Thứ sáu 08/05/2026 21:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về quấy rối tình dục tại nơi làm việc - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

Bài viết nghiên cứu thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật dựa trên các trường hợp thực tế về tình trạng quấy rối tình dục tại nơi làm việc để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu quấy rối tình dục tại nơi làm việc.

1. Vài nét khái quát về quấy rối tình dục tại nơi làm việc

1.1. Nhận diện quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Quấy rối tình dục (QRTD) tại nơi làm việc được coi là chủ đề tế nhị khi được đề cập đến và thảo luận trước công chúng. Những năm gần đây, vấn đề về QRTD tại nơi làm việc đã bắt đầu thu hút được nhiều sự quan tâm từ người dân Việt Nam và cả thế giới. Bằng chứng là, khi nhập cụm từ QRTD tại nơi làm việc trên thanh tìm kiếm của Google, trong vòng 0,32 giây đã cho ra hơn 1.620.000 kết quả có liên quan.

Nhận ra mối nguy hại đến từ hành vi QRTD, Nhà nước đã ban hành các quy định pháp luật nhận diện và xử lý hành vi này, trong đó, Bộ luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động năm 2019 và văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định nghiêm cấm hành vi QRTD về biện pháp phòng, chống QRTD tại nơi làm việc.

QRTD là một hình thức phân biệt đối xử dựa trên giới, bản dạng giới, biểu hiện giới tính hoặc xu hướng tính dục. Các cá nhân thuộc bất kỳ giới tính nào cũng có thể trở thành nạn nhân của QRTD[2].

Theo quy định tại Điều 3 Đạo luật Bảo vệ khỏi hành động quấy rối năm 2014 của Singapore, quấy rối tại nơi làm việc là khi đối tượng thể hiện hành vi gây ra hoặc có khả năng gây ra sự quấy rối, sự lo lắng, sợ hãi hoặc gây nỗi buồn, sự đau khổ cho nạn nhân. Hành vi có thể là quấy rối tại nơi làm việc ở Singapore bao gồm đe doạ, lạm dụng, sỉ nhục, quay lén, đụng chạm vào cơ thể trái ý muốn...

Tại Anh, Đạo luật Bình đẳng năm 2010 định nghĩa, QRTD là hành vi xảy ra một lần hoặc liên tục, bao gồm tán tỉnh, nhận xét khiếm nhã về cơ thể, quần áo, ngoại hình; đặt câu hỏi về đời sống tình dục của người khác, đưa ra nhận xét hoặc đùa cợt về khuynh hướng tình dục, giới tính; chạm vào ai đó trái với ý muốn của họ. Nó có thể xảy ra trực tiếp hoặc xảy ra theo những hình thức khác như gửi email, nhắn tin...

Trong khi đó, tại Mỹ, Ủy ban Cơ hội việc làm công bằng (EEOC) định nghĩa, QRTD là hành vi dùng lời ve vãn tình dục, yêu cầu quan hệ tình dục trái ý muốn của người khác; có cử chỉ, lời nói gợi ý về tình dục mà thái độ phục tùng hay phản đối của cá nhân được gợi ý có liên quan đến quyền lợi, công việc, môi trường làm việc của cá nhân đó.

Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, “QRTD tại nơi làm việc là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận. Nơi làm việc là bất kỳ nơi nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động”. Hành vi này có thể xảy ra dưới dạng trao đổi như đề nghị, yêu cầu, gợi ý, đe dọa, ép buộc đổi quan hệ tình dục lấy bất kỳ lợi ích nào liên quan đến công việc; hoặc những hành vi có tính chất tình dục không nhằm mục đích trao đổi nhưng khiến môi trường làm việc trở nên khó chịu và bất an, gây tổn hại về thể chất, tinh thần, hiệu quả công việc và cuộc sống của người bị quấy rối. Hành vi QRTD được liệt kê cụ thể tại khoản 2 Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động (Nghị định số 145/2020/NĐ-CP) như sau: (i) Hành vi mang tính thể chất gồm hành động, cử chỉ, tiếp xúc, tác động vào cơ thể mang tính tình dục hoặc gợi ý tình dục; (ii) QRTD bằng lời nói gồm lời nói trực tiếp, qua điện thoại hoặc qua phương tiện điện tử có nội dung tình dục hoặc có ngụ ý tình dục; (iii) QRTD phi lời nói gồm ngôn ngữ cơ thể; (iv) Trưng bày, miêu tả tài liệu trực quan về tình dục hoặc liên quan đến hoạt động tình dục trực tiếp hoặc qua phương tiện điện tử.

Thuật ngữ “nơi làm việc” được quy định lần đầu trong Bộ quy tắc ứng xử về QRTD tại nơi làm việc được ban hành vào ngày 25/5/2015 bởi Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam - VCCI) và được luật hóa trong Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. Theo quy định tại khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động năm 2019, nơi làm việc là địa điểm, không gian mà người lao động phải có mặt để thực hiện công việc theo thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của người sử dụng lao động, là bất cứ địa điểm nào mà người lao động thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của người sử dụng lao động, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như các hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do người sử dụng lao động bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do người sử dụng lao động cung cấp và địa điểm khác do người sử dụng lao động quy định.

Trước đó, nhiều quan điểm cho rằng, động chạm vào vùng nhạy cảm hay có quan hệ tình dục mà không có sự cho phép của người còn lại thì mới được xem là QRTD. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật Lao động năm 2019, Nghị định số 145/2020/NĐ-CP được ban hành đã cho thấy cái nhìn khách quan hơn về vấn đề này. Theo đó, không chỉ động chạm vào vùng nhạy cảm hay có quan hệ tình dục mới được xem là hành vi QRTD mà những cử chỉ khác như sờ mó, vuốt ve… hay thậm chí là cái liếc mắt, nháy mắt nếu nhằm mục đích xấu mà đối phương cảm thấy khó chịu thì cũng được xem là một dạng của hành vi QRTD.

Trên cơ sở phân tích các khái niệm đã nêu trên, có thể thấy, QRTD tại nơi làm việc là hành vi mang tính chất tình dục hoặc mang ý gợi dục của bất kỳ người nào đối với người khác tại nơi làm việc mà người đó không mong muốn và không chấp nhận. QRTD tại nơi làm việc có thể xảy ra dưới các hành vi như lời nói, phi lời nói, thị giác, ám thị, cử chỉ, hành động với mục đích tình dục, gây mất thoải mái hoặc ảnh hưởng đến môi trường làm việc. Hành vi đó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần, cảm xúc của người bị quấy rối mà còn gây bất lợi đến hiệu suất làm việc cũng như năng suất lao động bị giảm sút. Nơi làm việc là bất kỳ địa điểm hoặc môi trường nào mà người lao động phải ở đó để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao.

1.2. Đặc điểm của quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Thứ nhất, về chủ thể, thường là cá nhân, có thể là nam hoặc nữ, không phân biệt giới tính. Mặc dù không có quy định rõ ràng, tuy nhiên, nạn nhân của QRTD thường là nữ giới, vẫn có trường hợp người bị quấy rối là nam giới.

Thứ hai, về hành vi QRTD, được thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau như bằng lời nói, phi lời nói hay các hành động mang tính thể chất. Các hành vi này được thực hiện và thường nhắm đến đối tượng cụ thể nhưng lại không nhận được sự đồng ý hay sự chấp nhận từ phía đối phương. QRTD phải được thể hiện dưới dạng hành động, nếu không thì rất khó để kết luận hành vi đó có được gọi là QRTD hay không, có gây ảnh hưởng đến người khác hay có thỏa mãn nhu cầu của người thực hiện hành vi quấy rối không.

Thứ ba, một hành vi bị coi là QRTD khi hành vi đó trái với mong muốn của đối phương (người tiếp nhận hành vi), có nghĩa là nạn nhân luôn thể hiện sự chống cự, thái độ cự tuyệt, không đồng ý với hành vi của người thực hiện hành vi quấy rối.

Thứ tư, địa điểm thực hiện quấy rối tại nơi làm việc rất đa dạng, không phải chỉ ở nơi làm việc chính của người lao động, mà còn ở phạm vi rộng hơn như các buổi hội nghị, chuyến đi công tác, gặp gỡ khách hàng và một số nơi khác.

Thứ năm, phạm vi bài nghiên cứu này đề cập đến nạn QRTD ở chốn công sở hay nơi làm việc. Ở những nơi này, cả người lao động và người sử dụng lao động, dù là nam hay nữ đều phải tuân thủ một số nguyên tắc về trang phục của nơi làm việc. Điều này cho thấy, yếu tố giới tính không phải là nguyên nhân của hành vi này, hay yếu tố trang phục thường được nhắc đến trong các vụ QRTD cũng không phải là yếu tố khiến nạn nhân bị thực hiện hành vi QRTD. Tuy nhiên, thực tế lại cho thấy rằng, trong nhiều trường hợp, khi một vụ việc QRTD xảy ra, người QRTD thường có suy nghĩ lệch lạc và cho rằng, trang phục của nạn nhân mới là nguyên nhân chính để họ thực hiện hành vi và đổ lỗi ngược lại cho nạn nhân.

2. Thực trạng pháp luật về quấy rối tình dục tại nơi làm việc

Hiện nay, pháp luật Việt Nam về QRTD vẫn còn tồn tại một số bất cập. Bên cạnh đó, nhận thức về hành vi QRTD của người lao động, người sử dụng lao động chưa thực sự đầy đủ. Nạn nhân thường có tâm lý e dè, không dám tố giác hành vi QRTD khiến cho việc phát hiện và xử lý gặp nhiều khó khăn.

Một cuộc khảo sát của tổ chức quốc tế với khoảng 1.000 nữ công nhân ngành may mặc đã cho thấy, tình trạng QRTD tại Việt Nam là rất khẩn cấp và đáng báo động. Có đến khoảng 87,7% đã từng bị bạo lực hoặc quấy rối bằng lời nói; có đến 34,3% từng bị quấy rối, xâm phạm thân thể; 29% bị quấy rối bằng hình thức phi ngôn ngữ như cử chỉ gợi dục; 10% bị đe dọa chấm dứt hợp đồng, giữ lương nếu tố giác hoặc phản ứng; có đến 10% được hứa hẹn đổi tình dục để thăng chức[3].

Bên cạnh đó, cũng có một số chia sẻ xoay quanh vấn nạn QRTD khi người bị quấy rối lại trở thành tâm điểm của sự chỉ trích thay vì những đối tượng thực hiện hành vi quấy rối. Trên thực tế, khi một vụ QRTD xảy ra, thay vì lên án, chỉ trích người thực hiện hành vi quấy rối, thì lại có một số người lại cố gắng móc nối một cách mặc nhiên và vô cảm đến trang phục nạn nhân đã mặc với sự việc mà họ gặp phải mà không quan tâm về đạo đức, nhân cách của đối tượng có hành vi quấy rối[4].

Dù đã có một số khảo sát về vấn đề QRTD tại nơi làm việc, tuy nhiên vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của các số liệu hiện có và vẫn chưa có nghiên cứu toàn diện nào về tác động hoặc phạm vi của QRTD tại Việt Nam, cùng với đó là những quan điểm sai lệch đổ lỗi cho nạn nhân. Chính bởi tình trạng này mà vấn nạn QRTD vẫn tiếp tục có những trường hợp không được báo cáo và có thể lan rộng.

QRTD được quy định lần đầu trong Bộ luật Lao động năm 2012 và được hoàn thiện hơn tại Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về QRTD tại nơi làm việc vẫn còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như sau:

Thứ nhất, quy định về các hình thức QRTD còn chung chung, chưa rõ ràng, khó nhận diện hành vi trên thực tế, ví dụ như, quy định về QRTD bằng ngôn ngữ cơ thể theo Điều 84 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. Điều này khiến người lao động không hiểu rõ về hành vi quấy rối, vì vậy, gây khó khăn trong việc bảo vệ bản thân; các doanh nghiệp cũng khó xác định được hành vi quấy rối, gây khó khăn trong việc xây dựng quy tắc cụ thể về QRTD trong đơn vị mình. Ngoài ra, khi chưa có định nghĩa cụ thể, đội ngũ thanh tra lao động cũng rất khó áp dụng pháp luật để xử lý các vụ việc khi có yêu cầu. Thậm chí, luật sư cũng khó có thể xác định hành vi nào được coi là QRTD nơi làm việc[5]. Có thể thấy, các quy định của pháp luật chỉ đang nhận diện một cách cơ bản và mà chưa nêu rõ tiêu chí xác định về hành vi QRTD tại nơi làm việc.

Thứ hai, khi có hành vi QRTD xảy ra, nạn nhân muốn tố cáo phải có đầy đủ những chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm đó. Tuy nhiên, trên thực tế, điều này rất khó để chứng minh, vì hành vi này xảy ra bất chợt, khó lường trước, phụ thuộc vào mục đích của người QRTD, nạn nhân rất khó có thể ứng biến kịp thời nhằm thu thập chứng cứ. Ngoài ra, người thực hiện hành vi QRTD thường chọn những địa điểm vắng vẻ, ít người chú ý hoặc ở những nơi góc khuất của camera để thực hiện hành vi đồi bại nên việc tìm chứng cứ chứng minh lại càng khó khăn. Trong khi đó, nếu như tố cáo nhưng bằng chứng chứng minh không đầy đủ dẫn tới việc tố cáo không thành sẽ có thể gây ra tình trạng “trả đũa” của người gây ra hành vi QRTD.

Thứ ba, trường hợp xử lý kỷ luật sa thải vì hành vi QRTD tại nơi làm việc, pháp luật hiện hành trao quyền cho người sử dụng lao động quy định trong nội quy lao động. Theo quy định tại khoản 2 Điều 125 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động được quyền xử lý kỷ luật lao động nhưng chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi QRTD này được quy định trong nội quy lao động, có nghĩa là, quyền quyết định thuộc về người sử dụng lao động. Điều này mang tính chủ quan, phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của người sử dụng lao động, có thể dẫn đến việc một số doanh nghiệp không quan tâm cũng như không có quy định rõ ràng về vấn đề QRTD trong nội quy lao động nên thiếu khách quan trong quá trình xử lý.

3. Một số khuyến nghị

Thứ nhất, cần đưa ra khái niệm QRTD một cách rõ ràng, đồng thời quy định cụ thể cách thức nhận diện hành vi QRTD tại nơi làm việc. Cần ban hành văn bản riêng biệt quy định về QRTD tại nơi làm việc hoặc sổ tay hướng dẫn người sử dụng lao động và người lao động tham khảo, áp dụng. Ngoài ra, khái niệm QRTD trong Bộ luật Lao động cũng cần bao gồm cả hành vi QRTD có đi có lại (có sự trao đổi qua lại) và hành vi QRTD tạo ra môi trường làm việc thù địch, tức là hành vi quấy rối liên quan đến việc trao đổi trực tiếp các lợi ích về tình dục để đổi lấy lợi ích trong công việc hoặc nghề nghiệp (quấy rối có đi có lại) và những hành vi không mong muốn, những lời bình luận, nhận xét hoặc hành vi phi lời nói mang tính chất tình dục dẫn đến môi trường làm việc không thoải mái hoặc không an toàn. Việc hoàn thiện khái niệm QRTD, cách nhận dạng, mô tả hành vi QRTD trong những quy định pháp luật là một giải pháp quan trọng.

Thứ hai, trên thực tế việc thu thập cũng như tìm kiếm chứng cứ chứng minh gặp nhiều khó khăn, hoặc người quấy rối cố tình thực hiện những hành vi không để lại dấu tích trên người nạn nhân hay tại hiện trường. Vì vậy, cần trang bị nhiều thiết bị giám sát ở những nơi góc khuất, dễ bị các đối tượng nhắm đến để thực hiện hành vi. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động cần quan tâm đến quá trình làm việc của người lao động để có thể nắm bắt kịp thời tình trạng của họ, từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn.

Thứ ba, cần quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc phòng chống QRTD tại nơi làm việc. Một trong những giải pháp hiệu quả để ngăn chặn QRTD tại nơi làm việc là người sử dụng lao động nên có các chính sách về phòng, chống QRTD tại nơi làm việc và quy định rõ ràng trong nội quy công ty. Hiện nay, vẫn còn tồn tại một số doanh nghiệp không quan tâm cũng như không có nội quy, quy định hoặc có quy định nhưng chỉ mang tính đối phó. Song, pháp luật lao động hiện hành lại trao quyền quyết định cho người sử dụng lao động. Vì vậy, cần có những quy định rõ ràng hơn để ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động trong ứng phó và phòng ngừa QRTD tại nơi làm việc. Có thể nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc, liên quan đến vấn đề QRTD tại nơi làm việc được quy định trong Đạo luật Công bằng tình dục và quyền lợi điều tra ở nơi làm việc, một phần của Luật Quyền lao động, trong đó yêu cầu các tổ chức và doanh nghiệp phải thiết lập các chính sách và quy trình cụ thể để phòng chống QRTD tại nơi làm việc. Theo Luật Lao động Ấn Độ, bất kỳ người sử dụng lao động nào có hơn 10 nhân viên phải thành lập Ủy ban Khiếu nại nội bộ, tạo điều kiện cho bất kỳ nhân viên nữ nào cũng có thể tiếp cận để nộp đơn khiếu nại QRTD, do nữ lãnh đạo và phải có bên thứ ba từ tổ chức phi Chính phủ[6].

Thứ tư, nâng cao nhận thức cho người lao động về QRTD. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Công đoàn Việt Nam cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn, chương trình truyền hình, tổ chức các cuộc thi, phổ biến cho người lao động hiểu rõ hơn về hành vi QRTD tại nơi làm việc cũng như các biện pháp phòng, chống và các hình thức xử lý đối với hành vi QRTD tại nơi làm việc. Đây không chỉ là hoạt động nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác đối với vấn nạn QRTD mà còn là hoạt động giúp người lao động có thể thực hành, đúc kết kinh nghiệm, từ đó có những biện pháp xử lý, ứng phó kịp thời với hành vi QRTD tại nơi làm việc, khuyến khích họ dũng cảm tố giác những kẻ có hành vi sai phạm.

Thứ năm, thành lập cơ quan chuyên trách trong việc tiếp nhận và giải quyết các vụ việc QRTD tại nơi làm việc. Có thể nghiên cứu, tham khảo pháp luật Hoa Kỳ, theo đó, QRTD tại nơi làm việc là hành vi vi phạm quyền lợi công dân và có thể bị kiện dựa trên Đạo luật Dân quyền năm 1964. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn có EEOC chịu trách nhiệm quản lý và bảo đảm thực thi các các quy định về phân biệt đối xử và QRTD tại nơi làm việc. EEOC có quyền tiếp nhận và điều tra các khiếu nại liên quan đến QRTD. Do đó, người lao động có thể dễ dàng khiếu nại, yêu cầu giải quyết hành vi QRTD bất cứ lúc nào tại EEOC. Hay tại Ấn Độ, mọi quận, huyện phải thành lập một Ủy ban địa phương để tiếp nhận khiếu nại của phụ nữ làm việc trong các công ty có dưới 10 nhân viên và từ khu vực phi chính thức.

Thứ sáu, thành lập các phòng tư vấn tâm lý, phục hồi sức khỏe tinh thần cho nạn nhân sau khi bị QRTD. Đối với những nạn nhân sau khi trải qua QRTD sẽ thường gặp nhiều vấn đề tâm lý, vì vậy, họ rất cần có sự quan tâm cũng như giúp đỡ từ doanh nghiệp. Sau những sự cố QRTD, việc thành lập một phòng tư vấn tâm lý cho nạn nhân bị QRTD là cần thiết. Phòng tư vấn không chỉ đơn thuần là nơi hỗ trợ tâm lý mà còn là một không gian an toàn, nơi mọi người có thể chia sẻ trải nghiệm và tìm kiếm sự hiểu biết. Với sự giúp đỡ từ các chuyên gia, nạn nhân bị QRTD được hỗ trợ trong việc phục hồi sức khỏe tinh thần và xây dựng lại niềm tin vào bản thân. Có thể nghiên cứu và tham khảo kinh nghiệm của Hàn Quốc, người lao động được bảo đảm quyền tiếp cận các biện pháp bảo vệ và hỗ trợ như tư vấn, hướng dẫn và kiểm tra y tế tâm lý sau khi trải qua tình huống QRTD. Với việc bảo vệ quyền lợi và sự tôn trọng cá nhân được đặt lên hàng đầu, Đạo luật Công bằng tình dục và quyền lợi điều tra ở nơi làm việc tại Hàn Quốc cung cấp một khung pháp lý mạnh mẽ để bảo đảm môi trường làm việc an toàn và công bằng cho tất cả các nhân viên./.

ThS. Hồ Thị Thanh Trúc & nhóm sinh viên[1]

Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Tài chính - Marketing

[1]. Nhóm sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoài Bảo Trâm, Phan Thị Phương Anh, Nguyễn Ngọc Linh, Ngô Thị Hồng Ngọc, Lê Ngọc Phương Thanh.

[2]. Civil Right Department (2020), Quấy rối tình dục (https://calcivilrights.ca.gov/wp-content/uploads/sites/32/2020/04/SexualHarassmentFactSheet_VT.pdf).

[3]. Minh Hiếu (2022), Quấy rối tình dục nơi công sở: Chuyện dễ đùa, khó xử lý (https://vovgiaothong.vn/quay-roi-tinh-duc-noi-cong-so-chuyen-de-dua-kho-xu-ly-d27035.html).

[4]. Vnexpress (2020), Quấy rối tình dục nơi công sở - dừng đổ lỗi cho nạn nhân (https://vnexpress.net/quay-roi-tinh-duc-noi-cong-so-dung-do-loi-cho-nan-nhan-4062891.html).

[5]. Tùng Anh (2023), Pháp lý về quấy rối tình dục tại nơi làm việc chưa đủ sát thực tế, https://theleader.vn/phap-ly-ve-quay-roi-tinh-duc-tai-noi-lam-viec-chua-du-sat-thuc-te-1680082775114.htm.

[6]. Internal Complaints Committee(ICC) - Women, https://dst.gov.in/internal-complaints-committee-icc-women, truy cập ngày 13/02/2024.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 401), tháng 3/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.

Theo dõi chúng tôi trên: