Thứ hai 19/01/2026 18:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan niệm về quyền tư pháp trong khoa học pháp lý

Hiến pháp năm 2013 quy định quyền lực Nhà nước ta là thống nhất, có sự phân công, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

Hiện nay, trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về quyền tư pháp. Qua bài viết, tác giả đã giới thiệu với bạn đọc hai nhóm quan điểm tiếp cận về quyền tư pháp, quan điểm về quyền tư pháp trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và quan điểm về thực hiện quyền tư pháp.

Trong khoa học pháp lý, quyền tư pháp được các nhà khoa học hiểu và cách tiếp cận khác nhau. Có người hiểu quyền tư pháp theo nghĩa hẹp chỉ là việc xét xử về các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng tranh chấp của các chủ thể và công dân theo pháp luật. Cùng với nhận thức đó cơ quan tư pháp được xem là các cơ quan có thẩm quyền xét xử, tức là Tòa án. Trong khi đó, có ý kiến khác cho rằng quan niệm như vậy về tư pháp là hẹp, chưa đầy đủ và cần phải mở rộng. Có thể khẳng định, quyền tư pháp có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ, quan điểm, nhận thức khác nhau.

1. Quan điểm về quyền tư pháp

1.1. Hai nhóm quan điểm tiếp cận về quyền tư pháp

Thứ nhất, nhóm quan điểm tiếp cận quyền tư pháp từ phương diện chủ thể thực thi quyền tư pháp

Quyền tư pháp theo nghĩa rộng nhất: Có nhà khoa học cho rằng quyền tư pháp được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan tư pháp được hiểu rất rộng, ngoài cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân), cơ quan điều tra, cơ quan công tố và cơ quan hay tổ chức bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, tư vấn pháp luật[1].

Cũng hiểu quyền tư pháp theo hướng nghĩa rộng nói trên, có nhà khoa học trình bày quyền tư pháp là quyền phán quyết về những tranh chấp dân sự, hành chính bằng con đường tố tụng của Tòa án, quyền phán quyết những hành vi nào là tội phạm và áp dụng hình phạt tương ứng. Quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, hành chính của Tòa án; quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát; quyền thực hiện các hoạt động hành chính - tư pháp của các cơ quan, thể chế khác của Nhà nước và xã hội. Trong quan niệm này, vai trò trung tâm của quyền xét xử cũng được nhấn mạnh[2].

Quyền tư pháp theo cách hiểu trên được thực hiện không chỉ thông qua hoạt động xét xử mà cả các hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử hoặc phục vụ cho hoạt động xét xử như hoạt động điều tra, truy tố, thi hành án, bổ trợ tư pháp. Trong các hoạt động trên của quyền tư pháp, quyền xét xử đóng vai trò trung tâm.

Nhận thức về quyền tư pháp như trên rộng về phương diện chủ thể, nhưng hẹp về phương diện chức năng. Trong nhận thức đó mới chỉ nói tới chức năng và thẩm quyền xét xử của Tòa án, chưa thừa nhận thẩm quyền giải thích, ban hành án lệ, hướng dẫn áp dụng pháp luật của chủ thể này trong thực hiện quyền tư pháp.

Trong nhận thức nói trên về quyền tư pháp, mục tiêu và mục đích hoạt động của chủ thể được xem như là tiêu chí chủ yếu để phân nhóm cơ quan tư pháp. Theo đó, các cơ quan, tổ chức nào thông qua hoạt động của nó trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội được xem là cơ quan tư pháp.

Trên cơ sở công việc cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các vụ án, các tranh chấp pháp luật và hướng tới mục đích giải quyết các vụ án, các tranh chấp một cách đúng đắn, khách quan, thì hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động công tố của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Tòa án[3]. Tuy các cơ quan bổ trợ tư pháp như cơ quan công chứng, giám định, bào chữa tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hoặc giải quyết vụ án nhưng hoạt động của các cơ quan này không mang tính tư pháp mà chỉ góp phần giúp cho việc giải quyết vụ án, giải quyết các tranh chấp pháp luật được đúng đắn, khách quan khi có yêu cầu từ phía cơ quan tiến hành tố tụng hoặc từ phía người tham gia tố tụng.

Cũng theo hướng không coi bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi của quyền tư pháp nhưng mở rộng hơn đối với hoạt động thi hành án, nhà luật học Nguyễn Tất Viễn định nghĩa quyền tư pháp là quyền lực mà Nhà nước trao cho các cơ quan tư pháp để tiến hành các hoạt động: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm duy trì và bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân[4].

Trong nhận thức trên quyền tư pháp được xác định là một loại quyền lực nhà nước, do đó việc tổ chức và thực hiện quyền lực này là các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước được Nhà nước trao quyền thực thi quyền tư pháp xác định tính đúng đắn của pháp luật trong sự kiện pháp lý và thực hiện quyền tư pháp thông qua việc giải quyết vụ án, giải quyết các tranh chấp pháp luật, trong đó Tòa án được coi và trở thành biểu tượng cho người dân vào công lý của Nhà nước. Xét xử là khâu trung tâm của quá trình thực thi quyền tư pháp. Cùng với đó, Tòa án là cơ quan đại diện trung tâm và đầy đủ nhất của quyền tư pháp. Không có cơ quan nào trong hệ thống quyền lực nhà nước có thể đảm nhiệm đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và khôi phục các quyền đã bị xâm phạm như Tòa án[5].

Thứ hai, nhóm quan điểm tiếp cận quyền tư pháp từ phương diện chức năng và giới hạn quyền tư pháp chỉ trong hoạt động của Tòa án

Một số nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực tư pháp cho rằng quyền tư pháp là một trong những phạm vi, lĩnh vực của quyền lực nhà nước, được thực hiện chỉ bởi một cơ quan là Tòa án[6] nhưng có mức độ nhận thức khác nhau về thẩm quyền của cơ quan này.

Một số quan điểm cho rằng, quyền tư pháp như một nhánh quyền lực độc lập tương đối so với quyền lập pháp và quyền hành pháp, quyền tư pháp kiểm soát và giới hạn hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Ở đây, quyền lực tư pháp phải được xem như biểu tượng của công lý.

Cũng trong hướng thừa nhận thẩm quyền rộng của Tòa án, tác giả Võ Khánh Vinh cho rằng, mặc dù về nội dung, quyền tư pháp gần giống với xét xử nhưng quyền tư pháp không thể đồng nhất với xét xử và không nên quy quyền tư pháp về một loại hoạt động xét xử nào đó của Tòa án[7]. Xét xử là thẩm quyền riêng có của Tòa án nhưng không phải là thẩm quyền duy nhất của Tòa án. Ngoài xét xử, Tòa án còn có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn; bảo đảm việc thi hành và chấp hành các bản án, các quyết định khác; giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành về những vấn đề thực tiễn xét xử; tham gia vào quá trình hình thành đội ngũ thẩm phán. Các thẩm quyền nói trên không thuộc phạm trù xét xử hoặc là các yếu tố bổ trợ của thẩm quyền xét xử[8].

Khác với quan niệm nói trên, nhiều nhà khoa học giới hạn quyền tư pháp chỉ trong và thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Quyền tư pháp do các Tòa án thực hiện[9]. Nói đến quyền tư pháp là liên tưởng đến hoạt động hay quyền xét xử của Tòa án. Quan niệm rộng về các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp sẽ dẫn đến sự thiếu chuẩn xác trong việc đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ đối với việc thực hiện các chức năng trong quá trình tố tụng cũng như bảo đảm vị trí pháp lý đầy đủ cho các cơ quan khác nhau.

1.2. Quan điểm về quyền tư pháp trên cơ sở Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 đã khắc phục hạn chế của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) bằng việc khẳng định rõ Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều là các cơ quan thực hiện quyền lực do nhân dân giao phó, ủy quyền bằng Hiến pháp, có tính độc lập tương đối, do vậy, Hiến pháp năm 2013 xác định nhân dân thực hiện dân chủ đại diện không chỉ thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân như các bản Hiến pháp trước quy định mà còn “thông qua các cơ quan nhà nước khác”, trong đó có Tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định chỉ có Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp với sứ mệnh xã hội thiêng liêng, riêng có của Tòa án, đó là “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Điều 55). Trong mối quan hệ với Tòa án, các cơ quan, tổ chức như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Luật sư, Giám định tư pháp, Thi hành án bằng các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng của mình, trước đây tuy cũng được gọi chung là cơ quan, tổ chức tư pháp, nay cần xác định lại là các cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện quyền tư pháp và đều có chức năng góp phần bảo vệ pháp luật.

Cùng với nhận thức mới về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng Điều 103 để quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án. Cả bảy khoản của Điều này đều có những nội dung mới, có điểm mang tính đột phá. Những nguyên tắc nền tảng đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp trước đây nay được bổ sung phát triển.

Với rất nhiều điểm mới, quan trọng nêu trên về quyền tư pháp, thực hiện quyền tư pháp gắn liền với bảo vệ các quyền thiêng liêng của con người trong hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 không chỉ ghi nhận những thành quả trong nhận thức lý luận và thực tiễn cải cách tư pháp những năm qua mà còn đặt cơ sở cho những định hướng cải cách tiếp theo triệt để hơn. Nội hàm của những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án trong Hiến pháp năm 2013 đã tiệm cận dần đến các giá trị chung phổ quát của nền tư pháp dân chủ được ghi nhận tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, bảo đảm tốt hơn cho Thẩm phán độc lập, khách quan, không thiên vị khi xét xử.

2. Quan điểm về thực hiện quyền tư pháp

Xét về bản chất, thực hiện quyền tư pháp “là việc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật vào việc phát hiện, xem xét, đánh giá một cách khách quan, chính xác, công bằng về tính đúng đắn, hợp pháp của hành vi hay sự kiện, tranh chấp, đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành”[10]. Như vậy, thực hiện quyền tư pháp có các đặc trưng sau:

- Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan được Nhà nước trao quyền có chức năng bảo vệ pháp luật, đưa ra các phán quyết về các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp của các cá nhân, tổ chức. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật với một bên chủ thể quan hệ pháp luật là cơ quan nhà nước. Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật là một bản án hoặc quyết định của Tòa án trực tiếp đụng chạm đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền, lợi ích cơ bản của con người.

- Quyền tư pháp được thực hiện khi có vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý cần đến sự phán quyết của Nhà nước. Quyền tư pháp thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật khi các chủ thể không tôn trọng các quy định của pháp luật trong các trường hợp cụ thể, khi có những hành vi, tranh chấp làm sai lệch hoặc đe dọa làm sai lệch tính hợp lý, công bằng của pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, Nhà nước, xâm hại trật tự, an toàn xã hội thì quyền tư pháp có trách nhiệm lập lại trật tự đã bị hành vi vi phạm xâm hại.

- Quyền tư pháp được thực hiện bằng nhiều hoạt động diễn ra liên tục theo một quy trình chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục nghiêm ngặt dựa trên phương thức đặc thù là tài phán, phục vụ hoạt động xét xử của Tòa án và quyền giải thích pháp luật, ban hành án lệ của Tòa án. Nội dung áp dụng của cơ quan thực hiện quyền tư pháp gắn liền với nhiệm vụ phát hiện, xác định, đánh giá độc lập, khách quan các sự kiện, hành vi, tranh chấp pháp lý, trên cơ sở đó tạo ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, về việc áp dụng trách nhiệm pháp lý và các chế tài có tính chất bắt buộc thi hành đối với các cá nhân, tổ chức liên quan. Quá trình thực hiện quyền tư pháp bắt đầu từ khi có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, nghĩa vụ pháp lý không được thực hiện do hành vi vi phạm pháp luật hay tranh chấp pháp luật gây ra và kết thúc khi mục tiêu bảo vệ pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức, Nhà nước được thực thi, công lý được duy trì.

Trong quá trình thực hiện quyền tư pháp, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Tòa án là giải thích được các quy phạm pháp luật để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật, nhiệm vụ giải thích pháp luật được xác định là giải thích chính thức, trên lập trường tư pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ công lý, công bằng, bên cạnh giải thích pháp luật, quyền tư pháp cho phép Tòa án tạo ra án lệ để giải quyết các vấn đề thực tiễn nhưng chưa có quy phạm cụ thể áp dụng hoặc khi các quy phạm pháp luật hiện hành được hiểu khác nhau khi áp dụng hoặc chưa dự liệu hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn cần đến sự can thiệp của tư pháp.

Tóm lại, từ nghiên cứu về quan điểm, đặc trưng cơ bản của quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp, có thể khẳng định rằng:

- Quyền tư pháp là một bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước, do Tòa án thực hiện nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, công bằng xã hội;

- Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật để xét xử trong các vụ án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, ra bản án và các quyết định liên quan đến tính mạng, số phận pháp lý của cá nhân, tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật, ban hành án lệ của Tòa án theo theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

- Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự để xét xử vụ án hình sự, ra bản án, quyết định liên quan đến tính mạng, số phận của người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật, ban hành án lệ trong lĩnh vực hình sự của Tòa án.

Các khái niệm về quyền tư pháp, thực hiện quyền tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 đang từng bước tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật trong các lĩnh vực liên quan .

Phạm Thị Như Quỳnh
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lê Văn Cảm - Hệ thống tư pháp, hệ thống tư pháp hình sự và hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2010, tr. 35.

[2]. Phạm Hồng Thái, Sửa đổi hay ban hành Hiến pháp mới thay cho Hiến pháp năm 1992, trong tập Kỷ yếu hội thảo “Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp” của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội tháng 10/2010.

[3]. Phạm Hồng Hải, Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002, tr. 10-11.

[4]. Nguyễn Tất Viễn, Bàn thêm về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố trong tiến trình cải cách tư pháp.

[5]. Đào Trí Úc, Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Luật học số 8 (123)/2010, tr. 64.

[6]. Đào Trí Úc, Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Luật học số 8 (123)/2010, tr. 66.

[7]. Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003, tr. 5.

[8]. Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003, tr 5.

[9]. Lê Văn Cảm, Quyền tư pháp, hệ thống tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, trong cuốn sách của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 303.

[10]. TS Uông Chu Lưu - Đề tài KX.04.06 Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, tr. 24.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: