Chủ nhật 15/03/2026 06:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quản lý và thanh lý tài sản phá sản theo Luật Phá sản năm 2014 - Thực trạng và triển vọng thực thi

Theo Luật Phá sản năm 2004, chủ thể được giao nhiệm vụ quản lý và thanh lý tài sản phá sản là Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Khoản 2 Điều 9 Luật Phá sản quy định về thành phần Tổ quản lý, thanh lý tài sản gồm có: (i) Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; (ii) Một cán bộ của Toà án; (iii) Một đại diện chủ nợ; (iv) Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản; (v) Trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản, thì Thẩm phán xem xét, quyết định.

Nhiệm vụ của Tổ quản lý, thanh lý tài sản là giám sát, kiểm tra hoạt động của doanh nghiệp từ khi có quyết định mở thủ giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp cho đến khi có quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án. Cụ thể là:

- Lập bảng kê toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp;

- Giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp;

- Đề nghị Thẩm phán quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp trong trường hợp cần thiết;

- Lập danh sách chủ nợ và số nợ phải trả cho từng chủ nợ; những người mắc nợ và số nợ phải đòi của doanh nghiệp;

- Thu hồi và quản lý tài sản, tài liệu, sổ kế toán và con dấu của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý;

- Thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định của Thẩm phán;

- Phát hiện và đề nghị Thẩm phán ra quyết định thu hồi tài sản, giá trị tài sản hay phần chênh lệch giá trị tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý đã bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp;

- Thi hành quyết định của Thẩm phán về việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp bị áp dụng thủ tục thanh lý theo đúng quyết định pháp luật về bán đấu giá;

- Gửi các khoản tiền thu được từ những người mắc nọ và từ việc bán đấu giá tài sản của doanh nghiệp vào tài khoản mở tại ngân hàng;

- Thi hành các quyết định khác của Thẩm phán trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản.

Sau gần 10 năm thực hiện Luật Phá sản năm 2004, thực tiễn quản lý, thanh lý tài sản phá sản của Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã bộc lộ các bất cập sau:

Thứ nhất, về thành phần của Tổ quản lý và thanh lý tài sản

Số lượng thành viên tham gia các tổ chức này (ít nhất có 5 người trở lên) đại diện cho nhiều chủ thể khác nhau đã gây ra nhiều bất cập trong hoạt động. Tổ quản lý và thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật còn có chức năng giám sát, kiểm tra việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp trong kinh doanh, thế nhưng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lại diễn ra thường xuyên liên tục, không theo giờ hành chính. Do đó, nếu mỗi hoạt động của doanh nghiệp phải chờ sự giám sát, quản lý xong mới được tiến hành là không phù hợp và đáp ứng được với thực tế kinh doanh.

Thứ hai, tài sản của doanh nghiệp là một khối thống nhất

Yêu cầu đặt ra là cần phải quản lý chúng một cách chặt chẽ và thực hiện những biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật để phân chia tài sản đó thoả đáng. Trong Luật Phá sản năm 2004, chức năng quản lý tài sản thuộc về một tập thể với thành viên đến từ các cơ quan khác nhau. Cách thiết kế đó đã phát sinh nhiều hệ quả phức tạp, như sự không thống nhất giữa thành viên trong việc đánh giá, kết luận về tài sản cũng như các biện pháp liên quan đến tài sản của doanh nghiệp và do đó, kéo dài việc giải quyết mà gây không ít trở ngại cho sự quản lý. Đáng lưu ý là trong hệ thống làm việc theo tổ có thể gây ra sự chậm trễ trong quá trình tố tụng và kèm theo đó là hiệu quả thấp.

Thứ ba, hoạt động quản lý, thanh lý tài sản của của Tổ quản lý, thanh lý tài sản thiếu tính chuyên nghiệp

Thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản là những người thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm, công việc kiêm nhiệm này không phải là chuyên môn, nghiệp vụ chính của thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản, do đó khi xử lý công việc cụ thể tại doanh nghiệp thường hay lúng túng, bị động. Trong quá trình soạn thảo Luật Phá sản năm 2014, có ý kiến cho rằng, cần sửa đổi, bổ sung theo hướng tách Tổ quản lý, thanh lý tài sản thành hai tổ (Tổ quản lý tài sản và Tổ thanh lý tài sản). Cũng có ý kiến khác cho rằng, cần xã hội hoá việc quản lý tài sản phá sản bằng việc có quy định cơ chế để Luật sư hay Quản tài viên thay cho Chấp hành viên làm Tổ quản lý, thanh lý tài sản; ngoài đại diện của chủ nợ và của doanh nghiệp…bị phá sản, các thành viên khác của Tổ quản lý, thanh lý tài sản do Luật sư lựa chọn, hoạt động dưới sự giám sát của Toà án (trực tiếp là Thẩm phán phụ trách). Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, cần có một cơ quan chuyên trách để thực hiện việc quản lý, thanh lý tài sản có tính chuyên nghiệp hơn và việc giải quyết phá sản cũng được nhanh chóng thuận tiện hơn, vì Chấp hành viên là người không đủ điều kiện, cơ sở để xác định hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp lại làm Tổ quản lý, thanh lý tài sản là không phù hợp.

Thứ tư, có sự mâu thuẫn giữa các văn bản hướng dẫn về việc thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản

Điều 9 của Luật Phá sản năm 2004 quy định đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Theo quy định tại Mục 5.1 Chương I Nghị quyết số 03/2005/NQ-HĐTP đã không hướng dẫn cụ thể thời hạn cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Còn tại Nghị định số 67/2006/NĐ-CP hướng dẫn khi quyết định mở thủ tục phá sản thì Thẩm phán chỉ gửi văn bản đề nghị cử người tham gia Tổ quản lý, thanh lý tài sản, do vậy, quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản sẽ phải ban hành sau. Hướng dẫn như vậy là mâu thuẫn với quy định của Luật Phá sản năm 2004.

Khắc phục những mâu thuẫn trên, nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản phá sản trong Luật Phá sản năm 2014 được trao chủ thể hoạt động chuyên nghiệp với hai loại hình hành nghề là quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản. Dĩ nhiên, điều kiện hành nghề của mỗi loại cũng được pháp luật quy định khác nhau.

Theo khoản 2 Điều 12 của Luật Phá sản năm 2014, điều kiện hành nghề của quản tài viên được quy định như sau:

“a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;

c) Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên”.

Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định chi tiết những đối tượng sau đây không được phép hành nghề quản lý, thanh lý tài sản:

- Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;

- Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc;

- Người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. (Điều 14, Luật Phá sản năm 2014)

Để được cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên, người xin cấp chứng chỉ phải là: (i) Luật sư; (ii) Kiểm toán viên; (iii) Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo (khoản 1 Điều 12 của Luật Phá sản năm 2014). Quản lý Nhà nước đối với Quản tài viên và việc cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên sẽ được thực hiện theo các quy định của Chính phủ (khoản 3 Điều 12 của Luật Phá sản năm 2014).

Để bảo vệ lợi ích của công chúng, loại hình doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá sản theo Luật Phá sản năm 2014 chỉ là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. Đây là một trong số ít các đạo luật ở nước ta nhìn nhận chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ doanh nghiệp tư nhân và thành viên hợp danh của công ty hợp danh là một trong những biện pháp ngăn ngừa rủi ro cho công chúng từ phía chủ doanh nghiệp.

Trên tinh thần đó, theo khoản 2 Điều 13 của Luật Phá sản năm 2014, điều kiện để doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản được quy định như sau:

“a) Công ty hợp danh có tối thiểu hai thành viên hợp danh là Quản tài viên, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc của công ty hợp danh là Quản tài viên;

b) Doanh nghiệp tư nhân có chủ doanh nghiệp là Quản tài viên, đồng thời là Giám đốc”.

Quản lý Nhà nước đối với Quản tài viên và việc cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên, điều kiện hành nghề đối với doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản sẽ được thực hiện theo các quy định của Chính phủ (khoản 3 Điều 12; khoản 3 Điều 13 của Luật Phá sản năm 2014).

Luật Phá sản năm 2014 sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, vậy từ thời điểm Luật có hiệu lực, Quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản hoạt động theo cơ chế nào vẫn còn là một dấu hỏi. Ở một số nước áp dụng cơ chế cấp phép, một số nước áp dụng cơ chế đăng ký. Rõ ràng ở cơ chế nào cũng có hiệu quả, vấn đề là với điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam thì áp dụng cơ chế nào? Cơ chế cấp phép ở một số nước đã chứng tỏ được nhiều ưu thế, như có một đầu mối duy nhất quản lý quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; thuận lợi trong việc phối hợp quản lý quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản; có xu hướng năng động và liên tục trong việc nâng cao chuẩn mực nghề nghiệp của quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Tuy nhiên với cơ chế này phải mất một thời gian nhất định, thậm chí kéo dài vài năm, trong khi chỉ vài tháng nữa Luật Phá sản có hiệu lực mà chưa có văn bản quy định rõ ràng vấn đề này thì quy định của Luật sẽ thành “quy định treo” mà không thể thực hiện được. Ở một số nước như Nga, Ba Lan, Rumani, Tuynidi… đã có cơ chế quản lý đội ngũ cán bộ xử lý phá sản, tuy nhiên, sự tồn tại của cơ quan quản lý, cấp phép chuyên trách chỉ là ngoại lệ chứ không phải quy định bắt buộc[1].

Ở Việt Nam, vai trò của Tòa án trong Luật Phá sản được thể hiện rõ nét, chính điều này đã “ngầm ủng hộ” mô hình đăng ký quản tài viên và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản. Bởi khi Thẩm phán là người ra quyết định trong vụ việc phá sản thì quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản sẽ không còn toàn quyền hành động, vì thế yêu cầu cấp phép, quản lý đầy đủ với quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản cũng sẽ giảm. Trong trường hợp Việt Nam lựa chọn cơ chế đăng ký quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thì việc đăng ký thì cần phải có các tiêu chuẩn cho việc đăng ký, quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản ngoài việc có kiến thức chung về pháp luật, kinh doanh, tài chính, kế toán, cần thiết phải có kinh nghiệm, có kỹ năng chuyên môn để xác định doanh nghiệp có còn đủ khả năng tồn tại, tái cơ cấu và giám sát hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu. Trong trường hợp lựa chọn cơ chế cấp phép sẽ gặp khó khăn trong giai đoạn đầu, vì cần phải có ngay một đội ngũ quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thực hiện nhiệm vụ sau khi Luật Phá sản có hiệu lực. Trong trường hợp này, cần có một số “đặc cách” hay gọi khác là thực hiện “miễn trừ”. Việc cấp phép được thực hiện dựa trên một số tiêu chí nhất định về trình độ, năng lực và kinh nghiệm, giống với cơ chế đăng ký. Sau thời gian này, sẽ tiến hành cơ chế cấp phép với những tiêu chí khắt khe hơn để tuyển chọn được những quản tài viên/doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản thực sự đủ năng lực. Một trong các tiêu chí khắt khe của cơ chế cấp phép đó là phải trải qua đào tạo và thi sát hạch. Tuy nhiên, nếu lựa chọn cơ chế cấp phép thì cần phải xác định cơ quan quản lý, có thể giao cho một số tổ chức tư nhân hoạt động theo mô hình tự điều tiết, hoặc giao cho một cơ quan nhà nước ở Trung ương như Bộ Tư pháp, Kiểm toán Nhà nước, Tòa án nhân dân hay Viện kiểm sát nhân dân. Đối với Việt Nam, một nước chưa nhiều kinh nghiệm về các tổ chức hiệp hội nghề nghiệp tự quản, nên nếu giao cho các tổ chức này thì khó có thể thực hiện tốt vai trò cơ quan quản lý

Để thực hiện được nhiệm vụ quản lý, tài sản phá sản, quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được trao các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

1. Quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, gồm:

a) Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn tiếp tục hoạt động kinh doanh, nhưng phải chịu sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Trường hợp xét thấy người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng điều hành, doanh nghiệp, hợp tác xã có dấu hiệu vi phạm khoản 1 Điều 48 của Luật Phá sản năm 2014 thì Thẩm phán ra quyết định thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã đó theo đề nghị của Hội nghị chủ nợ hoặc Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản.

b) Lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải tiến hành kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó; trong trường hợp cần thiết thì phải có văn bản đề nghị Thẩm phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phải được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã vắng mặt thì người được Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chỉ định làm đại diện của doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện công việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải gửi ngay cho Tòa án nhân dân tiến hành thủ tục phá sản.

Trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại khoản 1 Điều này là không chính xác thì Tòa án nhân dân yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Giá trị tài sản được xác định, định giá theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê.

Trường hợp đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã và những người khác không hợp tác về việc kiểm kê tài sản hoặc cố tình làm sai lệch việc kiểm kê tài sản thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.

c) Bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã khi bán, thanh lý tài sản: Các biện pháp bảo toàn tài sản được quy định trong Luật phá sản 2014 bao gồm: (i) Tuyên bố giao dịch vô hiệu (Điều 60); (ii) Tạm đình chỉ, đình chỉ thực hiện Hợp đồng đang có hiệu lực (Điều 61); (iii) Bù trừ nghĩa vụ (Điều 63); (iv) Gửi giấy đòi nợ (Điều 66); (v) Lập danh sách chủ nợ (Điều 67); (vi) Lập danh sách người mắc nợ (Điều 68); (vii) Đăng ký giao dịch bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; (viii) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 70)

d) Giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật: Sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải báo cáo Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trước khi thực hiện các hoạt động: (i) Liên quan đến việc vay, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê tài sản; bán, chuyển đổi cổ phần; chuyển quyền sở hữu tài sản; (ii) Chấm dứt thực hiện hợp đồng có hiệu lực; (iii) Thanh toán khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản; trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hình thức báo cáo gồm báo cáo trực tiếp, thư bảo đảm, thư thường, thư điện tử, fax, telex. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo của doanh nghiệp, hợp tác xã thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm trả lời cho doanh nghiệp, hợp tác xã việc được thực hiện hoặc không được thực hiện các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này và phải chịu trách nhiệm về việc trả lời của mình. Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải báo cáo Thẩm phán về nội dung trả lời của mình.

Các hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện mà không có sự đồng ý của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thì bị đình chỉ thực hiện, khôi phục lại tình trạng ban đầu và giải quyết hậu quả theo quy định của pháp luật.

đ) Được thuê cá nhân, tổ chức thực hiện công việc theo quy định của pháp luật;

e) Đề xuất với Thẩm phán về việc bán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã để bảo đảm chi phí phá sản;

g) Bán tài sản theo quyết định của Thẩm phán để bảo đảm chi phí phá sản;

h) Tổ chức việc định giá, thanh lý tài sản theo quy định của Luật này; báo cáo cơ quan thi hành án dân sự, thông báo đến người tham gia thủ tục phá sản có liên quan về việc giao cho cá nhân, tổ chức thực hiện thanh lý tài sản;

i) Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở tại ngân hàng.

2. Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật.

3. Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

4. Đề nghị Thẩm phán tiến hành các công việc sau:

a) Thu thập tài liệu, chứng cứ;

b) Tuyên bố giao dịch vô hiệu và quyết định thu hồi tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị bán hoặc chuyển giao bất hợp pháp;

c) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp xử phạt hành chính; chuyển hồ sơ sang cơ quan có thẩm quyền xử lý về hình sự theo quy định của pháp luật.

5. Được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

6. Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự; chịu trách nhiệm trước Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình” (Điều 16 Luật Phá sản năm 2014).

Có thể khẳng định rằng, các nhiệm vụ, quyền hạn của quản tài viên/ doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đã tiến gần đến với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế về quản tài viên tư pháp trong phá sản. Tuy nhiên, khi so sánh với các chuẩn mực của OECD về nhiệm vụ, quyền hạn của quản tài viên như đã trình bày ở phần trên cũng đã bộc lộ một số vấn đề đáng chú ý sau:

Một là, nhiệm vụ, quyền hạn của quản tài viên theo khuyến nghị của OECD rộng hơn khi thực hiện nhiệm vụ bảo toàn tài sản. Cụ thể, quản tài viên được “thực hiện tất cả các bước cần thiết để bảo vệ và bảo quản tài sản của doanh nghiệp phá sản và hoạt động kinh doanh của con nợ, kể cả ngăn chặn việc bán tài sản trái phép và thực hiện quyền tránh các giao dịch trái phép trước khi phá sản (avoidance powers)”. Theo đó, quản tài viên phải được trao quyền áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để ngăn chặn các giao dịch trái pháp luật hoặc chuyển giao tài sản trái phép.

Hai là, từ thực tiễn hoạt động của quản tài viên ở các quốc gia OECD cũng đã cho thấy cần phải quy định rõ ràng các biện pháp pháp lý để thực thi nhiệm vụ bảo quản tài sản; ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của Thẩm phán; ngăn chặn việc tẩu tán tài sản; tối đa hóa giá trị tài sản của doanh nghiệp khi bán, thanh lý tài sản như được thể hiện trong điểm c, khoản 1, Điều 16 Luật Phá sản năm 2014;

Ba là, so với khuyến nghị của OECD, quản tài viên/ doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2014 có vai trò khá hạn chế trong quá trình tái tổ chức hoạt động của doanh nghiệp. Theo đó, quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chưa được trao một quyền hạn quan trọng: “Tiếp tục vận hành và quản lý hoạt động kinh doanh trong trường hợp tái tổ chức và trong trường hợp thanh lý nếu doanh nghiệp được bán nhưng vẫn tồn tại mà không bị giải thể” và “Trong trường hợp tái tổ chức, chuẩn bị và hỗ trợ chuẩn bị kế hoạch tái tổ chức hoặc báo cáo về lý do tại sao không thể thực hiện tái tổ chức (trong khi chức năng này do đại diện quản lý phá sản thực hiện)”;

Bốn là, quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo Luật Phá sản năm 2014 chỉ thực hiện việc đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật. Trong khi đó, theo khuyến nghị của OECD, ngay lập tức sau khi được chỉ định, quản tài viên có tư cách đại diện cho tài sản của doanh nghiệp phá sản.

Có thể khẳng định rằng, những nhà lập pháp về phá sản của Việt Nam đã quá “thận trọng” theo thói quen hoặc tồn tại “những nghi ngại” về khả năng vận hành của chế định quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong Luật Phá sản năm 2014. Tuy nhiên, chắc chắn rằng việc trao thẩm quyền không đầy đủ cho quản tài viên/doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ hạn chế hiệu quả hoạt động của loại hình chủ thể này ở Việt Nam trong thời gian tới./.

ThS. Trần Duy Tuấn

Sở Công Thương tỉnh Ninh Bình


[1] Nguyễn Thanh Bình (2014), Luật Phá sản với quy định về quản tài viên

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: