Thứ năm 30/04/2026 21:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Phòng ngừa tra tấn đối với hoạt động lấy lời khai, hỏi cung bị can và một số kiến nghị

Với mong muốn cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng trị tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn, ngày 07/11/2013, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ nhục nhân phẩm và ngày 28/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã phê chuẩn Công ước này. Trong nội dung bài viết, tác giả đã đánh giá những thành công của Việt Nam khi thực hiện Công ước, đồng thời, cũng nêu một số hạn chế và đề xuất định hướng hoàn thiện để phòng ngừa tra tấn trong tố tụng hình sự.


Sự kiện Việt Nam phê chuẩn Công ước chống tra tấn thực sự có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động bảo vệ nhân quyền, thực hiện nhất quán chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam góp phần triển khai, thi hành có hiệu quả Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân và là bước đi cụ thể trong quá trình chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam, khẳng định Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Tra tấn thường được nói đến với các hình thức ngược đãi, được sử dụng như một sự trừng phạt, đe dọa nhằm kiểm soát người khác để có thể có được thông tin hay chỉ để thỏa mãn các xung đột tàn bạo[1] có những hành vi nhất định được hiển nhiên xác định là tra tấn thể chất như: Sốc điện vào bộ phận sinh dục hoặc kéo móng tay ra khỏi ngón tay; dùng các hung khí hoặc tay không tác động vào cơ thể của nạn nhân[2]; nhấn nước hoặc gây nghẹt thở; treo người trong một thời gian dài[3]... Tuy nhiên, tra tấn không chỉ bằng các hình thức gây tổn thương về thể chất, mà có thể được thực hiện bằng hình thức tra tấn tinh thần. Công ước chống tra tấn không quy định cụ thể, nhưng có thể kể đến một số hình thức như: Biệt giam nạn nhân trong phòng kín, không có ánh sáng; không tiếp xúc trong một thời gian dài; cho nạn nhân chứng kiến cảnh người thân bị hành hạ; cho nạn nhân chịu đựng những âm thanh khó chịu khiến nạn nhân bị ám ảnh hay ức chế[4]... Các hành vi gây ra trạng thái quá mức chịu đựng của một con người, uy hiếp tinh thần dẫn đến nạn nhân sợ hãi, đau khổ, tuyệt vọng thông qua các mối đe dọa đối với gia đình hoặc những người thân yêu[5].

Khi tham gia Công ước chống tra tấn đã đặt ra một yêu cầu đối với các nước thành viên là “phải thực hiện các biện pháp cụ thể về lập pháp, hành pháp, tư pháp hoặc các biện pháp hiệu quả khác nhằm phòng ngừa mọi hành vi tra tấn”[6], đồng thời, phải ghi nhận nội dung Điều 1 Công ước về khái niệm tra tấn vào hệ thống pháp luật quốc gia. Với vai trò là thành viên Hội đồng nhân quyền và là quốc gia đã phê chuẩn Công ước, cũng như gia nhập nhiều Điều ước quốc tế về quyền con người[7], ngày 17/3/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 364/QĐ-TTg về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, trong đó nêu rõ: “Nghiên cứu hoàn thiện các quy định có liên quan trong Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo đảm tốt hơn quyền con người, đặc biệt là quyền của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam”[8]. Căn cứ vào kế hoạch này các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện: Tổ chức tập huấn nội dung Công ước cho cán bộ, công chức; tuyên truyền Công ước chống tra tấn rộng rãi cho quần chúng nhân dân, có các kế hoạch nghiên cứu lĩnh vực pháp lý để phòng ngừa tra tấn trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực tố tụng hình sự.

Thực tế, Bộ luật Tố tụng hình sự qua các thời kỳ, mà cụ thể là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được các nhà lập pháp nghiên cứu nội luật hóa những quan điểm tiến bộ nhằm bảo đảm quyền con người trong các văn kiện quốc tế cũng như của Công ước chống tra tấn để phòng ngừa tra tấn như: Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể; nguyên tắc bảo hộ, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản cá nhân, pháp nhân[9]; quy định “ghi âm, ghi hình có âm thanh”; những việc cần phải làm ngay sau khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị bắt; thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp; các quyền của người bị buộc tội và một số chế định khác nhằm hỗ trợ cho người bị buộc tội có khả năng phòng ngừa hành vi dùng nhục hình từ những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng... Do đó, khi chính thức phê chuẩn Công ước chống tra tấn, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có những quy định thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của quốc gia thành viên.

Thời gian qua, mặc dù tình hình tội phạm vẫn còn diễn biến phức tạp và đang có chiều hướng gia tăng số vụ, số người phạm tội[10]. Nhưng cơ quan điều tra trong lực lượng Công an nhân dân đã nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, từng bước chấn chỉnh, khắc phục tồn tại, thiếu sót vi phạm các quyền con người, đồng thời, đã triển khai áp dụng nhiều biện pháp tích cực để quán triệt và thực hiện nhiệm vụ Chiến lược cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước để phòng ngừa tra tấn trong tố tụng hình sự nhất là đối với “lấy lời khai, hỏi cung bị can”. Bởi vì, đây là hoạt động có khả năng xảy ra tra tấn (dùng nhục hình cao nhất). Theo Báo cáo Quốc gia của Việt Nam về thực thi Công ước chống tra tấn, từ năm 2010 đến năm 2015, Tòa án nhân dân chưa thụ lý vụ án nào về tội bức cung và tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; đã thụ lý và xét xử 10 vụ án với tổng số 26 lượt bị cáo về tội dùng nhục hình theo Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, theo Báo cáo của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, từ năm 2016 đến năm 2020, Tòa án nhân dân đã thụ lý, xét xử 10 vụ/25 bị cáo[11]. Có thể thấy rằng, với số lượng vụ án hình sự mỗi năm xảy ra là rất lớn, thì vẫn còn tồn tại những vụ án dùng nhục hình nhưng chiếm tỉ lệ rất thấp[12]. Theo điều tra xã hội học của tác giả tại một số trại giam của Bộ Công an cho thấy, hiện nay, lực lượng điều tra viên nói chung đã tuân thủ các quy định tố tụng hình sự để bảo đảm quyền con người, phòng ngừa tra tấn trong quá trình lấy lời khai, hỏi cung bị can như: Các bị can được phổ biến về quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, được hỏi thăm tình trạng sức khỏe khi tiến hành làm việc; lấy lời khai, hỏi cung bị can thường được tiến hành vào các khung giờ 7 - 11 giờ; 13 - 17 giờ; thời gian trung bình từ 2 - 3 giờ/1 lần; có sự hiện diện của người bào chữa khi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tổ chức hỏi cung bị can và được đặt câu hỏi khi điều tra viên đồng ý (khi người bị buộc tội có nhờ người bào chữa); cho phép người bị buộc tội được thực hiện quyền im lặng; có sự tham gia của Viện kiểm sát khi tiến hành hỏi cung bị can… Có thể đánh giá rằng, cơ bản Việt Nam đã thực hiện nghĩa vụ này và đạt được những kết quả nhất định về phòng ngừa các hành vi tra tấn khi cơ quan điều tra các cấp tiến hành lấy lời khai, hỏi cung bị can. Vấn đề này đã giúp cho Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế phòng ngừa các hành vi tra tấn trong tố tụng hình sự và góp phần khám phá nhanh các vụ án và giảm tỉ lệ án vụ án oan sai có thể xảy ra.

Tuy nhiên, thực tế hành vi tra tấn vẫn diễn ra, mặt khác, tra tấn là một loại tội phạm có mức độ ẩn khá cao, chỉ khi nào nạn nhân bị dùng nhục hình đến mức phải nhập viện, thậm chí, dẫn đến tử vong thì hành vi mới được phát hiện. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuy đã thể hiện nội dung phòng ngừa tra tấn, nhưng vẫn còn một số bất cập như sau:

Một là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã có quy định về trình tự, thủ tục tiến hành hỏi cung bị can, nhưng không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục tiến hành lấy lời khai đối với người bị tạm giữ, người bị bắt trong các trường hợp, dẫn đến mỗi địa phương áp dụng mỗi kiểu. Có nơi phổ biến quyền và nghĩa vụ khi lấy lời khai, nhưng cũng có nơi không hoặc không xác định trạng thái tinh thần của người được lấy lời khai. Đồng thời, hoạt động lấy lời khai cũng không bắt buộc phải ghi âm, ghi hình có âm thanh. Trong khi đó, thực tiễn khảo sát các vụ án dùng nhục hình cho thấy, tỉ lệ dùng nhục hình trong quá trình lấy lời khai chiếm đa số so với hỏi cung bị can. Bởi vì, khi bị can đã bị khởi tố thì đã có một số cơ chế giám sát.

Hai là, tra tấn có thể được thực hiện bằng hình thức thể chất hoặc tinh thần. Do đó, việc kéo dài thời gian lấy lời khai, hỏi cung bị can liên tục trong nhiều giờ hoặc tiến hành xuyên đêm chính là một trong những biểu hiện hành vi tra tấn về tinh thần để có được lời nhận tội. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuy có quy định không tiến hành hỏi cung bị can vào bên đêm[13], song lại có quy định mở là trừ những trường hợp không thể trì hoãn được, tuy nhiên, không nêu rõ như thế nào là trường hợp không thể trì hoãn được. Thực tiễn cho thấy, tiến hành lấy lời khai, hỏi cung bị can vào ban đêm rất dễ dẫn đến dùng nhục hình, bởi vì, cả điều tra viên và đối tượng đều trong trạng thái mệt mỏi về tinh thần. Điều tra viên mong muốn có được lời nhận tội, đối tượng quanh co không nhận tội, thì tra tấn là cách làm nhanh nhất để có được lời khai. Điển hình như vụ 07 thanh niên bị dùng nhục hình xảy ra tại tỉnh Sóc Trăng, vụ án Lê Thanh Kiều ở Phú Yên…

Ba là, theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thời điểm người bào chữa tham gia là từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra; được tham gia khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, hỏi cung bị can[14]. Tuy nhiên, quy định tại khoản 2 Điều 75 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận đơn yêu cầu người bào chữa, thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm chuyển đơn cho người bào chữa hoặc người thân thích của họ; trong thời hạn 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận đủ các loại giấy tờ theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 78 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và không thuộc trong các trường hợp tại khoản 5 của Điều này thì mới giải quyết cho phép bào chữa hay không. Trong khi đó, quy định tại Điều 114 của Bộ luật này về những việc cần làm ngay sau khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người hoặc nhận người bị giữ bị bắt, thì các cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành lấy lời khai ngay. Với những quy định này, thì thực tế, người bào chữa không thể tham gia lấy lời khai từ khi người bị bắt, tạm giữ khi họ có mặt tại trụ sở cơ quan điều tra. Vấn đề này đã được tác giả khảo sát ý kiến của luật sư là: 68/82 (82,9%) cho rằng, họ chỉ được tham gia khi đã khởi tố bị can, chỉ có 7/82 trả lời là có tham gia bào chữa trước giai đoạn khởi tố bị can. Với kết quả thực tế này cho thấy, quy định của pháp luật cũng đang gây khó khăn cho sự tiếp cận sớm của người bào chữa nhằm phòng ngừa tra tấn đối với người bị buộc tội.

Bốn là, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận những người bị buộc tội có quyền không tự đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Đây là nội dung được thể chế hóa từ quyền im lặng đang được áp dụng rất phổ biến trong tố tụng hình sự trên thế giới. Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, nếu quá trình ghi nhận lời khai mà im lặng, không khai báo gì thì rất có thể người bị buộc tội còn bị ghép vào tình tiết tăng nặng được quy định trong Bộ luật Hình sự. Như vậy, về bản chất, quyền này chưa được thực hiện hữu hiệu trong thực tiễn và còn mang nặng tính hình thức.

Báo cáo Quốc gia của Việt Nam đã được Ủy ban Chống tra tấn đánh giá cao tính lập pháp của Việt Nam để phòng ngừa các hành vi tra tấn từ phía cơ quan công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh đó, Ủy ban Chống tra tấn cũng đã quan ngại một số vấn đề như: Bộ luật Hình sự Việt Nam vẫn chưa ghi nhận hành vi tra tấn như đã nêu tại Điều 1 của Công ước chống tra tấn; Việt Nam bị các tổ chức khác cáo buộc về việc lan rộng sử dụng tra tấn và ngược đãi, đặc biệt là trong các trụ sở cảnh sát, cũng như các địa điểm khác, nơi mà có người bị tước tự do, số vụ về tra tấn (dùng nhục hình trong thời gian qua phát hiện là còn quá ít… Do đó, để phòng ngừa tra tấn, đấu tranh chống lại các luận điệu xuyên tạc “Việt Nam vi phạm nhân quyền”, chúng ta cần minh bạch, rõ ràng, đồng thời, cần sửa đổi một số quy định hiện hành để phòng ngừa tra tấn trong tố tụng hình sự, cụ thể:

- Cần nghiên cứu để xây dựng quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, thời gian tiến hành lấy lời khai và quy định rõ không được tiến hành lấy lời khai vào ban đêm, trừ trường hợp vụ việc xảy ra vào ban đêm cần phải truy bắt ngay đồng phạm, kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc các hành vi chuẩn bị phạm tội; thời gian lấy lời khai không quá 08 giờ/ngày. Cách 02 tiếng lấy lời khai sẽ được nghỉ ngơi; không tiến hành lấy lời khai vào các khung giờ nghỉ trưa hoặc tiến hành liên tục 08 giờ/1 lần; được ghi âm, ghi hình có âm thanh; người bị bắt, bị tạm giữ được quyền từ chối trả lời các câu hỏi nếu câu hỏi đó không liên quan đến nội dung vụ án; có sự tham gia của người bào chữa, kiểm sát viên khi tiến hành lấy lời khai, lời khai có được do hành vi tra tấn sẽ không có giá trị làm chứng cứ chứng minh.

- Đối với hỏi cung bị can, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cần bổ sung những trường hợp đặc biệt được tiến hành hỏi cung bị can vào ban đêm hoặc có văn bản hướng dẫn cụ thể nội dung này. Đồng thời, tương tự như lấy lời khai, cần ghi nhận rõ về thời gian, tần xuất được tiến hành hỏi cung bị can, ghi nhận quyền từ chối khai nhận nếu câu hỏi không liên quan nội dung vụ án, thời gian nghỉ ngơi giữa các buổi hỏi cung bị can nếu kéo dài. Đồng thời, vấn đề quan trọng là kiểm sát viên trong mỗi vụ án phải có một bản phúc cung cuối cùng để ghi nhận lại nội dung vụ việc, qua đó, xem xét bị can có bị tra tấn dẫn đến khai sai sự thật hay không.

- Sửa đổi quy định về trình tự thủ tục khi tham gia bào chữa của người bào chữa theo hướng giảm các thủ tục, giải quyết hồ sơ nhanh nhất khi có yêu cầu bào chữa để bảo đảm quyền tiếp cận đối với người bào chữa của người bị buộc tội theo hướng, chỉ cần người bào chữa xuất trình được các giấy tờ có liên quan đến việc bào chữa, thì cơ quan tiến hành tố tụng phải cho họ tham gia ngay.

- Hiện nay, các cơ quan tiến hành tố tụng đều có hệ thống các trường chuyên ngành. Lực lượng điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán đều được đào tạo chính quy tại đây. Do đó, trong các chương trình học cần có các môn về nhân quyền, luật quốc tế, công pháp quốc tế để họ có thể nắm rõ về tầm quan trọng của quyền con người trong tư pháp hình sự. Từ đó, giáo dục và hình thành ý thức tôn trọng các quyền con người, quyền tự do dân chủ của nhân dân trong thực tiễn công tác sau này.

TS. Trịnh Duy Thuyên
Đại học Cảnh sát nhân dân



[1]. Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, p. 29 - 49.

[2]. Tlđd số 4, p. 15.

[3]. Giải thích của Uỷ ban chống tra tấn, Bình luận chung số 20, đoạn 6. Xem: Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, p. 29 - 49.

[4]. Giải thích của Ủy ban chống tra tấn, Bình luận chung số 20, đoạn 6. Xem: Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, p. 79.

[5]. Giải thích của Uỷ ban chống tra tấn, Bình luận chung số 20, đoạn 6. Xem: Manfred Nowak, Elizabeth McArthur (2008), The United Nation Convention Against Torture - A Commentary, Oxford University Press, p. 29 - 49.

[6]. Khoản 1 Điều 2 Công ước Chống tra tấn.

[7]. Quyết định số 364/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, tr. 3.

[8]. Quyết định số 364/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện Công ước Chống tra tấn và các hình thức đối xử trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.

[9]. Xem Điều 10, Điều 11 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[10]. Bộ Công an, Báo cáo tổng kết năm từ 2012 đến năm 2019.

[11]. Cục Thống kê, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

[12]. Ban nghiên cứu gia nhập Công ước chống tra tấn, Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền con người giai đoạn (2000 - 2012), Hà Nội.

[13]. Xem Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[14]. Xem Điều 73, Điều 74 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: