

2. Một số đổi mới cơ bản của pháp luật hiện hành về điều kiện đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực hàng không

Hiện nay, vấn đề ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không được quy định cụ thể trong Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ. So với những văn bản pháp luật trước đây, Nghị định này có một số đổi mới như:

Thứ nhất, về điều kiện đầu tư kinh doanh

Trước đây, trong sáu ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện lĩnh vực hàng không, pháp luật không quy định cụ thể về kinh doanh khai thác cảng hàng không, sân bay và dịch vụ quản lý hoạt động bay. Mặc dù, Nghị định số 102/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ đã có quy định về quản lý hoạt động khai thác tại cảng hàng không, sân bay; bán, thế chấp, cho thuê, góp vốn bằng tài sản gắn liền với đất cảng hàng không, sân bay; hoạt động kinh doanh tại cảng hàng không, sân bay; Nghị định số 125/2015/NĐ-CP ngày 04/12/2015 của Chính phủ đã quy định về quản lý hoạt động bay tại cảng hàng không, sân bay nhưng điều kiện đầu tư, kinh doanh các hoạt động đó thì chưa được pháp luật quy định. Điều này sẽ gây khó khăn cho nhà đầu tư khi muốn tham gia đầu tư các lĩnh vực kể trên. Do đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 quy định cụ thể về điều kiện đầu tư kinh doanh đối với hai ngành nghề này, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho các hoạt động trên, đồng thời giúp nhà đầu tư không lúng túng khi muốn tham gia cung cấp các dịch vụ đó.

Thứ hai, điều kiện vốn pháp định của doanh nghiệp

Trước đây, khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Vốn pháp định là số vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập doanh nghiệp”. Hiện nay, với mục đích hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp năm 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã bỏ quy định về vốn pháp định. Theo đó, pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp phải kê khai mức vốn pháp định trong hồ sơ thành lập mới.

Tuy nhiên, qua rà soát các điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, có thể nhận thấy, một số lĩnh vực vẫn quy định về điều kiện vốn pháp định, như: Kinh doanh tại cảng hàng không quốc tế là 200 tỷ đồng, tại cảng hàng không nội địa là 100 tỷ đồng (khoản 1 Điều 37 Nghị định số 102/2015/NĐ-CP)… Các quy định về điều kiện vốn pháp định trong đầu tư kinh doanh có điều kiện lĩnh vực hàng không là không phù hợp với tinh thần Hiến pháp và Luật Doanh nghiệp. Vì vậy, đến khi Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 ra đời đã bãi bỏ quy định về vốn pháp định trong lĩnh vực này, thay vào đó là quy định về mức vốn tối thiểu để thành lập và duy trì doanh nghiệp kinh doanh vận chuyển hàng không.

Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành, sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư vẫn chưa được tiến hành hoạt động kinh doanh cho đến khi có đủ các giấy phép kinh doanh. Bên cạnh đó, việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và giấy phép kinh doanh được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền và theo những thủ tục pháp lý khác nhau. Vì vậy, dẫn đến thực tế là có doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh nhưng sau đó không tiến hành hoạt động kinh doanh được, vì chưa được cấp phép.

Giấy phép kinh doanh được hiểu là "chứng thư pháp lý" do Nhà nước cấp cho chủ thể khi có đủ các điều kiện mà Nhà nước đặt ra. Khi có giấy phép kinh doanh này, chủ thể đó mới được phép tiến hành các hoạt động kinh doanh theo nội dung ghi trong giấy phép. Trong lĩnh vực hàng không hiện nay, việc cấp các loại giấy phép là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền có thể sẽ lạm dụng giấy phép như một công cụ quản lý kinh tế; biến giấy phép từ ngoại lệ thành cái thông lệ, từ cái hạn hữu thành cái tràn lan[6].

Xuất phát từ phân tích ở trên, để doanh nghiệp thực sự có được quyền tự do kinh doanh trong lĩnh vực hàng không, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát, nghiên cứu bỏ một số loại giấy phép kinh doanh không cần thiết.

Nhìn chung, quy định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không và điều kiện kinh doanh đối với lĩnh vực này ngày càng được hoàn thiện, tạo khung pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập trong quy định của pháp luật về lĩnh vực này. Để bảo đảm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, thu hút đầu tư và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, một số hạn chế về điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực hàng không cần được khẩn trương khắc phục theo đúng chỉ đạo của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đó là: Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh; rà soát, bãi bỏ các điều kiện kinh doanh không còn phù hợp; chấm dứt việc soạn thảo và ban hành điều kiện kinh doanh trái thẩm quyền[7].

Nguyễn Cao Hiến
Bộ Giao thông vận tải

Tài liệu tham khảo:

1. Khoản 1 Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014.

2. Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

3. Báo cáo về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đăng ngày 07/8/2014 tại

4. Theo Quyết định số 3110/QĐ-BGTVT ngày 28/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về công bố danh mục và nội dung thủ tục hành chính được chuẩn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Giao thông vận tải.

5. Nghị định số 94/2007/NĐ-CP ngày 04/6/2007 của Chính phủ về quản lý hoạt động bay.

6. Điều 14 Nghị định số 30/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung.

7. Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng.

8. Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, tr.107.


[1] Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

[2] Theo báo cáo về ngành, nghề kinh doanh có điều kiện của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đăng ngày 07/8/2014 tại

[3] Theo Quyết định số 3110/QĐ-BGTVT ngày 28/8/2015 của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải về công bố Danh mục và nội dung thủ tục hành chính được chuẩn hóa thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Giao thông vận tải.

[4] Nghị định số 94/2007/NĐ-CP ngày 04/6/2007 của Chính phủ về quản lý hoạt động bay.

[5] Điều 14 Nghị định số 30/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung. Hiện tại, Việt Nam có 4 doanh nghiệp (hãng) hàng không dân dụng là VietNam Airlines, Jetstar Pacific, Vietjet Air và VASCO. Ngoài ra, có 4 doanh nghiệp hàng không chung là Tổng công ty Trực thăng Việt Nam, Hãng hàng không Hải Âu, Công ty Hàng không lưỡng dụng Ngôi sao Việt, Công ty cổ phần hàng không Hành tinh xanh.

[6] Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành ở Việt Nam. Nxb. Chính trị quốc gia, 2004, tr.107.

[7] Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016 - 2017, định hướng đến năm 2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: