Thứ sáu 16/01/2026 00:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em và một số giải pháp hoàn thiện

Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác bảo vệ trẻ em, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những định hướng chỉ đạo, ban hành các quy định pháp luật cũng như thúc đẩy việc thực thi đạt hiệu quả. Tuy nhiên, công tác bảo vệ trẻ em hiện đang đối diện với nhiều thách thức, số lượng các vụ xâm hại trẻ em đang gia tăng, trong khi đó, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ. Vì vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em và tăng cường hiệu quả thực thi đang là vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay.


1. Chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em

Năm 1979, Nhà nước ta đã ban hành Pháp lệnh Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Đây được coi là văn bản pháp luật đầu tiên về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ngày 20/2/1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chăm lo cho sự nghiệp bảo vệ và giáo dục trẻ em. Ngày 12/8/1991, tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa IX đã thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (có hiệu lực thi hành từ ngày 16/8/1991). Đến ngày 15/6/2004, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) tạo ra hành lang pháp lý quan trọng trong công tác bảo vệ và giáo dục trẻ em, quy định tương đối đầy đủ các quyền và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình và ban, ngành, đoàn thể, tổ chức xã hội cùng tham gia thực hiện các quyền cơ bản của trẻ em. Đặc biệt đưa ra 10 nhóm quyền cơ bản của trẻ (từ Điều 11 đến Điều 20).

Ngày 05/4/2016, Luật Trẻ em được Quốc hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01/6/2017 (thay thế cho Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004). Sau nhiều lần bổ sung, sửa đổi từ nội dung đến tên gọi, Luật Trẻ em năm 2016 quy định khá đầy đủ, chi tiết và nhân văn bảo đảm mọi trẻ em đều được hưởng các quyền của mình. Nhiều điều khoản trong luật tương ứng và phù hợp với các quy định tại Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em. Bên cạnh đó, pháp luật về bảo vệ trẻ em còn được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong: Luật Giáo dục; Luật Hôn nhân và Gia đình; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Luật Bảo hiểm y tế; Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự... Ngoài ra, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình khác về bảo vệ trẻ em như: “Tháng hành động về trẻ em” được tổ chức vào tháng 6 hàng năm; “Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015”; “Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Mới đây nhất, ngày 07/01/2021, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 23/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2021 - 2030”.

Liên quan đến phòng chống xâm hại trẻ em, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (Điều 37). Luật Trẻ em năm 2016 cũng quy định: “Bảo vệ trẻ em là việc thực hiện các biện pháp phù hợp để bảo đảm trẻ em được sống an toàn, lành mạnh; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi xâm hại trẻ em; trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt” (Điều 4). Cụ thể hóa 03 cấp độ này, Luật Trẻ em quy định rõ: (i) Cấp độ phòng ngừa: Bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt (Điều 48). (ii) Cấp độ hỗ trợ: Bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em (Điều 49). (iii) Cấp độ can thiệp: Bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 50).

Ngoài ra, Luật Trẻ em cũng đặt ra các yêu cầu: (i) Bảo vệ trẻ em phải bảo đảm tính hệ thống, tính liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cấp, các ngành trong việc xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật và cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em. (ii) Cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ trẻ em. Việc bảo vệ trẻ em phải tuân thủ các quy định của pháp luật, quy trình, tiêu chuẩn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. (iii) Trẻ em được ưu tiên bảo vệ tại gia đình, gia đình nhận chăm sóc thay thế. Việc đưa trẻ em vào cơ sở trợ giúp xã hội là biện pháp tạm thời khi các hình thức chăm sóc tại gia đình, gia đình nhận chăm sóc thay thế không thực hiện được hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. (iv) Cha mẹ, người chăm sóc trẻ em và trẻ em phải được cung cấp thông tin, được tham gia ý kiến với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong việc ra quyết định can thiệp, hỗ trợ để bảo vệ trẻ em. (v) Coi trọng phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em; kịp thời can thiệp, giải quyết để giảm thiểu hậu quả; tích cực hỗ trợ để phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

2. Thực trạng thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ trẻ em

Theo báo cáo của Chính phủ[1], tính đến ngày 30/6/2019, cả nước có 24.776.733 trẻ em, chiếm 25,75% tổng dân số cả nước. Trong những năm qua, cùng với sự quan tâm của các ngành, các cấp, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, công tác bảo vệ và giáo dục trẻ em đã có chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền của trẻ em, như: Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe; quyền được giáo dục, học tập, phát triển năng khiếu; quyền bí mật đời sống riêng tư.

Đến nay, tất cả trẻ em dưới 06 tuổi được Nhà nước cấp bảo hiểm y tế miễn phí; gần 100% trẻ em dưới 01 tuổi được tham gia tiêm chủng mở rộng; gần 100% trẻ em 05 tuổi được đi học mẫu giáo; Nhà nước không thu học phí đối với học sinh học tiểu học; khoảng 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng chính sách trợ giúp xã hội. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng chưa bao giờ đi học hoặc đã thôi học đều giảm mạnh trong 20 năm qua, từ 20,9% năm 1999 xuống còn 16,4% năm 2009 và đến năm 2019 còn 8,3%[2]. Số trẻ em bỏ nhà đi lang thang đã giảm mạnh, nhiều địa phương triển khai các biện pháp tích cực để không còn trẻ em bỏ nhà đi lang thang… Tuy nhiên, tình hình trẻ em còn những vấn đề đáng quan tâm, trẻ em có nguy cơ bị xâm hại vẫn còn rất lớn; cụ thể: Có 8,3% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng hiện không đi học (7,7% đã thôi học và 0,6% chưa bao giờ đi học). Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt còn nhiều: 1.773.112 trẻ, chiếm 7,16% tổng số trẻ em[3]; số lượng trẻ em có cha mẹ mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật còn lớn...

Liên quan đến tình trạng xâm hại trẻ em, cũng theo báo cáo của Chính phủ, từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2019, cả nước đã phát hiện, xử lý về hình sự và xử lý hành chính: 8.442 vụ xâm hại trẻ em với 8.709 trẻ em bị xâm hại. Trong đó, xâm hại tình dục: 6.432 trẻ em, chiếm 73,85% tổng số trẻ em bị xâm hại; bạo lực trẻ em: 857 trẻ em (hành vi giết trẻ em: 191 trẻ, cố ý gây thương tích: 666 trẻ), chiếm 9,84% tổng số trẻ em bị xâm hại; mua bán, bắt cóc, chiếm đoạt trẻ em: 106 trẻ em, chiếm 1,22% tổng số trẻ em bị xâm hại... Ngoài số trẻ em bị xâm hại bởi các hình thức nêu trên, còn có 790.518 trẻ em lao động không đúng quy định của pháp luật về lao động; 156.932 trẻ bị bỏ rơi, bỏ mặc và khoảng 13.489 trẻ em 15 tuổi tảo hôn.

Điều đáng nói là, còn nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại nhưng chưa được phát hiện kịp thời, đầy đủ để xử lý, nhất là các hành vi bạo lực gây tổn hại về thể chất và tinh thần cho trẻ em. Nhiều vụ xâm hại trẻ em xảy ra nơi kín đáo, biệt lập; nhiều vụ xảy ra tại gia đình, ít có tố giác; nhiều vụ xâm hại xảy ra trong thời gian dài mới bị phát hiện; có vụ cha mẹ biết con bị xâm hại nhưng không tố giác vì lý do khác nhau; nhiều đối tượng xâm hại lợi dụng mạng xã hội, lấy tên, địa chỉ, nhân thân giả nên việc thu thập thông tin, điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn… Mặt khác, công tác theo dõi, thống kê số trẻ em bị xâm hại chưa được quan tâm đúng mức. Điều này dẫn đến số vụ việc xâm hại trẻ em đã bị phát hiện, xử lý chưa phản ánh đầy đủ tình hình thực tế.

3. Một số kiến nghị về giải pháp

Một là, hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em

Có thể nói, từ khi phê chuẩn Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, Việt Nam đã tiến những bước dài trong xây dựng chính sách, pháp luật về trẻ em, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khoảng trống pháp lý như: Quy định về quy trình tư pháp bảo vệ trẻ em, thân thiện với trẻ em và người chưa thành niên chưa cụ thể, thiếu quy định về điều tra thân thiện với trẻ em. Hệ thống xử lý hành chính và hình sự còn nhiều điểm chồng chéo, chưa có quy định cơ quan điều phối về tư pháp người chưa thành niên. Bên cạnh đó, nhiều đạo luật chưa được hướng dẫn kịp thời, một số quy định xử phạt còn nhẹ, chưa mang tính răn đe... Vì vậy, các nguyên tắc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền trẻ em; các yêu cầu về bảo vệ trẻ em, sự tham gia của trẻ em cần phải được xem xét, rà soát, bổ sung, sửa đổi các nội dung liên quan đến bảo vệ trẻ em trong toàn hệ thống pháp luật, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Giám định tư pháp, Luật Hôn nhân và gia đình...

Hơn nữa, vấn đề cấp thiết hiện nay là tội phạm trên môi trường mạng chưa được kiểm soát hiệu quả, những hậu quả về tâm lý, xã hội đối với trẻ em xảy ra trên môi trường mạng là rất lớn và nghiêm trọng so với các vụ xâm hại ở ngoài xã hội. Tuy nhiên, các quy định pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng còn thiếu và chưa đồng bộ. Quy định về trách nhiệm, quyền hạn cũng như sự phối hợp của các ngành, các cấp và gia đình trong phòng ngừa, tiếp cận thông tin, can thiệp sớm, bảo vệ khẩn cấp, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em bị xâm hại, bị bóc lột, trẻ em bị mua bán trên môi trường mạng còn chưa cụ thể. Các nhà cung cấp dịch vụ mạng internet chưa có hoặc thiếu phương án tiếp nhận, cảnh báo về các nội dung không phù hợp với trẻ em. Từ thực tế đó, nhiều chuyên gia cho rằng, hành lang pháp lý bảo vệ trẻ em hiện nay chỉ mới mang “mô hình của một ngôi nhà” chứ chưa hẳn là “một ngôi nhà an toàn, kiên cố và vững chắc”. Do đó, cần sớm nghiên cứu hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chế tài kiểm soát, xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

Hai là, quy định cụ thể trách nhiệm bảo vệ trẻ em

Qua thực tế nhận thấy, quyền của trẻ em được quy định trong Luật Trẻ em chưa được triển khai thực hiện quyết liệt, cụ thể là cấp độ phòng ngừa (được quy định tại Điều 48). Phòng là chính nhưng việc triển khai thực hiện chưa tốt. Công tác điều tra trẻ có hoàn cảnh khó khăn, trẻ yếu thế có nguy cơ bị xâm hại, việc đến địa bàn, hộ gia đình để tư vấn, ngăn ngừa xâm hại trẻ em ở nhiều địa phương làm chưa tốt, nên đã để xảy ra những vụ trẻ bị ngược đãi, xâm hại, hậu quả rất đau lòng. Quy định về trách nhiệm, quyền hạn cũng như sự phối hợp của các ngành, các cấp và gia đình trong phòng ngừa, tiếp cận thông tin, can thiệp sớm, bảo vệ khẩn cấp, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em bị xâm hại, bị bóc lột, trẻ em bị mua bán trên môi trường mạng còn chưa cụ thể, còn mang nặng tính hình thức. Đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em vẫn còn thiếu về số lượng, lực lượng kiêm nhiệm vẫn còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, kinh phí dành cho công tác này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.

Các chương trình dạy kỹ năng sống, các kỹ năng về phòng chống xâm hại, xâm hại tình dục, phòng chống đuối nước, tai nạn thương tích cho trẻ em nhất là trẻ em sinh sống ở vùng sâu vùng xa, hải đảo vẫn còn nặng tính lý thuyết và báo cáo, chưa được tiến hành thường xuyên nên chưa phát huy được hiệu quả. Riêng đối với các vùng đặc biệt khó khăn, tình trạng trẻ em bỏ học và suy dinh dưỡng, các dịch vụ hỗ trợ đảm bảo sức khỏe vẫn chưa được thực hiện đúng mức, chưa được tiếp cận đầy đủ các quyền cơ bản của trẻ em.

Từ thực tế nêu trên và qua báo cáo giám sát chuyên đề của Quốc hội về phòng, chống xâm hại trẻ em, tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 121/2020/QH14 về tiếp tục tăng cường hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em. Theo đó, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em, được quy định như sau: (i) Tăng cường công tác ban hành theo thẩm quyền chính sách, pháp luật, văn bản chỉ đạo, điều hành, các nội dung, chương trình, kế hoạch về bảo vệ trẻ em, phòng, chống xâm hại trẻ em phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương. Hàng năm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp việc thực hiện quyền trẻ em, giải quyết các vấn đề về trẻ em của địa phương, trong đó có nội dung phòng, chống xâm hại trẻ em theo quy định tại Luật Trẻ em. Ủy ban nhân dân cấp xã báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về tình hình và kết quả phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. (ii) Bảo đảm các trẻ em có nguy cơ xâm hại được áp dụng biện pháp hỗ trợ, các trẻ em bị xâm hại được áp dụng biện pháp can thiệp, trong đó, sớm quan tâm đối với nhóm trẻ có nguy cơ bị xâm hại để phòng ngừa việc xảy ra hành vi xâm hại với nhóm trẻ em này. Chỉ đạo các cơ quan chức năng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác phòng, chống xâm hại trẻ em; định kỳ hằng năm tổ chức thanh tra, kiểm tra chuyên đề về phòng, chống xâm hại trẻ em; bố trí công việc hợp lý cho cán bộ, công chức hoặc người hoạt động không chuyên trách làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã để bảo đảm thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo quy định của Luật Trẻ em. (iii) Ưu tiên bố trí quỹ đất, đầu tư xây dựng điểm vui chơi, giải trí, hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao cho trẻ em. Tiếp tục huy động nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước cho công tác trẻ em.

Ba là, nâng cao nhận thức và tăng cường phối hợp trong công tác bảo vệ trẻ em

Theo thống kê của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc[4], thì kỷ luật mang tính bạo lực vẫn còn phổ biến ở Việt Nam, với 68,4% trẻ em trong độ tuổi từ 01 - 14 tuổi cho biết, đã từng bị bạo hành bởi cha mẹ hoặc người chăm sóc trong gia đình. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, song trước hết, phải kể đến nhận thức của một số cá nhân trong cộng đồng. Quan niệm về giáo dục trẻ bằng đòn roi với lối suy nghĩ “thương cho roi cho vọt” đã ăn sâu khiến một số người lớn coi chuyện đánh đập, đối xử thô bạo với con trẻ là bình thường.

Để câu nói “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” không chỉ là khẩu hiệu, từng cá nhân và cả cộng đồng cần chung tay thay đổi nhận thức và hành động một cách mạnh mẽ và thực chất hơn, để trẻ em được sống trong tình yêu thương của gia đình và toàn xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, tạo làn sóng dư luận xã hội mạnh mẽ thông qua mạng xã hội để thúc đẩy cộng đồng và các cơ quan chức năng, các tổ chức xã hội cùng vào cuộc, giúp các em có nhận thức về quyền được bảo vệ khỏi nạn bạo hành và sự xâm hại bất kể dưới hình thức, mức độ nào và bất cứ ai. Cùng với đó, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng, giữa các cấp chính quyền trong hoạt động này. Theo quy định pháp luật hiện hành, trẻ em được bảo vệ bởi 17 cơ quan, tổ chức, đoàn thể từ địa phương đến Trung ương, nhưng trên thực tế, khi trẻ bị xâm hại thì lại ít được phát hiện bởi các tổ chức này. Bên cạnh đó, dù có nhiều đầu mối tiếp nhận thông tin, nhưng chỉ vài cơ quan có thực quyền xử lý khi trẻ em bị xâm hại là cơ quan bảo vệ trẻ em thuộc ngành Lao động, Thương binh và Xã hội và ngành Công an. Khi vụ việc đến mức xử lý hình sự thì có thêm sự tham gia của Viện kiểm sát và Tòa án. Các cơ quan còn lại, khi tiếp nhận thông tin về trẻ bị xâm hại cũng không thể xử lý được mà đều phải chuyển thông tin về cho cơ quan có thực quyền xử lý. Việc tiếp nhận thông tin rồi chuyển đi, chuyển lại, khiến giảm hiệu quả xử lý, đặc biệt là trong bối cảnh số lượng trẻ bị xâm hại và có tính chất phức tạp ngày càng gia tăng. Có trường hợp trẻ bị xâm hại, người thân không biết cầu cứu cơ quan nào, khiến cho việc thu thập chứng cứ gặp nhiều khó khăn. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để sớm phát hiện và ngăn chặn những hành vi xâm hại trẻ em? Đơn vị nào tiếp nhận và xử lý hiệu quả nhất? Đã đến lúc các cơ quan có thẩm quyền cần sớm nghiên cứu, giảm bớt các đầu mối không hiệu quả, xây dựng một cơ quan thật sự chuyên nghiệp, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn và bảo vệ trẻ em có nguy cơ bị bạo hành, xâm hại.

TS. Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Học viện Cảnh sát nhân dân


[1]. Báo cáo số 217/BC-CP ngày 14/5/2020 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

[2]. Báo cáo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê.

[3]. Báo cáo số 217/BC-CP ngày 14/5/2020 của Chính phủ về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em.

[4]. Ngăn ngừa bạo lực đối với trẻ em, làm thế nào để điều này góp phần xây dựng những nền kinh tế vững mạnh hơn, UNICEF - 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: