Chủ nhật 28/06/2026 01:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Pháp nhân và quyền con người trong pháp luật dân sự

Với mục đích đơn giản hóa và ổn định đời sống pháp lý, tư cách pháp nhân trao cho các tổ chức khả năng trở thành một chủ thể độc lập trong các quan hệ pháp luật. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam hiện hành, việc quy định tư cách pháp nhân cho doanh nghiệp góp phần đảm bảo cho tính ổn định của nền kinh tế, đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư kinh doanh.

Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, pháp nhân có được công nhận là chủ thể có quyền tiếp nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân hay không? Hay nói cách khác, việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân tại chương II Hiến pháp năm 2013 có áp dụng đối với pháp nhân trong nước hay không vẫn là một câu hỏi trong pháp luật Việt Nam. Trong bài viết này, tác giả trình bày khái quát những vấn đề còn tồn tại trong Hiến pháp, pháp luật về dân sự liên quan đến pháp nhân và quyền con người; bên cạnh đó, phân tích xoay quanh vấn đề hoạt động của pháp nhân bị giới hạn trong phạm vi mục đích của pháp nhân bằng cách đưa ra các học thuyết về đối tượng bị hạn chế và nêu lên phạm vi mục đích của pháp nhân; ngoài ra, một số vấn đề như: Bảo vệ danh dự, uy tín của pháp nhân… cũng được tác giả đề cập trong bài viết.

1. Vấn đề tồn tại trong Hiến pháp và luật dân sự

Trong nghiên cứu Hiến pháp Việt Nam vẫn tồn tại một vấn đề liên quan đến quyền con người, đó là liệu rằng pháp nhân có được công nhận là chủ thể có quyền tiếp nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân quy định tại chương II Hiến pháp năm 2013 hay không?

Về mặt lịch sử, quyền con người hay còn gọi là nhân quyền được chấp nhận với tư cách là quyền của tự nhiên nhân. Có những thuyết cho rằng, pháp nhân là chủ thể pháp luật, nhưng mọi hoạt động của pháp nhân đều phải được thực hiện thông qua tự nhiên nhân, chính vì vậy cần thiết phải phủ định tính hưởng quyền con người của pháp nhân[1]. Tuy nhiên, ngày nay, pháp luật của nhiều nước cũng như ý kiến của phần lớn học giả đều khẳng định, pháp nhân có quyền hưởng các quyền lợi từ góc độ quyền con người trong phạm vi tính chất của pháp nhân có thể tiếp nhận các quyền đó. Chẳng hạn, khoản 3 Điều 19 Luật Cơ bản Đức quy định: “Quyền cơ bản được giới hạn áp dụng đối với pháp nhân trong nước trong trường hợp có thể áp dụng dựa trên tính chất của pháp nhân”. Liên quan đến vấn đề này, Hiến pháp Nhật Bản không có quy định rõ ràng nhưng án lệ[2] và thông thuyết[3] đều đứng trên lập trường công nhận quyền công dân quy định trong chương III Hiến pháp được áp dụng đối với pháp nhân trong phạm vi dựa trên tính chất của pháp nhân.

Việc công nhận quyền con người đối với pháp nhân sẽ phát sinh vấn đề mới là cần phải lý giải pháp nhân được thụ hưởng quyền con người nào, với mức độ ra sao? Đã có rất nhiều tranh luận liên quan đến phạm vi nhân quyền của pháp nhân, chẳng hạn như quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền tự do và đặc biệt là quyền tự do về mặt tinh thần...

Trong pháp luật dân sự, cũng giống như tự nhiên nhân, pháp nhân được công nhận là chủ thể pháp luật dân sự, đặc biệt quyền chủ thể của pháp nhân được Bộ luật Dân sự năm 2015 đưa vào nguyên tắc của Bộ luật Dân sự. Theo khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”.

Song, khác với tự nhiên nhân về mặt tính chất nên quan hệ pháp luật của pháp nhân bị giới hạn (ví dụ như quan hệ hôn nhân, gia đình…), những hạn chế này là đương nhiên, phù hợp với tính chất của pháp nhân và không phải là đối tượng luận bàn liên quan đến quyền con người của pháp nhân. Tuy nhiên, các hành vi khác phù hợp với tính chất của pháp nhân cũng có những hạn chế mang tính đặc thù. Điển hình là hành vi của pháp nhân bị giới hạn trong mục đích của pháp nhân[4]. Vậy quy định này liệu rằng có hạn chế quyền con người của pháp nhân hay không, phải lý giải phạm vi hạn chế quyền ra sao để bảo đảm được quyền con người của pháp nhân trong mối tương quan với lợi ích của xã hội và phù hợp với tính chất của pháp nhân là những vấn đề lớn trong pháp luật dân sự nhìn dưới góc độ quyền con người của pháp nhân.

Những quy định hành vi bất hợp pháp trong luật dân sự Việt Nam cũng thể hiện rõ nét việc công nhận quyền con người đối với pháp nhân, cụ thể là pháp nhân với tư cách chủ thể quyền giống như tự nhiên nhân cũng có thể trở thành người bị hại do hành vi bất hợp pháp gây ra (Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005). Tuy nhiên, việc bảo vệ quyền của pháp nhân trong trường hợp này sẽ thực hiện như thế nào là vấn đề cần tiếp tục được bàn luận, nghiên cứu trong pháp luật dân sự. Quyền phi tài sản của pháp nhân được pháp luật dân sự công nhận, song nó là những quyền nào thì không có quy định cụ thể. Thông qua chế định về hành vi bất hợp pháp có thể hiểu, quyền phi tài sản của pháp nhân ở đây trước hết là “uy tín” và “danh dự” được quy định tại Điều 604, Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005. Hiện nay, người ta không luận bàn về việc pháp nhân có quyền nhân thân hay không, mà vấn đề tranh luận là hiểu thế nào về “uy tín”, “danh dự” của pháp nhân và bảo vệ quyền này của pháp nhân liệu rằng có thể thực hiện trên thực tế hay không.

2. Hạn chế hành vi của pháp nhân theo mục đích hoạt động của pháp nhân

Khoản 1 Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định pháp nhân có quyền, có nghĩa vụ phù hợp với mục đích hoạt động của mình. Điều luật này bắt nguồn từ pháp lý Ultra Vires của Luật Anh quốc, có nghĩa rằng, hoạt động của pháp nhân, đặc biệt là các công ty cổ phần chỉ được giới hạn trong mục đích quy định tại điều lệ của pháp nhân[5]. Tuy nhiên sau này, khi thấy được vai trò trọng tâm của các công ty cổ phần trong nền kinh tế quốc dân, phạm vi này được giải thích theo hướng cởi mở nhất có thể. Xoay quanh vấn đề hoạt động của pháp nhân bị giới hạn trong phạm vi mục đích của pháp nhân luôn tồn tại một câu hỏi: Đối tượng bị hạn chế được hiểu như thế nào?

2.1. Các học thuyết về đối tượng bị hạn chế

Thuyết hạn chế năng lực pháp luật dân sự[6]

Theo thuyết này, hạn chế hoạt động của pháp nhân giới hạn trong mục đích được quy định tại điều lệ thực chất bắt nguồn từ hạn chế năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Ví dụ, trường hợp người đại diện của pháp nhân công ích thực hiện giao dịch vay tiền ngân hàng dưới danh nghĩa pháp nhân vì mục đích sử dụng cá nhân thì hành vi của người đại diện không phải là hành vi lạm dụng quyền hạn, mà bản chất đó là hành vi nằm ngoài phạm vi mục đích của pháp nhân, nên pháp nhân không có khả năng tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi đó. Nói tóm lại, theo thuyết này, pháp nhân chỉ hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ trong phạm vi mục đích được quy định trong điều lệ.

Thuyết hạn chế năng lực hành vi dân sự[7]

Theo thuyết này, năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chỉ bị hạn chế do tính chất của pháp nhân và theo quy định của pháp luật, ngoài ra năng lực pháp luật của pháp nhân không thể bị hạn chế. Hạn chế theo mục đích hoạt động của pháp nhân thực chất là hạn chế phạm vi thực hiện hành vi của pháp nhân.

Thuyết hạn chế quyền đại diện[8]

Theo thuyết này, hạn chế theo mục đích không thể được xem là hạn chế năng lực chủ thể của pháp nhân, mà đây chẳng qua là hạn chế phạm vi quyền đại diện của người đại diện pháp nhân. Và kéo theo hậu quả pháp lý là cho dù người đại diện thực hiện hành vi ngoài mục đích của pháp nhân, thì cũng không có nghĩa là pháp nhân không thể tiếp nhận quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hành vi đó của người đại diện[9].

Thuyết trách nhiệm nội bộ[10]

Thuyết này được chủ trương nhiều trong luật thương mại và chỉ ra rằng, hoạt động của pháp nhân hạn chế theo mục đích chẳng qua là quy định trách nhiệm trong nội bộ pháp nhân, cụ thể là trách nhiệm của người đại diện đối với pháp nhân trong trường hợp thực hiện hành vi ngoài phạm vi mục đích được quy định trong điều lệ. Theo đó, hậu quả pháp lý của hành vi được thực hiện này có hiệu lực trong mối quan hệ với người thứ ba.

Đối với pháp luật Việt Nam ta có thể thấy, tùy thuộc vào đối tượng bị hạn chế mà quyền của pháp nhân được công nhận trong phạm vi rộng hay hẹp. Theo Bộ luật Dân sự năm 2005 thì cũng có thể lý giải đối tượng bị hạn chế đó là năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân và kéo theo đó quyền con người của pháp nhân có phạm vi bị hạn chế rất rộng. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 86 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp các nguyên tắc cơ bản của Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phủ nhận thuyết hạn chế năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, qua đó có thể khẳng định quyền con người của pháp nhân được nâng lên một tầm mới, phù hợp với pháp luật của các nước tiến bộ.

2.2. Phạm vi mục đích

Vấn đề về phạm vi mục đích của pháp nhân được giải thích như thế nào đóng vai trò rất quan trọng trong sợi dây liên kết với các thuyết luận bàn về đối tượng hạn chế để có cái nhìn tổng thể trong việc lý giải quyền con người của pháp nhân dưới góc độ chủ thể hưởng quyền được pháp luật dân sự công nhận. Bởi lẽ, nếu như phạm vi mục đích của pháp nhân được lý giải theo khuynh hướng mở rộng thì hành vi của người đại diện ngoài phạm vi mục đích hầu như không tồn tại và thuyết hạn chế quyền đại diện sẽ rất gần với thuyết trách nhiệm nội bộ và lúc này có thể nói hoạt động của pháp nhân hầu như không bị hạn chế, đồng nghĩa với việc năng lực chủ thể của pháp nhân không bị hạn chế trừ khi có quy định của pháp luật. Việc nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật đặc biệt có ý nghĩa về vấn đề này. Đối với pháp luật các nước, cụ thể là Nhật Bản, thì nhìn chung xu hướng ngày càng mở rộng cách giải thích về mục đích của pháp nhân đối với pháp nhân thương mại. Ví dụ, giải quyết về tranh chấp hành vi giao dịch có nằm ngoài mục đích của pháp nhân hay không, án lệ đã đưa ra phán quyết như sau: “Cho dù hành vi không thuộc nội dung mục đích được quy định trong điều lệ nhưng đó là hành vi cần thiết để thực hiện mục đích thì phải được hiểu là hành vi thuộc phạm vi mục đích của pháp nhân”. Về việc phán đoán xem đó có phải là hành vi cần thiết đối với việc thực hiện mục đích hay không, phán quyết của án lệ chỉ ra rằng: “Hành vi - đối tượng xem xét, không cần nhất thiết phải dựa trên tiêu chuẩn có hay không cần thiết để thực hiện mục đích mang tính hiện thực, nó chỉ cần dựa trên tiêu chuẩn có hay không sự cần thiết một cách khách quan và trừu tượng theo quan sát từ nội dung điều lệ”[11]. Hơn thế nữa, đối với hành vi không phải là hành vi giao dịch - hành vi hiến tiền cho chính trị cũng được án lệ công nhận là hành vi thuộc phạm vi mục đích của pháp nhân với lý do: “Về hành vi nhằm thực hiện mục đích hoạt động của pháp nhân bao gồm cả hành vi cần thiết mang nghĩa trực tiếp và hành vi cần thiết mang nghĩa gián tiếp” và tiêu chuẩn phán đoán phạm vi đó “cũng phải phán đoán mang tính trừu tượng dựa trên tính khách quan của hành vi”, “việc hiến tiền cho chính trị quan sát khách quan và trừu tượng ta thấy giới hạn trong việc cho phép công ty thực hiện vai trò mang tính xã hội của mình thì hành vi đó cũng thuộc phạm vi năng lực quyền của công ty”[12]. Về vấn đề này, cũng có ý kiến cho rằng, dù về mặt lý luận dựa trên tiêu chí “quan sát mang tính khách quan và trừu tượng”, nhưng chắc chắn sẽ có trường hợp không thuộc phạm vi mục đích của pháp nhân, tuy nhiên trường hợp này khó có thể thấy trên thực tế[13].

Ngược với pháp nhân thương mại xem xét hành vi trong mối liên quan với mục đích một cách gián tiếp, trường hợp pháp nhân phi thương mại thì án lệ Nhật Bản có khuynh hướng yêu cầu có mối liên quan trực tiếp với mục đích và phủ định hành vi hiến tiền mang tính chính trị là hành vi nằm trong phạm vi mục đích của pháp nhân[14]. Sự khác nhau giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại được lý giải như sau: “Công ty với tư cách người đóng thuế giống như tự nhiên nhân và thông qua việc áp dụng chương III Hiến pháp đối với pháp nhân trong nước, công ty có quyền tự do thực hiện hành vi mang tính chất chính trị”[15]. Tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều ý kiến cho rằng, trong trường hợp công ty ký kết hợp đồng tặng cho (bao gồm cả trường hợp hiến tiền mang tính chính trị, từ thiện), tùy thuộc vào mục đích và động cơ của việc tặng cho sẽ quyết định hành vi đó có thuộc phạm vi mục đích của pháp nhân hay không sẽ làm mất đi tính ổn định của xã hội nếu nhìn dưới góc độ giao dịch và có thể tạo ra những tổn thất không thể lường trước cho người thứ ba[16]. Và rõ ràng, đối với hành vi hiến tiền với mục đích chính trị về bản chất, dù nó được công nhận nằm trong giới hạn mục đích hoạt động của pháp nhân thì cũng không ảnh hưởng đến xã hội giao dịch. Vậy việc công nhận phạm vi năng lực chủ thể của pháp nhân một mặt giải thích mục đích của pháp nhân theo hướng mở rộng nhất có thể, mặt khác tùy vào tính chất của hành vi không những chỉ xét đến tính chất của pháp nhân có khả năng thực hiện hay không, mà cần phải xem nó trong mối tương quan với việc duy trì tính ổn định của xã hội giao dịch. Chính vì lẽ đó, một vấn đề mới mà chúng ta phải đối diện đó là, dù Bộ luật Dân sự có mở rộng phạm vi quyền pháp luật dân sự của pháp nhân cũng không thể đồng nghĩa với việc lý giải quyền pháp luật dân sự của pháp nhân đồng nhất với hành vi dân sự của pháp nhân. Hành vi dân sự của pháp nhân, đặc biệt sự khác nhau giữa pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại được lý giải ra sao cần phải được làm rõ thông qua các thuyết của các học giả và các án lệ trong tương lai.

3. Bảo vệ danh dự, uy tín của pháp nhân

Một trong những quy định thể hiện rõ nét việc pháp luật dân sự công nhận pháp nhân được hưởng quyền con người đó là Điều 604 Bộ luật Dân sự năm 2005, song, theo Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015, pháp nhân không được trực tiếp công nhận trở thành người bị hại của hành vi bất hợp pháp. Tuy nhiên, pháp nhân giống như tự nhiên nhân có quyền yêu cầu bồi thiệt hại trong trường hợp quyền tài sản, quyền phi tài sản bị xâm hại do hành vi bất hợp pháp là điều không thể phủ nhận. Bộ luật Dân sự năm 2015 không công nhận quyền yêu cầu bồi thường đối với trường hợp danh dự của pháp nhân bị xâm hại mà chỉ công nhận quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp uy tín của pháp nhân bị xâm hại[17]. Vậy câu hỏi đặt ra là danh dự của pháp nhân có tồn tại hay không? Nếu có thì danh dự của những cá nhân thành viên thực hiện các hoạt động của pháp nhân có được xem là danh sự của pháp nhân không? Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa danh dự của pháp nhân và danh dự của thành viên, nhân viên, người lao động của pháp nhân được lý giải ra sao? Trong trường hợp danh dự, uy tín của pháp nhân bị xâm hại thì các biện pháp có thể thực hiện để bảo vệ pháp nhân có đồng nhất với tự nhiên nhân hay không (cụ thể, việc yêu cầu bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần có được chấp nhận không)?

Vấn đề pháp nhân có danh dự hay không hầu như không phải đề tài tranh luận trong pháp luật dân sự các nước, vì trên thực tế không có ý kiến phản đối việc công nhận pháp nhân có danh dự18. Liên quan đến danh dự của pháp nhân, vấn đề được đặt ra là, danh dự của pháp nhân là một khái niệm riêng biệt với danh dự của thành viên pháp nhân, hay danh dự của pháp nhân chính là danh dự của thành viên pháp nhân? Có ý kiến cho rằng, nỗi đau mang tính chất tinh thần của người đại diện pháp nhân cũng được xem là nỗi đau tinh thần của pháp nhân. Nhưng theo phần lớn học giả Nhật Bản thì danh dự của pháp nhân là được giả định của chính pháp nhân chứ không hình thành thông qua việc công nhận danh dự của thành viên pháp nhân[19]. Án lệ cũng khẳng định lập trường đó. Về mối quan hệ này, án lệ giải thích rõ như sau: Trong vụ án một công ty xuất nhập khẩu và cả người đại diện của công ty đều yêu cầu khoản tiền bồi thường cho những tổn thất về tinh thần mà công ty và cá nhân người đại diện phải chịu do hành vi bất hợp pháp của bị cáo gây ra, Tòa đã ra phán quyết như sau: “Vì công ty này là công ty của cá nhân, nên tổn thất danh dự của công ty cũng chính là tổn thất của người đại diện”[20]. Đây được xem là phán quyết khẳng định việc tồn tại tổn thất danh dự của chính pháp nhân và nó là tiền đề trong việc phán đoán tổn thất danh dự của pháp nhân có là tổn thất của người đại diện hay không. Trong trường hợp công ty là công ty cá nhân thì tổn thất tinh thần của công ty cũng được xem là tổn thất của người đại diện, đối với các trường hợp khác, tổn thất của pháp nhân và tổn thất của thành viên là hai khái niệm tách bạch. Cách lý giải tổn thất danh dự của người đại diện cũng là tổn thất danh dự của pháp nhân là cách hiểu ngược khó được chấp nhận.

Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 có quy định, pháp nhân được bù đắp tổn thất do hành vi bất hợp pháp xâm hại đến danh dự, uy tín của mình bằng một khoản tiền được gọi là bù đắp tổn thất tinh thần, tuy nhiên trên thực tế, pháp nhân có tổn thất về tinh thần hay không và khái niệm tổn thất tinh thần của pháp nhân phải được hiểu như thế nào để có cách lý giải hợp lý nhất trong việc tính toán khoản tiền đền bù? Hiện nay, cũng có ý kiến cho rằng, với tư cách là biện pháp bảo vệ thì chỉ cần công nhận quyền yêu cầu phục hồi nguyên trạng, chẳng hạn như công khai xin lỗi đối với pháp nhân, việc công nhận một khoản tiền bù đắp là không cần thiết[21]. Ngược lại, cũng có quan niệm khác: Tổn thất tinh thần ở đây thực chất không phải mang ý nghĩa là những nỗi đau của tinh thần mà cần phải hiểu đó là những tổn thất vô hình[22], nhưng trên thực tế khái niệm tổn thất vô hình cũng rất trừu tượng. Chính vì vậy, việc bồi thường đối với những tổn thất tinh thần của pháp nhân cho dù có được công nhận thì cũng không thể xem nó có tính chất giống như bồi thường đối với tổn thất tinh thần của tự nhiên nhân.

Tóm lại, việc ghi nhận quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân tại chương II Hiến pháp năm 2013 có áp dụng đối với pháp nhân trong nước hay không vẫn là một câu hỏi trong pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, quyền con người của pháp nhân được cụ thể hóa thông qua các chế định của pháp luật dân sự và có thể khẳng định pháp luật Việt Nam luôn đề cao vấn đề nhân quyền của pháp nhân. Trên thực tế, phải thừa nhận rằng, vấn đề nhân quyền của pháp nhân so với tự nhiên nhân sẽ bị hạn chế bởi hai lý do: Một là do sự khác nhau về mặt tính chất của hai chủ thể, hai là công nhận quyền con người của pháp nhân phải đặt trong mối tương quan bảo vệ sự ổn định, an toàn, lợi ích của xã hội do đặc thù tính chất của pháp nhân. Chính vì lẽ đó, ngày nay, pháp luật trên thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng đề cao quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh đối với các pháp nhân thương mại, nâng quyền này lên một tầm cao mới đó là xu hướng cho rằng pháp nhân thương mại có quyền kinh doanh mọi ngành nghề mà pháp luật không cấm, chứ không bị hạn chế trong phạm vi mục đích hoạt động của pháp nhân. Tuy nhiên, đối với những hành vi không phải hành vi kinh doanh thì pháp nhân thương mại có quyền thực hiện hay không và nếu có công nhận thì phạm vi công nhận quyền này giới hạn trong một phạm vi nào? Hay nói cách khác, để đánh giá một hành vi không phải hành vi kinh doanh có nằm trong phạm vi mục đích hoạt động của pháp nhân thương mại hay không phải dựa trên tiêu chí nào? Tiêu chí đánh giá hành vi có nằm trong giới hạn mục đích của pháp nhân thương mại và pháp nhân phi thương mại khác nhau như thế nào? Đó là những vấn đề mà chúng ta cần tiếp tục luận bàn.

Một chế định khác trong pháp luật dân sự cũng thể hiện rõ nét quyền con người của pháp nhân đó là chế định về hành vi bất hợp pháp. Pháp nhân giống như tự nhiên nhân có thể có quyền yêu cầu người khác bồi thường thiệt hại trong trường hợp hành vi bất hợp pháp được xác lập và có thiệt hại về tài sản, thiệt hại phi tài sản (tổn thất về tinh thần) mà pháp nhân phải gánh chịu. Tuy nhiên, do tính chất của mình, pháp nhân sẽ bị hạn chế hơn tự nhiên nhân. Về vấn đề liệu rằng biện pháp yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với sự tổn thất về tinh thần có được thực hiện trên thực tế hay không, thì việc nghiên cứu lý luận, nghiên cứu luật so sánh và nghiên cứu thực tiễn xét xử là rất cần thiết.

TS. Nguyễn Thị Phương Châm
Khoa Luật, Đại học Quốc Gia Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1]. Michido, Hiến pháp, Nxb. Mineru, năm 1977, tr. 202.

[2]. Phán quyết của Tòa tối cao ngày 24/6/1979 (Tuyển tập án dân sự quyển 24 số 6 trang 625 ): “Các điều khoản về quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định tại chương III Hiến pháp cần thiết được hiểu là sẽ áp dụng đối với cả pháp nhân trong nước trong giới hạn có thể dựa trên tính chất pháp nhân”.

[3]. Wada Maichi, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội đại học Ritsumekan số 84, tr. 43.

[4]. Giáo trình Luật Dân sự, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, năm 2007, tr. 110.

[5]. Umino Okina, “Pháp lý của Ultra vires”, Tạp chí Jurist số 970, tr. 10.

[6]. Wagatsuma Saka, Phần chung luật dân sự, Nxb. Iwaba, năm 1965, tr. 155.

[7]. Mori Izumi, Giải thích Bộ luật Dân sự (2), Nxb. Yuhikaku, năm 1974, tr. 226.

[8]. Kawashima, Luật dân sự phần chung, Nxb. Yuhikaku, năm 1965, tr. 112.

[9]. Tham chiếu khoản 1 Điều 145, khoản 1 Điều 146 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 142 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[10]. Ueyagi Katsuro, “Năng lực của công ty”, Bài giảng pháp luật công ty cổ phần (1), Nxb. Yuhikaku, năm 1966, tr. 86.

[11]. Án lệ Tòa tối cao ngày 15/02/1952 (Tuyển tập án lệ dân sự quyển 6 số 2 trang 77 ).

Án lệ Tòa tối cao ngày 29/11/1955 (Tuyển tập án lệ dân sự quyển 9 số 12 trang 1886 ).

[12]. Án lệ Tòa tối cao ngày 24/6/1970 (Tuyển tập án lệ dân sự quyển 24 số 6 trang 625).

[13]. Kawauchi Hiroshi, Một trăm năm Bộ luật Dân sự II, Nxb, Yuhikaku, năm 1998, tr. 1.

[14]. Án lệ Tòa tối cao ngày 19/3/1996 (Tuyển tập án lệ dân sự quyển 50 số 3 trang 615 ).

[15]. Án lệ Tòa tối cao ngày 24/6/1970 (Tuyển tập án lệ dân sự quyển 24 số 6 trang 625).

[16]. Uchida Tatoshi, Dân sự I phần chung và vật quyền, Nxb. đai học Tokyo, năm 2002, tr. 235.

[17]. Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[18]. Wada Maichi, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội đại học Ritsumekan số 84, tr. 54.

[19]. Wada Maichi, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội đại học Ritsumekan số 84, tr. 55.

[20]. Phán quyết Tòa địa phương ngày 31/8/1981 (Tạp chí án lệ số 453, tr. 130 ).

[21]. Shiomi Kao, Hành vi bất hợp pháp, Nxb. Shinyama, năm 1999, tr. 260.

[22]. Wada Maichi, Kỷ yếu nghiên cứu khoa học xã hội đại học Ritsumekan số 84, tr. 57.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: