Chủ nhật 24/05/2026 00:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại một số nước trên thế giới và gợi mở cho Việt Nam

Tóm tắt: Các quốc gia có đường biên giới biển có lợi thế rất lớn trong việc phát triển kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nhận thấy được nguồn lợi từ biển, các quốc gia có biển luôn dành sự quan tâm đặc biệt và có chính sách đặc thù đối với ngư dân biển, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Những năm gần đây, Việt Nam đã xây dựng và triển khai nhiều chương trình, kế hoạch nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho ngư dân biển, đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế về khai thác thủy sản, tuy nhiên, vẫn chưa gỡ được “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu, làm ảnh hưởng đến hình ảnh Việt Nam trên thế giới và khả năng xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam. Vì vậy, nghiên cứu các mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật đối với ngư dân biển của một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt, những quốc gia có vị trí địa lý, có quan hệ về kinh tế, an ninh, chủ quyền biển đảo với Việt Nam sẽ gợi mở nhiều kinh nghiệm để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc vào thực tiễn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Từ khóa: phổ biến; giáo dục; pháp luật; ngư dân biển; kinh nghiệm.

Abstract: Countries with maritime borders have great advantages in economic development and ensuring security and defense. Realizing the benefits from the sea, coastal countries always pay special attention and have specific policies for sea fishermen, including the legal dissemination and education. In recent years, Vietnam has developed and implemented many programs and plans to raise legal awareness for sea fishermen, meeting the requirements of international law on f ishing, however, it has not yet removed the "yellow card" of the European Commission, affecting the image of Vietnam in the world and the export capacity of the Vietnamese seafood industry. Therefore, studying the popular models of legal education for fishermen in some countries in the world, especially those countries with geographical location, economic relations, security, and sovereignty over sea and islands with Vietnam will suggest many experiences for Vietnam to study and selectively absorb into the practice of legal dissemination and education.

Keywords: Dissemination; education; law; fishermen; experience.

Đặt vấn đề

Ngư dân biển là lực lượng lao động quan trọng đóng góp vào việc phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường và hỗ trợ các lực lượng chấp pháp trên biển trong bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia. Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn 2045 xác định ngư dân biển là lực lượng quan trọng góp phần thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế và chính trị trong tình hình mới. Để đạt được những mục tiêu trên, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) cho ngư dân. Nghiên cứu các mô hình PBGDPL cho ngư dân biển tại một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt, các quốc gia đã và đang thực hiện có hiệu quả công tác này, sẽ là kinh nghiệm có giá trị thực tiễn và thời sự đối với Việt Nam.

1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại một số quốc gia trên thế giới

1.1. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Indonesia

Ở Indonesia, số lượng ngư dân hành nghề đánh bắt thủy hải sản rất lớn. Công tác PBGDPL cho ngư dân biển ở Indonesia luôn được nước này quan tâm, đặc biệt, đi kèm với công tác PBGDPL, các hình phạt đối với những hành vi vi phạm nghề cá ở Indonesia được các nhà chức trách thi hành nghiêm khắc và mang tính răn đe cao. Các hành vi vi phạm nghề cá sẽ bị xử lý từ hành chính đến hình sự, từ phạt tiền đến giam giữ, tiêu hủy tàu cá, công cụ và phương tiện đánh bắt. Các vụ việc vi phạm sẽ được giải quyết tại Tòa án địa phương và ngư dân vi phạm sẽ phải chịu hình phạt giam giữ tại trại giam trực thuộc Bộ Biển và Nghề cá[1]

Về chủ thể PBGDPL cho ngư dân biển, Indonesia giao cho tổ chức quản lý nghề cá, gồm ba cấp chính quyền: trung ương, tỉnh và huyện. Ở cấp quốc gia, Bộ Hàng hải và Ngư nghiệp Indonesia (Kementerian Kelautan dan Perikanan - KKP) là cơ quan chính chịu trách nhiệm quản lý nghề cá. Ngoài chức năng quản lý nhà nước, KKP cũng chịu trách nhiệm giáo dục, tuyên truyền và phổ biến thông tin về thủy sản. Những năm gần đây, chương trình tuyên truyền cộng đồng (penyuluhan) không chỉ được thực hiện bởi các quan chức Chính phủ có liên quan, mà còn được thực hiện bởi các tổ chức phi Chính phủ (Non-Governmental Organization - NGO) và tư nhân. Trên thực tế, có rất nhiều tổ chức phi Chính phủ, gồm cả tổ chức nước ngoài, xây dựng các chương trình thông qua hình thức penyuluhan, vì chương trình này tiếp cận trực tiếp và liên quan đến những ngư dân truyền thống. Một số công ty tư nhân liên quan đến đánh bắt thủy hải sản - dựa vào những lực lượng lao động là ngư dân truyền thống, cũng có các chương trình penyuluhan, vì những hoạt động này mang lại lợi ích chung cho người đánh cá và bản thân các công ty. Trong khi một số tổ chức phi Chính phủ và tổ chức tư nhân hỗ trợ các chương trình của Chính phủ, một số khác có các chương trình penyuluhan của riêng mình, phụ thuộc vào mục đích phổ biến và tuyên truyền. Nhiều tổ chức phi Chính phủ quan tâm về môi trường sẽ xây dựng penyuluhan vào vấn đề pháp luật phát triển bền vững và bảo vệ môi trường biển, trong khi khu vực tư nhân tập trung vào việc tạo mối quan hệ đối tác giữa ngư dân quy mô nhỏ và ngành đánh bắt cá. Chính phủ thường tập trung vào trợ cấp cho ngư dân quy mô nhỏ và các vấn đề thực thi pháp luật thông qua chương trình penyuluhan[2].

Về nội dung PBGDPL cho ngư dân biển, chương trình penyuluhan thường gồm các chủ đề: công nghệ, quản lý, kinh tế, sinh thái, xã hội, văn hóa và pháp luật. Ngoài ra, KKP cung cấp các chương trình đào tạo khác nhau, như chương trình kỹ thuật cho ngư dân về chăn nuôi cá, chương trình kỹ thuật cho các quan chức Chính phủ, chương trình kỹ thuật cho người huấn luyện, chương trình kỹ thuật cho cố vấn, chương trình kỹ thuật cho ngư dân và những người khác.

Về đối tượng PBGDPL cho ngư dân biển, chương trình penyuluhan thường tiếp cận nhiều cộng đồng ngư dân ở các vùng ven biển, đặc biệt là cộng đồng ngư dân đánh bắt truyền thống, bởi họ luôn có những quy tắc đánh bắt mang tính tập quán, vì vậy, dễ vi phạm các quy định pháp luật mới. Đặc biệt, chương trình penyuluhan rất có lợi cho những ngư dân truyền thống, vì hầu hết họ không thể đến các trung tâm thành phố để tiếp thu kiến thức pháp luật mới. Chương trình này giúp ngư dân tiếp cận pháp luật ngay tại nơi họ tham gia sản xuất và sinh sống, hạn chế các chi phí cho ngư dân khi muốn tiếp cận kiến thức pháp luật mới.

Về hình thức PBGDPL, KKP cung cấp chương trình penyuluhan cho những người đánh cá truyền thống, hình thức này được tổ chức lưu động bằng phương thức chia thành các nhóm nhỏ, phân chia về cộng đồng ngư dân để tuyên truyền pháp luật.

Một hình thức quản lý ngư dân biển trong hoạt động đánh bắt mà Chính phủ Indonesia mới áp dụng gần đây, là dùng ứng dụng di động dựa trên trí tuệ nhân tạo (Al) do Cơ quan Nghiên cứu và Đổi mới Quốc gia (BRIN) giới thiệu. Ứng dụng này có tên là NN Marlin, sử dụng công nghệ học máy để xử lý dữ liệu vệ tinh và cảm biến từ xa, giúp xác định ngư trường có trữ lượng cá lớn dựa trên nhiệt độ bề mặt biển và diệp lục. Ngoài ra, NN Marlin còn được sử dụng để phát hiện hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp và theo dõi các tàu cá nước ngoài, hạn chế việc tàu cá theo thói quen đánh bắt bằng kinh nghiệm hoặc trực giác, dẫn đến chạy theo luồng cá và vi phạm chủ quyền các quốc gia khác. Công nghệ này được BRIN hợp tác với các tổ chức công nghệ và nghiên cứu trong và ngoài nước để phát triển các ứng dụng AI phù hợp với nhu cầu cụ thể của Indonesia, loại bỏ tính không chắc chắn khi đánh bắt thủy hải sản và quản lý tàu cá. Theo ước tính, mỗi năm, Indonesia mất khoảng 03 tỷ đô la do các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp của ngư dân và công nghệ này đang giúp Chính phủ Indonesia kiểm soát rất tốt các hoạt động đánh bắt của ngư dân[3].

1.2. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Philippines

Với lợi thế về diện tích biển, kinh tế biển có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Philippines. Vì vậy, công tác PBGDPL cho ngư dân tại Philippines được coi là quốc sách hàng đầu. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Philippines đang đứng trước 03 thách thức xuất phát từ nhận thức, hành vi của ngư dân biển đối với nghề cá, đó là tình trạng ngư dân biển lạm dụng khai thác tại các ngư trường, sử dụng các phương pháp đánh bắt tận diệt và hành vi đánh bắt bất hợp pháp, không khai báo, không theo quy định (IUU) của ngư dân thương mại từ quy mô nhỏ đến lớn[4].

Chủ thể tham gia công tác PBGDPL cho ngư dân biển tại Philippines là các cơ quan chức năng trực thuộc Chính phủ như Cảnh sát biển, Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR). Ngoài các cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ cũng tham gia tích cực vào công tác PBGDPL cho cộng đồng ngư dân. Hiện, Philippines có khoảng 145 tổ chức phi Chính phủ đang thực hiện PBGDPL cho ngư dân biển, một số tổ chức đang hoạt động có hiệu quả tại Philipines như: Balayan (Văn phòng Tổ chức tình nguyện và Phát triển cộng đồng thuộc Đại học St. La Salle ở thành phố Bacolod) và Quỹ Động vật hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund - WWF).

Balayan phát động và thực hiện 02 chương trình chủ đạo, gồm chương trình “trong tầm tay” (In-reach) và chương trình “vươn xa” (out-reach) nhằm nâng cao nhận thức cộng đồng, giáo dục trẻ em đường phố, ngư dân và các chương trình tái chế rác thải. Balayan hoạt động độc lập với chính quyền địa phương, tổ chức này thiết lập mối quan hệ trực tiếp với các cộng đồng ngư dân ở 10 cụm dân cư ven biển Cauayan, giáo dục cộng đồng về pháp luật thủy sản được thực hiện dưới sự cộng tác với các tổ chức phi Chính phủ khác. Nhằm bảo vệ quyền lợi của ngư dân, Balayan cũng hỗ trợ kết nối với các dịch vụ pháp lý, dưới sự trợ giúp của các tổ chức đối tác, đặc biệt, trong trường hợp truy tố các chủ thể có hành vi đánh bắt vi phạm pháp luật.

WWF hướng tới mục tiêu bảo tồn sinh học và nâng cao năng lực cộng đồng, WWF Phillippines không trực tiếp thực hiện các dự án tuyên truyền cộng đồng, thay vào đó, phối hợp với chính quyền địa phương để lên kế hoạch cho các hội thảo, tập huấn, tuyên truyền về pháp luật thủy sản. Tổ chức này cũng kết nối với cư dân của cộng đồng ngư dân để phổ biến thông tin và tập huấn theo hai dạng: các bài giảng hoặc các buổi nói chuyện thông thường, ngoài hoạt động giáo dục cộng đồng, WWF Phillippines không thực hiện hỗ trợ pháp lý[5].

Nội dung PBGDPL cho ngư dân biển ở Philippines xoay quanh các vấn đề về tính bền vững của thủy sản, các loài thủy sản được quản lý, pháp luật về môi trường và việc tuân thủ các quy định về đánh bắt thủy hải sản có nguồn gốc, tạo đầu ra cho việc cung ứng. Các dịch vụ pháp lý được cung cấp thường miễn phí và liên quan đến nhiều vấn đề như đưa ra lời khuyên pháp lý cơ bản, giáo dục cộng đồng.

Về đối tượng PBGDPL cho ngư dân biển, có 03 đối tượng chính được mời tham gia các hoạt động tuyên truyền, gồm: ngư dân là nam giới từ 18 tuổi trở lên, trực tiếp tham gia đánh bắt cá trên biển; phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, thuộc bất kỳ ngành nghề nào; trẻ em từ 15 - 18 tuổi. Các chương trình PBGDPL cho ngư dân biển được tiến hành trong các cụm dân cư (barangay) với sự tham gia của dân cư khu vực đó (đặc biệt, những người liên quan đến việc sử dụng và quản lý môi trường biển) và chủ yếu hướng đến việc phổ biến quyền cho những cư dân này để họ có thể tham gia vào việc thực thi có hiệu quả pháp luật thủy sản. Điều quan trọng, cư dân được PBGDPL để họ có thể thực hiện nghĩa vụ và được hưởng các quyền của mình. Hơn nữa, một cộng đồng được trao quyền có thể hỗ trợ Chính phủ về cơ sở vật chất cho việc thực hiện các kế hoạch và chương trình, hạn chế chi ngân sách nhà nước.

Về hình thức PBGDPL, một trong những hình thức được cho là hiệu quả nhất hiện nay trong công tác PBGDPL cho ngư dân biển tại Philippines do Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản triển khai, là chương trình Đại dương sạch và phong phú (Malinis at Masaganang Karagatan - MMK). Chương trình được thực hiện bằng cách khen thưởng, nêu gương các ngư dân biển tiêu biểu và tặng sinh kế nghề cá cho họ nhằm khuyến khích việc thực hiện pháp luật. Các chương trình PBGDPL của tổ chức phi Chính phủ sẽ tiếp cận ngư dân biển theo hai cách: (i) các tổ chức tự kết nối với cộng đồng và vận động cư dân tổ chức, hành động theo các nội dung đã được xác định từ trước; (ii) tổ chức phi Chính phủ hợp tác với chính quyền địa phương nhằm tạo điều kiện thuận lợi triển khai chương trình hoặc là nhân viên của tổ chức phi Chính phủ hoặc là các công ty luật được ký hợp đồng để tiến hành các chương trình PBGDPL.

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thực thi pháp luật và giám sát nghề cá, BFAR thuộc Bộ Nông nghiệp Philippines đang triển khai ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Trong đó, BFAR đã triển khai Dự án Hệ thống giám sát môi trường biển tích hợp (IMEMS) nhằm mục đích nâng cao năng lực của Chính phủ trong việc kiểm tra, kiểm soát và giám sát trên lĩnh vực hàng hải, đồng thời, tăng cường chiến dịch chống đánh bắt IUU của ngư dân.

IMEMS là hệ thống giám sát tích hợp, được tối ưu hóa và sáng tạo nhằm mở rộng và cải thiện chương trình hiện tại của BFAR. Trọng tâm của dự án là ứng dụng ICT, với dự án IMEMS, BFAR có thể theo dõi và liên lạc với các tàu cá gắn cờ Philippines trong thời gian thực trên quy mô quốc gia. Việc tích hợp các chức năng truyền thông, cấp phép và thực thi pháp luật để bảo đảm tuân thủ các biện pháp quản lý và bảo tồn khác nhau đang được thực hiện trong các vùng biển của Philippines, các vùng đặc quyền kinh tế và các quốc gia ven biển khác.

BFAR ước tính 68,6 tỷ Peso (khoảng hơn 1,2 tỷ đô la) mỗi năm bị thâm hụt là do hoạt động đánh bắt IUU. Việc thực hiện dự án IMEMS mang lại cho Philippines cơ hội hưởng lợi từ đổi mới công nghệ để cải thiện hơn các phương pháp quản lý nghề cá, đồng thời, trao quyền cho ngư dân trở thành những người sử dụng tài nguyên có trách nhiệm. BFAR đang xây dựng 06 trong số 15 tháp của Hệ thống giám sát bờ biển và cảng loại 1 (PCMS-Type 1); lắp đặt 25 trong số 117 trạm bờ biển (PCMS-Type 2) tại các địa điểm đã được xác định trên khắp cả nước[6]. Các tháp kiểm soát và thiết bị giám sát bờ biển này được thiết lập để cung cấp dữ liệu thời gian thực về hoạt động của các tàu cá thương mại cho Trung tâm dữ liệu quốc gia của BFAR. Trung tâm dữ liệu quốc gia sẽ chịu trách nhiệm xử lý và phân tích dữ liệu, gồm theo dõi tàu cá, quản lý giấy phép, tăng cường hoạt động của chính quyền địa phương thông qua quản trị điện tử (E-LOG) và tự động phát hiện các hoạt động IUU.

1.3. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Thái Lan

Thái Lan là quốc gia bị Ủy ban châu Âu (EC) cảnh cáo “thẻ vàng” đối với ngành thủy sản năm 2015. Tuy nhiên, với những biện pháp cứng rắn, quyết liệt trong quản lý nghề cá, trong đó có công tác PBGDPL, Thái Lan đã có những thành công nhất định trong thời gian qua. Điều này được thể hiện thông qua việc Thái Lan đã được EC gỡ bỏ “thẻ vàng” do hành vi đánh bắt cá trái phép từ tháng 01/2019, sau 04 năm nỗ lực gỡ bỏ[7].

Chủ thể chính trong công tác PBGDPL cho ngư dân biển tại Thái Lan là Hải quân Hoàng gia và Tổng cục Thủy sản Thái Lan. Hai chủ thể này thường xuyên phối hợp trong công tác để kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của ngư dân biển.

Về nội dung PBGDPL, ngoài các quy định về bảo vệ môi trường, quy định đánh bắt cá hợp pháp, các nội dung liên quan đến phát triển nền ngư nghiệp bền vững, Thái Lan còn tập trung vào pháp luật về buôn bán người, nhập cư trái pháp luật và lao động cưỡng bức trong nghề cá[8].

Đối tượng chính của PBGDPL cho ngư dân biển tại Thái Lan là các ngư dân đánh bắt xa bờ, có tàu cá công suất lớn, hoạt động ở vùng biển nhạy cảm liên quan đến chủ quyền, có các hoạt động đánh bắt, khai thác IUU.

Hình thức PBGDPL hiệu quả nhất và là nguyên nhân chính dẫn tới việc Thái Lan gỡ được “thẻ vàng” của EC, là Tổng cục Thủy sản Thái Lan thành lập Trung tâm Giám sát nghề cá với khoảng 30 nhân viên, trực 24/24h trong ngày. Trung tâm cho lắp đặt các thiết bị định vị hiện đại (VMS) trên các tàu cá, ngư dân biển trước khi ra khơi phải kí cam kết và phải có giấy phép đánh bắt; khi ngư dân có hiện tượng ra khỏi vùng biển Thái Lan, ngay lập tức, nhân viên Trung tâm sẽ phát tín hiệu cảnh báo và tuyên truyền. Những ngư dân không chấp hành, khi vào bờ sẽ bị xử phạt và tước giấy phép đánh bắt. Ngoài ra, việc quản lý bằng VMS tạo thuận lợi cho việc truy xuất nguồn gốc thủy hải sản, cũng như hoạt động cung ứng trên thị trường[9]. Việc sử dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản giúp cơ quan chức năng xác định được toàn bộ chuỗi cung ứng, từ cảng cá, vận chuyển, nhà máy chế biến, cho đến khi xuất khẩu. Sản lượng đánh bắt sẽ được kiểm tra để xác định loại, số lượng và trọng lượng thủy sản thông qua hai hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc điện tử.

Trung tâm Giám sát nghề cá Thái Lan sử dụng hai hệ thống giám sát điện tử nhằm hỗ trợ VMS, gồm: (i) hệ thống chứng nhận đánh bắt được gắn cờ Thái Lan (Thai Flagged Catch Certificate System) được thiết kế để kiểm tra hoạt động đánh bắt của các đội tàu cá Thái Lan; hệ thống này được vận hành nhằm xác định vị trí đánh bắt có hợp pháp hay không, thông qua đó, có thể tính toán được sản lượng cá được đánh bắt; (ii) hệ thống báo cáo quy trình chế biến liên kết với các biện pháp quốc gia có cảng (PSM Linked and Processing Statement System), được thiết kế để kiểm tra thủy sản nhập khẩu thông qua toàn bộ chuỗi cung ứng. Hệ thống này được xây dựng nhằm kiểm soát sản lượng thủy sản nhập khẩu và giám sát cả nguồn gốc xuất xứ của thủy sản khi vào bờ[10]. Để theo dõi và kiểm soát tàu cá hoạt động ngoài vùng biển Thái Lan và tàu trung chuyển thủy sản, tàu cá phải thông báo trước cho cơ quan chức năng về bất kỳ hoạt động trung chuyển thủy sản nào trước khi hoạt động 24 giờ. Hệ thống báo cáo điện tử (Electronic Reporting System - ERS) và giám sát điện tử (Electronic Monitoring - EM) được phát triển để cho phép thuyền trưởng liên lạc trực tiếp với cơ quan có thẩm quyền để báo cáo tình hình đánh bắt hoặc xin phép ra vào cảng cá, cũng như cứu hộ, cứu nạn[11].

Ngoài ra, việc kiểm tra kết hợp tuyên truyền pháp luật trên biển cũng được Thái Lan quan tâm và đầu tư. Thái Lan đã thành lập 32 trung tâm cảng biển và 19 điểm thanh tra tiền phương để kiểm tra các đội tàu đánh cá trước và sau khi đánh bắt. Kiểm tra trên biển là biện pháp để tăng cường hiệu quả kiểm tra, giám sát bằng cách kiểm tra các tàu đánh cá khả nghi trong vùng biển Thái Lan và bắt giữ kịp thời các tàu đánh bắt bất hợp pháp. Đối với việc kiểm tra trên biển, hiện, Chính phủ Thái Lan giao cho 03 cơ quan thực hiện là Cục Kiểm ngư (Fisheries Patrol of the Department of Fisheries), Trung tâm Điều phối Thực thi Hàng hải Thái Lan (Thailand Maritime Enforcement Coordinating Center - THAIMECC) và Cục Tài nguyên biển và Vùng ven biển (Department of Marine and Coastal Resources) thực hiện. Bằng sự quyết tâm, thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mạnh mẽ, Thái Lan đã gỡ được thẻ vàng của EC, ngành thủy sản của nước này đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về đánh bắt thủy sản nói chung, tiêu chuẩn về IUU nói riêng, hướng đến sự phát triển bền vững về cả môi trường và kinh tế - xã hội[12].

1.4. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Singapore

Singapore là quốc gia có diện tích bờ biển và vùng biển nhỏ hơn so với các quốc gia Indonesia, Philippines và Thái Lan. Công tác PBGDPL cho ngư dân tại Singapore được Chính phủ quan tâm và đầu tư, đặc biệt là đầu tư cơ sở vật chất hiện đại cho các lực lượng chấp pháp khi hoạt động tuyên truyền và bảo hộ ngư dân đánh bắt thủy hải sản.

Chủ thể chính tham gia vào công tác PBGDPL tại Singapore là Bộ Quốc phòng, được Chính phủ giao cho việc lên kế hoạch quản lý, điều phối và tổ chức tuyên truyền PBGDPL cho ngư dân biển.

Nội dung PBGDPL cho ngư dân biển tại Singapore gắn liền với môi trường, về công cụ, phương tiện đánh bắt, về khu vực đánh bắt (những khu vực được đánh bắt sẽ được cắm cọc), tất cả nội dung này được quy định cụ thể trong Luật Nghề cá, được Chính phủ Singapore ban hành[13].

Đối tượng PBGDPL là ngư dân nuôi trồng thủy hải sản gần bờ, do những năm gần đây, Singapore hạn chế các loại hình đánh bắt xa bờ, chuyển sang nuôi trồng thủy hải sản gần bờ, áp dụng khoa học, công nghệ vào nuôi, chế biến tự động, nên số lượng ngư dân đánh bắt xa bờ giảm đáng kể. Mặt khác, do chính sách thương mại của Singapore là ưu tiên việc nhập khẩu lương thực, thực phẩm nên cơ cấu và tỷ trọng của nghề cá cũng có nhiều thay đổi.

Hình thức PBGDPL cho ngư dân biển tại Singapore là tuyên truyền đến các cụm ngư dân ven biển để ngư dân chuyển từ đánh bắt xa bờ sang nuôi trồng thủy hải sản, kết hợp tăng cường chế tài xử lý các hành vi vi phạm về môi trường, sử dụng công cụ, phương tiện đánh bắt hủy diệt và tận diệt. Những năm gần đây, với những cố gắng và quyết tâm của mình, tình trạng môi trường ở Singapore được cải thiện rõ rệt, hệ sinh thái ven biển được phục hồi, cùng với việc phổ biến, tuyên truyền pháp luật, các hành vi vi phạm pháp luật từ hoạt động đánh bắt được Chính phủ Singapore xử lý nghiêm khắc, không chỉ với ngư dân đi biển, mà cả với thương lái thu mua hải sản và người câu cá tự do[14].

1.5. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển tại Trung Quốc

Ở Trung Quốc, PBGDPL bắt đầu được triển khai từ cuối những năm 1980 và tiếp tục cho đến nay, tính đến cuối năm 2022, đã bước vào kế hoạch phổ biến pháp luật 05 năm lần thứ 8. PBGDPL đi từ việc phổ cập kiến thức pháp luật cơ bản đến thúc đẩy tư tưởng về Nhà nước pháp quyền và gia tăng niềm tin vào pháp luật. Thông báo tuyên truyền, giáo dục pháp luật 05 năm lần thứ 8 của Trung Quốc đề cập đến kế hoạch 05 năm (2020 - 2025) lần thứ 8 của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Tư pháp về việc đẩy mạnh phổ biến và giáo dục pháp quyền trong công dân. PBGDPL là nhiệm vụ cơ bản lâu dài của Nhà nước pháp quyền[15].

Hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển nằm trong kế hoạch phổ biến pháp luật 05 năm của Trung Quốc và được các địa phương triển khai thực hiện phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương mình, theo đó, chủ thể tổ chức thực thi pháp luật có trách nhiệm PBGDPL theo nguyên tắc “ai chấp pháp người đó phổ pháp”.

Chủ thể chính thực hiện công tác PBGDPL cho ngư dân biển là Cục Hải dương và Ngư nghiệp các địa phương và các chi cục thủy hải sản huyện (thành phố), các chủ thể này sẽ lên kế hoạch về thời gian, địa điểm, lựa chọn các phương pháp, hình thức, nội dung để tiến hành PBGDPL cho ngư dân biển. Các chi cục thủy sản huyện (thành phố) rất coi trọng công tác tuyên truyền, PBGDPL, lên kế hoạch, sắp xếp, tổ chức, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, PBGDPL về biển và thủy sản.

Nội dung PBGDPL cho ngư dân biển chủ yếu được thể hiện trong thông báo của Bộ Nông nghiệp về việc điều chỉnh thời gian nghỉ đánh bắt hải sản trong vụ hè, Luật Hợp tác xã nông nghiệp, Luật Chất lượng và An toàn nông sản, Quy chế quản lý thuốc thú y, Quản lý quy định về phòng ngừa và kiểm soát dự án xây dựng công trình biển gây ô nhiễm môi trường biển.

Đối tượng PBGDPL là các làng chài, doanh nghiệp thu mua thủy hải sản, dân cư ở các khu vực ven biển, khu vực đánh cá trọng điểm, ngư cảng hoặc các đơn vị cơ sở.

Hình thức PBGDPL được coi trọng và sàng lọc phù hợp với đối tượng là ngư dân biển. Các phương thức PBGDPL gồm: phát cẩm nang, tài liệu; giảng dạy trực tiếp; dịch vụ tư vấn; triển lãm báo chí; khẩu hiệu biểu ngữ; sử dụng truyền thông và mạng internet; thi tìm hiểu pháp luật; biểu diễn văn nghệ; hoạt động có thưởng. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các chủ thể tiến hành PBGDPL cho ngư dân biển luôn chú trọng đổi mới hình thức tuyên truyền, áp dụng các phương pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, trong đó, sử dụng các phương tiện truyền đạt gần gũi với ngư dân biển, sâu sát từng ngư cảng; lên mũi tàu, vào ca-bin thăm ngư dân để phổ biến pháp luật đến từng làng chài và từng cơ sở doanh nghiệp; thông qua thuyết giảng tập trung, giáo dục cá nhân, điều tra và các phương pháp khác để tuyên truyền công khai những chính sách, pháp luật của Nhà nước, kiến thức về biển và ngư nghiệp. Bên cạnh đó, còn phổ biến pháp luật rộng rãi đến cán bộ kiểm ngư ở địa phương và quần chúng ngư dân, giáo dục ngư dân chấp hành pháp luật, thực hiện nghiêm lệnh cấm đánh bắt, giúp người dân hiểu rõ, tuân thủ các quy định pháp luật về biển và ngư nghiệp[16].

Trong hình thức PBGDPL tập trung công khai, ngư dân được chuẩn bị bàn tư vấn và bàn khiếu nại ngay tại địa điểm tổ chức; bố trí chuyên viên chịu trách nhiệm giải đáp các vấn đề pháp lý về ngư nghiệp do ngư dân nêu ra và tiếp nhận các vấn đề thực thi pháp luật do ngư dân phản ánh. Các hoạt động tuyên truyền, PBGDPL phải được đăng, phát trên đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí của địa phương[17]. Kết hợp với các thời điểm quan trọng trong năm như “Ngày Hiến pháp”, “Ngày Phòng chống thiên tai biển và ngư nghiệp”, “Tuần lễ tuyên truyền về an toàn chất lượng thủy sản và tháng tuyên truyền an toàn sản xuất” để thực hiện các hoạt động quảng bá thông qua đài truyền hình, báo chí, tạp chí định kỳ, tin nhắn văn bản, tài liệu tuyên truyền; phát huy hết tác dụng của internet, mạng xã hội, các phương tiện truyền thông khác để tích cực PBGDPL và mở rộng phạm vi phủ sóng tuyên truyền pháp luật về biển và ngư nghiệp[18]. Tranh thủ thời gian hoạt động thường ngày của ngư dân ở địa phương, khi ngư dân không tham gia đánh bắt, đặc biệt, khi có hoạt động liên quan đến an toàn sản xuất, phòng, chống tội phạm, là cơ hội để tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo, diễn giảng, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về biển và ngư nghiệp.

2. Kinh nghiệm đối với Việt Nam trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho ngư dân biển

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và thực chất, các cam kết quốc tế trở thành yêu cầu cốt lõi để Việt Nam chứng minh cam kết và khẳng định trách nhiệm quốc tế của mình. Nhằm định hướng đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, ngày 22/10/2018, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; ngày 11/3/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 339/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thủy sản đến năm 2030 tầm nhìn 2045. Để thực hiện các chiến lược trên, Việt Nam đang thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp mang tính tích cực, trong đó có việc nâng cao hiệu quả công tác PBGDPL cho ngư dân biển. Việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm PBGDPL tiên tiến của các quốc gia trên thế giới sẽ giúp Việt Nam xây dựng được nền kinh tế biển theo hướng hiện đại và bền vững.

Thứ nhất, với kinh nghiệm PBGDPL tại Indonesia, đặc biệt là chương trình penyuluhan, Việt Nam nên xây dựng các chương trình pháp luật cho cộng đồng dưới nhiều hình thức, có thể do Chính phủ quản lý hoặc kêu gọi các tổ chức phi Chính phủ tham gia. Đối với các chương trình do Chính phủ quản lý, các hoạt động PBGDPL sẽ được tổ chức lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia hoặc giao cho cơ quan chuyên môn do Chính phủ thành lập trực tiếp quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển. Đối với các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức này phải được thẩm định về năng lực thực thi, đánh giá hiệu quả thực thi thông qua các tiêu chí. Như vậy, đây sẽ là chương trình do các chủ thể chuyên nghiệp trong công tác PBGDPL cho ngư dân biển thực hiện. Các chủ thể này sẽ chủ động phân loại ngư dân, nắm bắt tốt về đời sống sinh kế, thói quen, phong tục, tập quán của ngư dân, tập hợp đội ngũ cán bộ có chất lượng, trình độ chuyên môn cao, lựa chọn các phương thức phù hợp, tiên tiến nhất, đặc biệt, các chủ thể này thường hoạt động thường xuyên, liên tục, có hiệu quả. Ở Việt Nam, gần đây, một số chương trình, mô hình PBGDPL cho ngư dân biển được thực hiện theo penyuluhan có hiệu quả, như mô hình “Tổ tự quản tàu, thuyền an toàn trên biển”[19], mô hình “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”[20], chương trình “Cùng ngư dân thắp sáng đèn trên biển”[21].

Thứ hai, từ kinh nghiệm PBGDPL cho ngư dân biển tại Phillippines, Việt Nam có thể tham khảo công tác xã hội hóa hoạt động PBGDPL cho ngư dân biển, đặc biệt, việc huy động các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội, các đơn vị đào tạo luật trên cả nước tham gia vào công tác PBGDPL cho ngư dân biển. Ở Việt Nam, với gần 100 cơ sở đào tạo luật công lập và ngoài công lập, mỗi năm có khoảng hơn 20.000 sinh viên tốt nghiệp[22], mỗi cơ sở đào tạo luật nên thành lập các trung tâm thực hành luật. Ngoài việc rèn luyện kĩ năng thực hành nghề luật cho sinh viên, các trung tâm này sẽ tham gia vào công tác PBGDPL cho cộng đồng, trong đó có ngư dân biển. Ngoài ra, việc phối hợp với các tổ chức có chuyên môn cao về lĩnh vực pháp luật như Hội Luật gia Việt Nam, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Hội Thủy sản Việt Nam hay các đơn vị trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,… sẽ huy động tối đa nguồn lực cần thiết bảo đảm cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác PBGPDL cho ngư dân biển.

Thứ ba, Việt Nam có thể tham khảo mô hình quản lý tàu cá của Thái Lan, đặc biệt, việc lắp đặt VMS, vì đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc Thái Lan gỡ bỏ được “thẻ vàng” của EC, điều mà Việt Nam chưa làm được kể từ năm 2017. Việc lắp đặt VMS trên tàu cá sẽ giúp các đơn vị chức năng theo dõi hải trình của tàu, kịp thời tuyên truyền, nhắc nhở ngư dân ngay khi tàu có dấu hiệu sang đánh bắt tại các vùng biển nước ngoài. Ngoài ra, việc lắp đặt VMS sẽ giúp ngành thủy sản truy xuất được nguồn gốc hải sản, thuận lợi cho việc xuất khẩu thủy hải sản hay trong đàm phán thương mại.

Từ kinh nghiệm của Singapore, Việt Nam nên khuyến khích, động viên ngư dân biển đánh bắt ở vùng lộng, gần bờ chuyển sang nuôi trồng thủy hải sản trên biển. Bởi, những năm gần đây, nguồn thủy hải sản ở vùng lộng, gần bờ có sản lượng rất thấp do ngư dân biển dùng các phương pháp đánh bắt tận diệt và hủy diệt, dẫn đến mất khả năng tái tạo, phục hồi của tự nhiên, gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại thảm thực vật tầng đáy. Do đó, việc đầu tư khoa học kỹ thuật, áp dụng các phương pháp nuôi trồng gần bờ là rất cần thiết, vừa bảo đảm sinh kế bền vững cho ngư dân biển, vừa bảo vệ môi trường.

Thứ tư, từ kinh nghiệm PBGDPL cho ngư dân biển tại Trung Quốc cho thấy, các nội dung, phương thức PBGDPL cho ngư dân biển là rất đa dạng, phong phú, tiếp cận được nhiều đối tượng ngư dân khác nhau, Việt Nam nên áp dụng kết hợp PBGDPL bằng hình thức tuyên truyền, vừa kết hợp tư vấn và giải đáp thắc mắc, khiếu nại pháp luật ngay tại địa điểm tổ chức PBGDPL. Bởi lẽ, ngư dân biển thường có thời gian đánh bắt dài ngày, không có nhiều thời gian để giải quyết các vấn đề pháp lý cá nhân, đặc biệt là các thủ tục hành chính nhiều cấp. Vì vậy, việc tuyên truyền kết hợp tư vấn, giải đáp, tiếp nhận và xử lý vấn đề sẽ giúp ngư dân tiết kiệm thời gian và chi phí, tập trung vào hoạt động sản xuất.

Ngoài việc tham khảo kinh nghiệm PBGDPL của các quốc gia trên thế giới, Việt Nam nên thực hiện đồng bộ các giải pháp xuất phát từ nội lực trong công tác PBGDPL cho ngư dân biển:

Một là, hoàn thiện pháp luật về PBGDPL cho ngư dân biển. Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 qua thời gian dài thực hiện đã cho thấy có nhiều hạn chế, vì vậy, nên bổ sung theo hướng: quy định lại chủ thể tổ chức thực hiện, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và nâng cao vai trò của Hội đồng Phối hợp PBGDPL các cấp trong bối cảnh Việt Nam đã chuyển sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp; phương pháp và hình thức PBGDPL cũng bổ sung theo hướng áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ nhằm tiếp cận các phương thức PBGDPL tiên tiến trên thế giới; trong các tiêu chí đánh giá hiệu quả PBGDPL theo Thông tư số 03/2018/TT-BTP ngày 10/3/2018 của Bộ Tư pháp quy định Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác PBGDPL, bổ sung tiêu chí đánh giá về chủ thể trực tiếp thực hiện như báo cáo viên, tuyên truyền viên…

Hai là, xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật vừa hồng vừa chuyên. Đội ngũ này cần được đào tạo và am hiểu phong tục, tập quán, thói quen và sinh kế của ngư dân biển theo các vùng, miền. Cần có các chương trình tập huấn thường xuyên, nâng cao trình độ chuyên môn, kĩ năng thực hành nghề nghiệp cho đội ngũ làm công tác PBGDPL cho ngư dân biển. Nâng cao chế độ đãi ngộ cho công tác quản lý, báo cáo viên, tuyên truyền viên nhằm động viên, khích lệ các chủ thể tham gia và thực hiện có hiệu quả.

Ba là, kinh phí PBGDPL cho ngư dân biển chủ yếu vẫn từ nguồn ngân sách nhà nước, việc xã hội hóa công tác PBGDPL cho ngư dân biển cần được các chủ thể đầu tư và quan tâm hơn nữa, huy động được các tổ chức từ thiện, doanh nghiệp, tổ chức phi Chính phủ và toàn xã hội, việc xây dựng kinh phí phải mang chiến lược lâu dài liên tục, đáp ứng được các chương trình kế hoạch đề ra. Cùng với việc xã hội hóa công tác PBGDPL, cần tổ chức thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia như đề án “Phát huy vai trò của lực lượng Quân đội nhân dân tham gia công tác PBGDPL, vận động nhân dân chấp hành pháp luật tại cơ sở, giai đoạn 2021 - 2027” (Đề án 1371) của Bộ Quốc phòng, hay nhân rộng các mô hình phổ biến, tuyên truyền có hiệu quả như chương trình “Cảnh sát biển đồng hành cùng ngư dân”, chương trình “Tổ tự quản, tàu thuyền trên biển”…

Bốn là, tích cực hợp tác quốc tế trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ và chống khai thác IUU. Thông qua việc gia nhập các tổ chức quốc tế có liên quan, Việt Nam có thể tiếp nhận và chia sẻ thông tin, phối hợp xử lý tàu quốc tịch Việt Nam khai thác IUU ở vùng biển quốc tế và vùng biển thuộc quyền quản lý của các Tổ chức quản lý nghề cá khu vực (Regional Fisheries Management Organisation - RFMO). Bên cạnh đó, Việt Nam nên tranh thủ hợp tác nhằm chuyển giao công nghệ, đặc biệt, các hệ thống giám sát và quản lý tàu cá tiên tiến của các nước Indonesia, Philippines và Thái Lan, nhằm hạn chế tối đa các hành vi khai thác trái phép, tiến tới gỡ bỏ “thẻ vàng” của EC.

Kết luận

Mỗi quốc gia có những điều kiện kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, chiến lược phát triển biển khác nhau, từ đó, kết quả của công tác PBGDPL cho ngư dân biển cũng khác nhau. Tuy nhiên, các quốc gia đều hướng tới mục đích chung là nâng cao trình độ nhận thức của ngư dân biển, giúp ngư dân có thái độ và hành xử đúng pháp luật, tôn trọng pháp luật. Việc nghiên cứu các mô hình PBGDPL tại các quốc gia trên thế giới, trong đó, tập trung vào các quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội và mối quan hệ an ninh, quốc phòng gắn liền với Việt Nam sẽ là kinh nghiệm quý cho công tác PBGDPL đối với ngư dân biển tại Việt Nam./.

TS. Lý Nam Hải

Phó Trưởng khoa, phụ trách Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Đại sứ quán Việt Nam tại Indonesia, Khai thác thủy sản trái phép theo pháp luật Indonesia, https://vnembassy-jakarta.mofa.gov.vn/vi-vn/News/EmbassyNews, truy cập ngày 04/7/2025.

[2]. Winter, Gerd (Ed) (2009), Towards Sustainable Fisheries Law, A Comparative Analysis. IUCN, Gland, Switzerland, tr. 54.

[3]. Anh Vũ, Ngư dân Indonesia đang tận dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) để cải thiện sản lượng đánh bắt của mình, https://laodong.vn/cong-nghe/ngu-dan-indonesia-dung-tri-tue-nhan-tao-de-tim-noi-danh-ca-1379284.ldo, truy cập ngày 04/7/2025.

[4]. Thách thức và cơ hội cho phát triển thủy sản bền vững ở Philippines, http://vasep.com.vn/chong-khai-thac-iuu/tin-tuc-iuu/thach-thuc-va-co-hoi-cho-phat-trien-thuy-san-ben-vung-o-philippines-21370.html, truy cập ngày 04/7/2025.

[5]. Joseph Anthony G.Loot (2010), Paralegal Work: A Community-Based Approach to Fisheries Law Enforcement in Negros Occidental, Phillippines, Phillippines, Negros, Philippines, tr. 10 - 15.

[6]. Philippines ứng dụng ICT để kiểm tra, giám sát hoạt động đánh bắt cá, https://ictvietnam.vn/philippines-ung-dung-ict-de-kiem-tra-giam-sat-hoat-dong-danh-bat-ca-21109.html, truy cập ngày 04/7/2025.

[7]. Bảo Duy, Thái Lan cấm đánh bắt cá 3 tháng trên vịnh Thái Lan, https://tuoitre.vn/thai-lan-cam-danh-bat-ca-3-thang-tren-vinh-thai-lan-20190611115523479.htm, truy cập ngày 04/7/2025; Ngọc Phương, Thái Lan cấm đánh bắt cá ngoài khơi, https://vtv.vn/the-gioi/thai-lan-cam-danh-bat-ca-ngoai-khoi-2025021421130123.htm, truy cập ngày 04/7/2025.

[8]. Xem: https://www.hrw.org/report/2018/01/23/hidden-chains/rights-abuses-and-forced-labor-thailands-fishing-industry, truy cập ngày 04/7/2025.

[9]. Kinh nghiệm của Thái Lan về gỡ “thẻ vàng” thủy sản, https://nhandan.vn/kinh-nghiem-cua-thai-lan-ve-go-the-vang-thuy-san-post377780.html, truy cập ngày 04/7/2025.

[10]. Bộ Thủy sản Thái Lan (2017), Quy trình vận hành tiêu chuẩn về kiểm soát và thanh tra tàu treo cờ nước ngoài theo các biện pháp của nhà nước có cảng (PSM), https://www4.fisheries.go.th/local/file_document/20171114131523_1_file.pdf, truy cập ngày 04/7/2025.

[11]. Fujii, I.; Okochi, Y.; Kawamura, H. (2021), Promoting Cooperation of Monitoring, Control, and Surveillance of IUU Fishing in the Asia-Pacific. Sustainability, Vol. 13, 10231. https://doi.org/ 10.3390/su131810231.

[12]. EC (2019), Commission lifts “yellow card” from Thailand for its actions against illegal fishing, https://ec.europa.eu/commission/presscorner/detail/en/IP_19_61, truy cập ngày 04/7/2025.

[13]. Xem: https://www.straitstimes.com/singapore/environment/fishing-community-proposes-three-sustainable-fishing-guidelines-amid-local, truy cập ngày 04/7/2025.

[14]. Singapor Statutes online, Đạo luật Thủy sản 1966, https://sso.agc.gov.sg/Act/FA1966, truy cập ngày 04/7/2025.

[15]. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Tư pháp Trung Quốc, Kế hoạch tuyên truyền giáo dục 05 năm lần thứ 8 (2020 - 2025), Bắc Kinh, Trung Quốc, tr. 15.

[16]. Cục Thủy sản và Đại dương Phúc Châu (2019), Kế hoạch công tác phổ biến luật năm 2019, http://hyj.fuzhou.gov.cn/zz/zwgk/ghjh_3376/201911/t20191118_3083770.htm, truy cập ngày 04/7/2025 (do quy định về an ninh mạng tại nước sở tại, trích dẫn chỉ tra cứu được tại Trung Quốc).

[17]. Ủy ban nhân dân thành phố Cù Châu, tỉnh Chiết Giang, Tài liệu “Bồi dưỡng tập huấn pháp luật cho ngư dân”, http://www.zjcs.gov.cn/art/2020/7/1/art_1252845_54217775.html, truy cập ngày 04/7/2025 (do quy định về an ninh mạng tại nước sở tại, trích dẫn chỉ được tra cứu được tại Trung Quốc).

[18]. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Thông báo về hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật “Đưa pháp luật đến ngư thôn, đưa pháp luật đến cơ sở” năm 2009, http://www. qingdao.gov.cn/n172/n24624151/n24627375/n24627389/n24627403/120908202709501821.html, truy cập ngày 04/7/2025 (do quy định về an ninh mạng, trích dẫn chỉ được tra cứu được tại Trung Quốc).

[19]. Nguyễn Hoàng, Hiệu quả thiết thực từ “Tổ tự quản tàu thuyền an toàn” trên biển, https://thiennhienmoitruong.vn/hieu-qua-thiet-thuc-tu-to-tu-quan-tau-thuyen-an-toan-tren-bien.html, truy cập 04/7/2025.

[20]. Doãn Bảo Quyết (2024), Tiếp tục triển khai sâu rộng và phát huy hiệu quả mô hình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân, https://old.canhsatbien.vn/portal/tap-chi-canh-sat-bien-so-4/tiep-tuc-trien-khai-sau-rong-va-phat-huy-hieu-qua-mo-hinh-%E2%80%9Ccanh-sat-bien-dong-hanh-voi-ngu-dan%E2%80%9D, truy cập ngày 04/7/2025.

[21]. Báo pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh (2024), Chương trình “Cùng ngư dân thắp sáng đèn trên biển”, https://plo.vn/cung-ngu-dan-thap-sang-den-tren-bien-la-chuong-trinh-co-gia-tri-nhan-van-lon-post803535.html, truy cập ngày 04/7/2025.

[22]. Hồ Nhân Ái, Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân luật ở Việt Nam, https://lsvn.vn/mot-so-giai-phap-nang-cao-chat-luong-dao-tao-cu-nhan-luat-o-viet-nam1665859199.html, truy cập ngày 04/7/2025.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Tư pháp Trung Quốc, Kế hoạch tuyên truyền giáo dục 05 năm lần thứ 8 (2020 - 2025), Bắc Kinh, Trung Quốc.

2. Bảo Duy, Thái Lan cấm đánh bắt cá 3 tháng trên vịnh Thái Lan, https://tuoitre.vn/thai-lan-cam-danh-bat-ca-3-thang-tren-vinh-thai-lan-20190611115523479.htm, truy cập ngày 04/7/2025.

3. Bộ Thủy sản Thái Lan (2017), Quy trình vận hành tiêu chuẩn về kiểm soát và thanh tra tàu treo cờ nước ngoài theo các biện pháp của nhà nước có cảng (PSM), https://www4.fisheries.go.th/local/file_document/20171114131523_1_ file.pdf, truy cập ngày 04/7/2025.

4. Cục Thủy sản và Đại dương Phúc Châu (2019), Kế hoạch công tác phổ biến luật năm 2019, http://hyj.fuzhou.gov.cn/zz/zwgk/ghjh_3376/201911/t20191118_3083770.htm, truy cập ngày 04/7/2025.

5. Đại sứ quán Việt Nam tại Indonesia, Khai thác thủy sản trái phép theo pháp luật Indonesia, https://vnembassy-jakarta.mofa.gov.vn/vi-vn/News/EmbassyNews, truy cập ngày 04/7/2025.

6. Doãn Bảo Quyết (2024), Tiếp tục triển khai sâu rộng và phát huy hiệu quả mô hình “Cảnh sát biển đồng hành với ngư dân, https://old.canhsatbien.vn/ portal/tap-chi-canh-sat-bien-so-4/tiep-tuc-trien-khai-sau-rong-va-phat-huy-hieu-qua-mo-hinh-%E2%80%9Ccanh-sat-bien-dong-hanh-voi-ngu-dan%E2%80%9D, truy cập ngày 04/7/2025.

7. EC (2019), Commission lifts “yellow card” from Thailand for its actions against illegal fishing, https://ec.europa.eu/commission/presscorner/ detail/en/IP_19_61, truy cập ngày 04/7/2025.

8. Fujii, I., Okochi, Y., Kawamura, H. (2021), Promoting Cooperation of Monitoring, Control, and Surveillance of IUU Fishing in the Asia-Pacific. Sustainability, Vol. 13, 10231. https://doi.org/ 10.3390/su131810231.

9. Joseph Anthony G.Loot (2010), Paralegal Work: A Community-Based Approach to Fisheries Law Enforcement in Negros Occidental, Phillippines, Phillippines, Negros, Philippines.

10. Kinh nghiệm của Thái Lan về gỡ “thẻ vàng” thủy sản, https://nhandan.vn/kinh-nghiem-cua-thai-lan-ve-go-the-vang-thuy-san-post377780.html, truy cập ngày 04/7/2025.

11. Philippines ứng dụng ICT để kiểm tra, giám sát hoạt động đánh bắt cá, https://ictvietnam.vn/philippines-ung-dung-ict-de-kiem-tra-giam-sat-hoat-dong-danh-bat-ca-21109.html, truy cập ngày 04/7/2025.

12. Thách thức và cơ hội cho phát triển thủy sản bền vững ở Philippines, http://vasep. com.vn/chong-khai-thac-iuu/tin-tuc-iuu/ thach-thuc-va-co-hoi-cho-phat-trien-thuy-san-ben-vung-o-philippines-21370.html, truy cập ngày 04/7/2025.

13. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Đảo, tỉnh Sơn Đông, Thông báo về hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật “Đưa pháp luật đến ngư thôn, đưa pháp luật đến cơ sở” năm 2009, http://www.qingdao.gov. cn/n172/n24624151/n24627375/n24627389/ n24627403/120908202709501821.html, truy cập ngày 04/7/2025.

14. Ủy ban nhân dân Thành phố Cù Châu, tỉnh Chiết Giang, Tài liệu “Bồi dưỡng tập huấn pháp luật cho ngư dân”, http://www.zjcs. gov.cn/art/2020/7/1/art_1252845_54217775. html, truy cập ngày 04/7/2025.

15. Winter, Gerd (Ed) (2009), Towards Sustainable Fisheries Law, A Comparative Analysis, IUCN, Gland, Switzerland.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số Kỳ 1 (440) tháng 11/2025)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Pháp luật về quản lý hạn ngạch và chống khai thác IUU - Kinh nghiệm từ Indonesia và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh gia tăng hoạt động khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định, việc hoàn thiện cơ chế quản lý hạn ngạch khai thác và tăng cường thực thi các nghĩa vụ quốc tế theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 trở thành yêu cầu quan trọng đối với các quốc gia ven biển. Nghiên cứu phân tích, tổng hợp và so sánh pháp luật thông qua kinh nghiệm lập pháp và thực tiễn thực thi tại Indonesia để đánh giá thực trạng pháp luật và cơ chế thực thi tại Việt Nam, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng, chống khai thác IUU tại Việt Nam.
Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Giao dịch tín chỉ carbon theo pháp luật liên minh châu Âu và Trung Quốc - một số gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quản lý tín chỉ carbon là một trong những giải pháp quan trọng để kiểm soát ô nhiễm môi trường. Vì thế, nhiều quốc gia trên thế giới đã hình thành thị trường giao dịch tín chỉ carbon. Nghiên cứu phân tích khái niệm, bản chất pháp lý của giao dịch tín chỉ carbon dưới góc độ quyền tài sản và giao dịch dân sự - thương mại, đồng thời, nghiên cứu kinh nghiệm pháp lý của Liên minh châu Âu và Trung Quốc trong tổ chức thị trường carbon, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam theo hướng minh bạch, có khả năng giao dịch, bảo đảm tương thích với thông lệ quốc tế và góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Vai trò của Tòa án trong thỏa thuận nhận tội ở Hoa Kỳ và Pháp - Gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trước yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án hình sự cả về số lượng và chất lượng, thỏa thuận nhận tội dần trở thành xu hướng được nhiều quốc gia nghiên cứu, áp dụng, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực thi cơ chế này cũng đặt ra những thách thức lớn trong việc bảo đảm cân bằng giữa hiệu quả tố tụng với quyền và lợi ích của người bị buộc tội, đòi hỏi vai trò giám sát chặt chẽ của cơ quan tư pháp, mà trọng tâm là Tòa án. Nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò, thẩm quyền, quy trình phê chuẩn thỏa thuận nhận tội của Tòa án theo quy định pháp luật của Hoa Kỳ, Pháp và so sánh với pháp luật Việt Nam, từ đó, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng, hoàn thiện cơ chế thỏa thuận nhận tội phù hợp với Việt Nam.
Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Pháp luật Liên minh châu Âu trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng - Kinh nghiệm từ Tây Ban Nha, Pháp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số đặt ra thách thức lớn trong xác định tình trạng việc làm của người làm việc thông qua nền tảng kỹ thuật số. Chỉ thị (EU) 2024/2831 đã thiết lập giả định pháp lý về quan hệ lao động nếu người làm việc bị kiểm soát thông qua hệ thống thuật toán, đồng thời, cho phép các quốc gia thành viên linh hoạt thiết kế cơ chế xác định tình trạng việc làm phù hợp với đặc thù pháp luật quốc gia. Nghiên cứu phân tích hai mô hình tiêu biểu tại Tây Ban Nha và Pháp thuộc Liên minh châu Âu (EU), đại diện cho hai cách tiếp cận khác nhau: luật hóa cứng (Tây Ban Nha), án lệ linh hoạt (Pháp), chỉ ra ưu điểm, hạn chế của từng mô hình, qua đó, đề xuất một số kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc trong xây dựng khung pháp luật phù hợp với thực tế nhằm bảo vệ người lao động thông qua nền tảng mà vẫn bảo đảm sự linh hoạt của thị trường.
Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Hoàn thiện quy định về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân của hòa giải viên lao động - từ kinh nghiệm của Indonesia

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân có xu hướng gia tăng, đòi hỏi cơ chế hòa giải phải thực sự hiệu quả để bảo đảm quan hệ lao động hài hòa, ổn định. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân thông qua hòa giải viên lao động còn bộc lộ một số hạn chế, đặc biệt liên quan đến thời hiệu yêu cầu hòa giải, tiêu chuẩn và quyền hạn của hòa giải viên, cũng như thời hạn thực hiện hòa giải. Trên cơ sở phương pháp so sánh, phân tích những nội dung cơ bản của pháp luật Indonesia và Việt Nam, làm rõ những điểm tương đồng, hạn chế của pháp luật Việt Nam, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả cơ chế hòa giải và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động.
Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Pháp luật về hoàn trả và bảo hành hàng hóa trong thương mại điện tử - so sánh giữa pháp luật Việt Nam và Trung quốc

Tóm tắt: Trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh, các chính sách hậu mãi như hoàn trả và bảo hành trở thành công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ người tiêu dùng. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật Việt Nam và Trung Quốc về hai chính sách này, nghiên cứu làm rõ các nguyên tắc “niềm tin chính đáng”, “trách nhiệm chia sẻ” và cơ chế “ba bảo đảm” tại Trung Quốc, nhận diện những hạn chế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp và sàn thương mại điện tử, nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy trong môi trường thương mại điện tử.
Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Kinh nghiệm của Thụy Điển, Nhật Bản trong cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Chế định cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp là cơ chế pháp lý quan trọng để bảo đảm thực thi quyền tiếp cận thông tin. Nghiên cứu phân tích nội dung chế định này theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ ra một số hạn chế trong quá trình triển khai thi hành, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Thụy Điển và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định trong dự thảo Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi) ở Việt Nam.
Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp - Kinh nghiệm từ một số quốc gia, khuyến nghị của Article 19 và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin, đặc biệt là thông tin do cơ quan nhà nước nắm giữ trở thành chuẩn mực quan trọng của quản trị dân chủ và Nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nội dung và cũng là yêu cầu cốt lõi trong bảo đảm quyền này là cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp, bên cạnh nghĩa vụ chủ động công bố thông tin của các cơ quan công quyền. Nghiên cứu phân tích quy định về cung cấp thông tin theo yêu cầu của người dân và doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và theo Luật mẫu của ARTICLE 19, làm rõ những ưu điểm về bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và hiệu quả thực thi. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế cung cấp thông tin hiệu quả theo yêu cầu của người dân, doanh nghiệp không chỉ gồm quy định về chủ thể có quyền và trách nhiệm, mà còn gắn với các yếu tố như cơ chế giám sát độc lập, chuẩn hóa quy trình xử lý yêu cầu và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, cung cấp thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, đề xuất Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số kinh nghiệm có giá trị trong việc hoàn thiện khung pháp luật về cung cấp thông tin theo yêu cầu, đặc biệt, trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quản trị minh bạch và phát triển Chính phủ số.
Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Trung Quốc và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 bộc lộ những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu phải sửa đổi nhằm đáp ứng thực tiễn quản trị hiện đại. Nghiên cứu tập trung đánh giá các khoảng trống pháp lý trên không gian mạng, sự phức tạp trong thủ tục hành chính hiện hành; đồng thời, đi sâu phân tích kinh nghiệm của Trung Quốc đối với mô hình quản lý tôn giáo trực tuyến và cơ chế hậu kiểm, từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện dự án Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Bằng việc sử dụng phương pháp so sánh luật học và phân tích chính sách, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các hướng hoàn thiện cụ thể: luật hóa trách nhiệm định danh trên môi trường số, thiết lập cơ chế quản trị nhiều bên và đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn liền với việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Những giải pháp đó nhằm kiến tạo hành lang pháp lý vững chắc, góp phần bảo đảm quyền tự do tôn giáo hài hòa với lợi ích an ninh quốc gia.
Kiểm soát sở hữu chéo cổ phần bằng quyền tiếp cận thông tin - Nghiên cứu, so sánh pháp luật Nhật Bản, Úc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Kiểm soát sở hữu chéo cổ phần bằng quyền tiếp cận thông tin - Nghiên cứu, so sánh pháp luật Nhật Bản, Úc và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Tăng cường kiểm soát sở hữu chéo cổ phần đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế rủi ro phát sinh từ các cấu trúc sở hữu phức tạp và thiếu minh bạch. Nghiên cứu phân tích, đánh giá, so sánh các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về minh bạch thông tin liên quan đến sở hữu chéo cổ phần của Nhật Bản, Úc và Việt Nam để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin như một công cụ pháp lý hỗ trợ nhận diện quan hệ lợi ích, phòng ngừa rủi ro trong quản trị doanh nghiệp, cạnh tranh và ổn định tài chính. Nghiên cứu cho thấy, Nhật Bản và Úc đều coi minh bạch thông tin là nền tảng của cơ chế giám sát sở hữu chéo, trong khi pháp luật Việt Nam còn những hạn chế trong bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin về cấu trúc sở hữu, từ đó, đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường minh bạch, liên thông dữ liệu và nâng cao hiệu quả giám sát của thị trường và xã hội.
Bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm nghệ thuật thị giác trong văn hóa phối lại bởi AI - Kinh nghiệm pháp luật của Mỹ và khuyến nghị đối với Việt Nam

Bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm nghệ thuật thị giác trong văn hóa phối lại bởi AI - Kinh nghiệm pháp luật của Mỹ và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên số, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo đã làm thay đổi căn bản cách thức sáng tạo trong lĩnh vực nghệ thuật thị giác, đặc biệt là trong văn hóa phối lại. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành còn những khoảng trống nhất định liên quan đến vấn đề này, dẫn đến khó khăn trong việc bảo vệ quyền của các chủ thể liên quan và trong hoạt động xử lý hành vi xâm phạm của cơ quan quản lý nhà nước, đặt ra thách thức đối với sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp sáng tạo. Bài viết phân tích quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Mỹ đối với tác phẩm nghệ thuật thị giác được phối lại bởi trí tuệ nhân tạo, đồng thời, so sánh với pháp luật Việt Nam để chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam, từ đó, đề xuất giải pháp hoàn thiện theo hướng bảo đảm cân bằng lợi ích giữa các chủ thể và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong môi trường số.
Mô hình hạn ngạch việc làm cho người khuyết tật ở Trung Quốc - Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Mô hình hạn ngạch việc làm cho người khuyết tật ở Trung Quốc - Kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tóm tắt: Bảo đảm quyền việc làm cho người khuyết tật là thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật của các quốc gia đang phát triển. Bài viết nghiên cứu mô hình hạn ngạch việc làm bắt buộc tại Trung Quốc và so sánh đối chiếu với thực trạng pháp luật Việt Nam, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm tối ưu hóa quyền việc làm cho người khuyết tật trong bối cảnh sửa đổi Luật Người khuyết tật.
Lồng ghép giới trong chính sách và pháp luật thương mại - Thực tiễn châu Á và khuyến nghị đối với Việt Nam

Lồng ghép giới trong chính sách và pháp luật thương mại - Thực tiễn châu Á và khuyến nghị đối với Việt Nam

Tóm tắt: Lồng ghép giới đóng vai trò quan trọng để bảo đảm bình đẳng giới trong xây dựng chính sách, pháp luật nói chung và pháp luật thương mại nói riêng. Bài viết nghiên cứu, phân tích cơ sở pháp lý - chính trị của việc lồng ghép giới trong lĩnh vực thương mại, đánh giá thực tiễn triển khai tại một số quốc gia châu Á (trọng tâm là Hàn Quốc, Philippines và Ấn Độ), từ đó, đề xuất gợi mở đối với Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật nhằm thể chế hóa việc lồng ghép giới trong lĩnh vực thương mại.
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong kinh tế tuần hoàn của Liên minh châu Âu - Một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam

Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất trong kinh tế tuần hoàn của Liên minh châu Âu - Một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Nhà sản xuất đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế tuần hoàn, nên pháp luật nhiều nước đã quy định trách nhiệm cụ thể của nhà sản xuất để bảo đảm phát triển bền vững. Bài viết làm rõ điểm tương đồng và sự khác biệt giữa pháp luật của Liên minh châu Âu và pháp luật Việt Nam về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, đồng thời, chỉ ra những hạn chế trong khung pháp lý và thực tiễn thực thi tại Việt Nam, từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp pháp lý nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế tuần hoàn và môi trường xanh tại Việt Nam.
Chính sách chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Chính sách chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi - Kinh nghiệm quốc tế và gợi mở đối với Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh già hoá dân số toàn cầu, việc nghiên cứu, hoàn thiện chính sách về người cao tuổi, đặc biệt là chính sách chăm sóc dài hạn trở thành yêu cầu cấp thiết. Tại Việt Nam, hệ thống chính sách, pháp luật hiện hành đã thể hiện rõ nét chủ trương nhân văn của Đảng và Nhà nước trong việc ưu tiên chăm sóc người cao tuổi, song, thực tiễn triển khai còn bộc lộ một số hạn chế. Bài viết đề cập kinh nghiệm xây dựng chính sách chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi của một số quốc gia tiêu biểu, từ đó, đưa ra một số gợi mở nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về chính sách chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi.

Theo dõi chúng tôi trên: