Thứ năm 02/04/2026 04:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu pháp luật của Việt Nam và của một số quốc gia về thành viên độc lập Hội đồng quản trị dưới góc độ so sánh. Từ đó, tác giả đưa ra một số đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị dựa trên những tham khảo từ pháp luật nước ngoài.

Abstract: The article studies the laws of Vietnam and some countries on independent members of the Board of Directors from a comparative perspective. From there, the author makes a number of proposals to amend and supplement the law on independent members of the Board of Directors based on references from foreign laws.

1. Quy định về thành viên độc lập trong công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam và một số quốc gia

Trong pháp luật của hầu hết các quốc gia, Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý, điều hành của công ty cổ phần và người đứng đầu là Chủ tịch HĐQT. Đôi khi, Chủ tịch HĐQT cũng sẽ đồng thời kiêm Giám đốc điều hành. Tuy vậy, một số quy tắc quản trị công ty yêu cầu hoặc đặc biệt khuyến khích sự tách biệt giữa Chủ tịch và Giám đốc điều hành. Một trong những điểm tách biệt quan trọng chính là giữa thành viên HĐQT điều hành và thành viên HĐQT không điều hành (hay thành viên bên ngoài). Thành viên điều hành là những người lao động nắm giữ vị trí quản lý trong công ty còn thành viên bên ngoài chỉ là thành viên HĐQT chứ không giữ vị trí gì khác trong công ty, nhất là các vị trí quản lý. Thành viên không điều hành hay thành viên bên ngoài được coi là “độc lập” khỏi công ty bởi họ không tham gia vào hoạt động thường ngày của công ty và thù lao trả cho họ thường không phụ thuộc vào tình hình kinh doanh của công ty[1].

Một số quốc gia còn yêu cầu công ty cổ phần phải có hai HĐQT, một hội đồng chỉ có các thành viên điều hành và sẽ được giám sát bởi hội đồng thứ hai gồm những thành viên không phải là người điều hành công ty. Như vậy, có thể có 02 loại thành viên HĐQT, đó là: (i) Thành viên là người lao động của công ty và là người điều hành công ty; (ii) Thành viên không điều hành công ty. Những thành viên HĐQT không điều hành công ty có thể đại diện cho những nhà đầu tư, chủ nợ hoặc không có mối liên quan trước đó nào với công ty. Ví dụ, họ có thể làm trong lĩnh vực, ngành nghề hoàn toàn khác và được bổ nhiệm vào HĐQT vì chuyên môn hoặc sự độc lập của họ. Đôi khi, những thành viên không điều hành này được gọi là thành viên ngoài công ty, mặc dù họ có thể đã từng làm việc cho công ty trong một thời gian dài trước khi trở thành thành viên ngoài công ty[2].

Pháp luật Việt Nam không đưa ra khái niệm về thành viên không điều hành hay thành viên độc lập. Cụ thể, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập và yêu cầu số lượng thành viên độc lập tối thiểu. Còn Luật Chứng khoán năm 2019 cũng chỉ yêu cầu HĐQT của công ty đại chúng phải bảo đảm sự cân đối giữa các thành viên HĐQT điều hành và không điều hành, số lượng thành viên HĐQT độc lập để bảo đảm tính độc lập của HĐQT (điểm a khoản 3 Điều 41).

1.1. Tiêu chuẩn và điều kiện của thành viên độc lập

Tính độc lập được định nghĩa một cách chung chung trong Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh (UK Corporate Governance Code) thông qua việc liệt kê những yếu tố có thể ảnh hưởng đến tính độc lập. Tuy vậy, HĐQT có thể quyết định một thành viên không điều hành là thành viên độc lập kể cả khi thành viên đó không đáp ứng được một trong những tiêu chuẩn trên nếu HĐQT đưa ra được “giải thích rõ ràng”[3]. Việc một thành viên đại diện cho một cổ đông lớn của công ty có phải là thành viên độc lập vẫn còn là câu hỏi gây tranh cãi. Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh khá nghiêm ngặt trong vấn đề này, cụ thể, thành viên HĐQT đại diện cho một cổ đông lớn sẽ không được coi là thành viên độc lập. Ngược lại, một số quốc gia như Pháp hoặc Tây Ban Nha lại có chính sách mềm dẻo hơn. Các nhà làm luật sợ rằng việc quy định tính độc lập quá cứng nhắc sẽ làm giảm số lượng những ứng cử viên phù hợp để trở thành thành viên HĐQT.

Sàn giao dịch chứng khoán New York (New York Stock Exchange - NYSE) có định nghĩa tính độc lập là thành viên đó không trực tiếp hoặc gián tiếp có quan hệ sở hữu với công ty. Tương tự như Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh, định nghĩa được bổ sung bởi những yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập của thành viên độc lập như là người lao động của công ty trong vòng 03 năm liền trước, được trả thù lao đáng kể ngoài thù lao của thành viên HĐQT, là vợ/chồng hoặc là người làm việc cho kiểm toán viên của công ty. Tuy vậy, có sự khác biệt đáng kể giữa pháp luật Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, đó là: (i) Nếu thành viên không đáp ứng được một trong các tiêu chuẩn trên, thành viên đó không phải là thành viên độc lập, HĐQT không có quyền quyết định về vấn đề này; (ii) Việc là một cổ đông lớn hoặc đại diện cho một cổ đông lớn không ảnh hưởng đến tính độc lập của thành viên. Các nhà làm luật Hoa Kỳ giải thích rằng, mối quan tâm của họ là sự độc lập với vấn đề điều hành công ty chứ không phải độc lập với các cổ đông lớn của công ty. Ở Hoa Kỳ và thậm chí cả ở Anh, kể cả những cổ đông lớn cũng chưa chắc sẽ có tầm ảnh hưởng chi phối trong công ty. Tiếng nói của các nhà đầu tư lớn ở HĐQT có thể nâng cao cơ chế giám sát trong điều hành công ty và do đó sẽ có lợi cho các cổ đông khác. Hơn nữa, nếu tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn và quan trọng bị đặt quá thấp, số lượng ứng cử viên phù hợp cho vị trí thành viên HĐQT độc lập sẽ giảm đi[4].

So với pháp luật của Vương quốc Anh và Hoa Kỳ, Bộ quy tắc quản trị công ty của Đức (German Corporate Governance Code) quy định về tính độc lập khá mở. Trong đó, tính độc lập được hiểu là không có quan hệ cá nhân hoặc kinh doanh với công ty, cơ quan điều hành của công ty, một cổ đông chi phối hoặc một công ty liên kết với cổ đông chi phối mà có thể dẫn dến xung đột lợi ích đáng kể hoặc tạm thời (Điều 5.4.2).

Định nghĩa “tính độc lập” trong pháp luật Cộng hòa Pháp lại có điểm tương đồng với pháp luật Vương quốc Anh, cụ thể, theo một nguyên tắc chung, một thành viên HĐQT sẽ được coi là độc lập nếu ý chí của thành viên đó không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ quan hệ nào với công ty, nhóm công ty hoặc cơ quan điều hành của công ty[5]. Định nghĩa chung này được mở rộng bởi các tiêu chuẩn như không có quan hệ lao động với công ty trong vòng 05 năm liền trước, không phải khách hàng, nhà cung cấp, chủ ngân hàng quan trọng của công ty hoặc có quan hệ gia đình với một thành viên điều hành[6]. Tuy vậy, các tiêu chí trên không phải là yếu tố quyết định. HĐQT của công ty vẫn có thể quyết định một thành viên không phải là thành viên độc lập vì một lí do nào đó dù thành viên này đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về tính độc lập. Ngược lại, một thành viên không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn cũng vẫn có thể trở thành thành viên độc lập nếu đó là quyết định của HĐQT. Ngoài ra, pháp luật Cộng hòa Pháp cũng yêu cầu thành viên độc lập phải không có sự liên kết với cổ đông lớn của công ty, mặc dù không có định nghĩa thế nào là một cổ đông lớn[7].

Theo quy định của Điều 155 Luật Doanh nghiệp năm 2020, bên cạnh những yêu cầu chung với tất cả thành viên HĐQT như không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp, có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản trị kinh doanh hoặc trong lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh của công ty, thành viên độc lập sẽ phải đáp ứng hai nhóm tiêu chuẩn và điều kiện riêng. Nhóm thứ nhất là các tiêu chuẩn, điều kiện về quan hệ tài sản nhằm bảo đảm rằng những quyết định của thành viên độc lập HĐQT không nhằm thu về những khoản lợi ích về tài sản cho chính cá nhân và người liên quan của họ, gồm: Không phải là người đang hưởng lương, thù lao từ công ty, trừ các khoản phụ cấp mà thành viên HĐQT được hưởng theo quy định; không phải là người trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu ít nhất 01% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của công ty. Nhóm thứ hai là các tiêu chuẩn, điều kiện về quan hệ nhân thân nhằm bảo đảm thành viên độc lập HĐQT không có bất kỳ mối liên hệ nào với công ty (bao gồm cả mối liên hệ với những cá nhân, tổ chức thuộc công ty) trong một khoản thời gian nhất định trước đó, gồm: Không phải là người đang làm việc hay đã từng làm việc (ít nhất trong 03 năm liền trước đó) cho công ty, công ty mẹ hoặc công ty con của công ty; không phải là người có quan hệ gia đình với cổ đông lớn của công ty, người quản lý của công ty hoặc công ty con của công ty; không phải là người đã từng làm thành viên HĐQT, Ban kiểm soát của công ty ít nhất trong 05 năm liền trước đó, trừ trường hợp được bổ nhiệm liên tục hai nhiệm kỳ. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định riêng về tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập HĐQT trong tổ chức tín dụng nhưng vẫn giống với tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 2020.

Tuy tính độc lập không phải là đặc điểm pháp lý của thành viên ngoài công ty nhưng để thực hiện chức năng của mình một cách hiệu quả, những thành viên không điều hành này không những chỉ ở bên ngoài mà còn phải độc lập với hoạt động điều hành công ty. Trong trường hợp này, họ được gọi là thành viên HĐQT độc lập (independent non-executive directors). Mức độ độc lập sẽ tùy theo pháp luật của từng quốc gia nhưng thông thường, tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành thành viên độc lập bao gồm: (i) Không phải là người đã từng làm việc cho công ty trong một khoảng thời gian nhất định trước khi trở thành thành viên độc lập; (ii) Không có quan hệ kinh doanh với công ty; (iii) Không có quan hệ gia đình với người điều hành công ty. Các thành viên không độc lập là các thành viên không điều hành và họ sẽ mất tư cách “độc lập” của mình nếu họ tham gia vào hoạt động điều hành công ty nhưng không phải tất cả thành viên không điều hành đều độc lập, ví dụ như luật sư của công ty có thể trở thành thành viên không điều hành chứ không thể trở thành thành viên độc lập[8].

1.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập

Như đã phân tích ở trên, các văn bản pháp luật về công ty ở nhiều quốc gia hiện vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa các loại thành viên. Do vậy, về cơ bản, quyền của nghĩa vụ của thành viên độc lập cũng giống như quyền và nghĩa vụ của các thành viên khác trong HĐQT. Mặc dù vậy, vẫn có một số văn bản pháp luật về quản trị công ty có quy định cụ thể về nghĩa vụ của thành viên độc lập.

Bộ quy tắc quản trị công ty của Vương quốc Anh yêu cầu các công ty cổ phần phải chỉ định một “thành viên độc lập cấp cao” để làm trung gian cho các vấn đề không thể giải quyết được thông qua trao đổi giữa Chủ tịch HĐQT, Giám đốc điều hành và các thành viên HĐQT khác (Điều 12). Thành viên độc lập cấp cao cũng phải tổ chức các buổi họp cho các thành viên không điều hành mà không có sự tham gia của các thành viên điều hành ngoại trừ Chủ tịch HĐQT và cả những buổi họp không có sự có mặt của Chủ tịch HĐQT để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của Chủ tịch[9].

Pháp luật của các quốc gia như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ… thường nhắc đến hai nghĩa vụ quan trọng nhất của thành viên HĐQT, đó là “nghĩa vụ cẩn thận” (duty of care) và “nghĩa vụ trung thành” (duty of loyalty). Nghĩa vụ cẩn thận yêu cầu tất cả các thành viên HĐQT phải sử dụng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của mình để thực hiện công việc. Tuy vậy, những thành viên HĐQT ngoài công ty hoặc thành viên độc lập thường có ít kiến thức và kinh nghiệm về công ty và lĩnh vực ngành nghề của công ty hơn. Do đó, họ có thể sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình theo một cách tiếp cận khác theo như lý lịch của họ chứ không giống như những thành viên HĐQT khác[10]. Đối với nghĩa vụ trung thành, về nguyên tắc, tất cả thành viên HĐQT không có nghĩa vụ với các cổ đông mà có nghĩa vụ với công ty. Nhưng pháp luật một số nước không coi việc đại diện cho một cổ đông lớn là yếu tố ảnh hưởng đến tính độc lập. Điều này có thể dẫn tới trường hợp một thành viên độc lập đại diện cho một cổ đông lớn có thể bị ảnh hưởng bởi mối quan hệ này khi đưa ra quyết định của mình và gây ra xung đột lợi ích giữa công ty và cổ đông lớn đó.

Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn có liên quan đều quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên HĐQT nói chung. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật này không có quy định nào riêng về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT, không có quy định thể hiện sự khác biệt về quyền, nghĩa vụ giữa thành viên độc lập và các thành viên khác của HĐQT. Pháp luật hiện hành trao cho công ty cổ phần quyền được quy định trong điều lệ những nội dung về quyền, nghĩa vụ của HĐQT và thành viên HĐQT để bảo đảm phù hợp với các quy định pháp luật và thực tiễn quản trị nội bộ, bao gồm cả việc quy định về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Nhưng khi rà soát, trên thực tế, ít có công ty quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT. Việc thiếu vắng những quy định này có thể dẫn đến những hệ lụy ảnh hưởng đến nhận thức về vai trò, cũng như hiệu quả hoạt động của thành viên độc lập HĐQT trong cơ cấu quản trị của công ty cổ phần.

2. Một số đề xuất hoàn thiện quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần

Một là, về định nghĩa thành viên độc lập HĐQT: Pháp luật doanh nghiệp nên bổ sung định nghĩa về thành viên độc lập HĐQT theo hướng xác định rõ chức năng của chủ thể này, cụ thể là chức năng giám sát và kiểm soát hoạt động điều hành công ty. Qua đó, việc áp dụng các chế định về loại thành viên này trên thực tế sẽ thuận lợi hơn, đồng thời củng cố địa vị pháp lý của thành viên độc lập trong cơ cấu quản trị công ty.

Hai là, quy trình lựa chọn thành viên độc lập HĐQT: Thực tế, một cá nhân được đề cử làm thành viên độc lập bởi thành viên điều hành, các cổ đông chi phối, cổ đông lớn hoặc cổ đông có quyền kiểm soát thì thành viên đó khó có quan điểm độc lập. Đó là lý do vì sao việc xác định tính độc lập của một thành viên độc lập không thể chỉ căn cứ vào các tiêu chuẩn cơ học, mà còn phải căn cứ vào quy trình giới thiệu thành viên vào danh sách đề cử. Cụ thể, phải bảo đảm rằng các thành viên độc lập được đề cử bởi các tổ chức độc lập hoặc các tổ chức đại diện cho cổ đông nhỏ, cổ đông thiểu số.

Ba là, về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập HĐQT: Vai trò của thành viên độc lập là rất quan trọng đối với hoạt động quản trị công ty. Việc quy định đặc thù về quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm cho các thành viên này thể hiện được vai trò của mình trong hoạt động quản trị công ty, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông và sự phát triển của công ty. Điều đó có nghĩa là, không thể đồng nhất quyền và nghĩa vụ của thành viên độc lập với các thành viên khác trong HĐQT. Vì vậy, nên có những quy định riêng về quyền và nghĩa vụ của của thành viên độc lập để thành viên này có thể thực hiện được vai trò của mình.

ThS. Nguyễn Đức Anh

Khoa Pháp luật Kinh tế - Trường Đại học Luật Hà Nội

[1]. Marco Ventoruzzo, Arad Reisberg, Pierre-Henri Conac, Sebastian Mock, Gen Gotō, Mario Notari, Comparative Corporate Law, American Casebook Series, 2015, p. 259.

[2]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Comparative Company Law, Oxford University Press, 2019, p. 286.

[3]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 320.

[4]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 321.

[5]. Điều 8.3 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[6]. Điều 8.4 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[7]. Điều 8.2 Bộ quy tắc quản trị công ty của công ty niêm yết AFEP-MEDEF năm 2018.

[8]. Marco Ventoruzzo, Arad Reisberg, Pierre-Henri Conac, Sebastian Mock, Gen Gotō, Mario Notari, Comparative Corporate Law, American Casebook Series, 2015, p. 259.

[9]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 319.

[10]. Carsten Gerner-Beuerle and Michael Schillig, Tlđd, p. 288.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 382), tháng 6/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: