Thứ tư 24/06/2026 16:06
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quan niệm về quyền tư pháp trong khoa học pháp lý

Hiến pháp năm 2013 quy định quyền lực Nhà nước ta là thống nhất, có sự phân công, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.

Hiện nay, trong khoa học pháp lý có nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau về quyền tư pháp. Qua bài viết, tác giả đã giới thiệu với bạn đọc hai nhóm quan điểm tiếp cận về quyền tư pháp, quan điểm về quyền tư pháp trên cơ sở Hiến pháp năm 2013 và quan điểm về thực hiện quyền tư pháp.

Trong khoa học pháp lý, quyền tư pháp được các nhà khoa học hiểu và cách tiếp cận khác nhau. Có người hiểu quyền tư pháp theo nghĩa hẹp chỉ là việc xét xử về các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng tranh chấp của các chủ thể và công dân theo pháp luật. Cùng với nhận thức đó cơ quan tư pháp được xem là các cơ quan có thẩm quyền xét xử, tức là Tòa án. Trong khi đó, có ý kiến khác cho rằng quan niệm như vậy về tư pháp là hẹp, chưa đầy đủ và cần phải mở rộng. Có thể khẳng định, quyền tư pháp có thể được tiếp cận ở nhiều góc độ, quan điểm, nhận thức khác nhau.

1. Quan điểm về quyền tư pháp

1.1. Hai nhóm quan điểm tiếp cận về quyền tư pháp

Thứ nhất, nhóm quan điểm tiếp cận quyền tư pháp từ phương diện chủ thể thực thi quyền tư pháp

Quyền tư pháp theo nghĩa rộng nhất: Có nhà khoa học cho rằng quyền tư pháp được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan tư pháp được hiểu rất rộng, ngoài cơ quan xét xử (Tòa án nhân dân), cơ quan điều tra, cơ quan công tố và cơ quan hay tổ chức bổ trợ tư pháp như luật sư, công chứng, giám định, tư vấn pháp luật[1].

Cũng hiểu quyền tư pháp theo hướng nghĩa rộng nói trên, có nhà khoa học trình bày quyền tư pháp là quyền phán quyết về những tranh chấp dân sự, hành chính bằng con đường tố tụng của Tòa án, quyền phán quyết những hành vi nào là tội phạm và áp dụng hình phạt tương ứng. Quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia đình, hành chính của Tòa án; quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát; quyền thực hiện các hoạt động hành chính - tư pháp của các cơ quan, thể chế khác của Nhà nước và xã hội. Trong quan niệm này, vai trò trung tâm của quyền xét xử cũng được nhấn mạnh[2].

Quyền tư pháp theo cách hiểu trên được thực hiện không chỉ thông qua hoạt động xét xử mà cả các hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến hoạt động xét xử hoặc phục vụ cho hoạt động xét xử như hoạt động điều tra, truy tố, thi hành án, bổ trợ tư pháp. Trong các hoạt động trên của quyền tư pháp, quyền xét xử đóng vai trò trung tâm.

Nhận thức về quyền tư pháp như trên rộng về phương diện chủ thể, nhưng hẹp về phương diện chức năng. Trong nhận thức đó mới chỉ nói tới chức năng và thẩm quyền xét xử của Tòa án, chưa thừa nhận thẩm quyền giải thích, ban hành án lệ, hướng dẫn áp dụng pháp luật của chủ thể này trong thực hiện quyền tư pháp.

Trong nhận thức nói trên về quyền tư pháp, mục tiêu và mục đích hoạt động của chủ thể được xem như là tiêu chí chủ yếu để phân nhóm cơ quan tư pháp. Theo đó, các cơ quan, tổ chức nào thông qua hoạt động của nó trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội được xem là cơ quan tư pháp.

Trên cơ sở công việc cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên quan trực tiếp đến việc giải quyết các vụ án, các tranh chấp pháp luật và hướng tới mục đích giải quyết các vụ án, các tranh chấp một cách đúng đắn, khách quan, thì hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động công tố của Viện kiểm sát và hoạt động xét xử của Tòa án[3]. Tuy các cơ quan bổ trợ tư pháp như cơ quan công chứng, giám định, bào chữa tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp hoặc giải quyết vụ án nhưng hoạt động của các cơ quan này không mang tính tư pháp mà chỉ góp phần giúp cho việc giải quyết vụ án, giải quyết các tranh chấp pháp luật được đúng đắn, khách quan khi có yêu cầu từ phía cơ quan tiến hành tố tụng hoặc từ phía người tham gia tố tụng.

Cũng theo hướng không coi bổ trợ tư pháp thuộc phạm vi của quyền tư pháp nhưng mở rộng hơn đối với hoạt động thi hành án, nhà luật học Nguyễn Tất Viễn định nghĩa quyền tư pháp là quyền lực mà Nhà nước trao cho các cơ quan tư pháp để tiến hành các hoạt động: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án nhằm duy trì và bảo vệ công lý, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân[4].

Trong nhận thức trên quyền tư pháp được xác định là một loại quyền lực nhà nước, do đó việc tổ chức và thực hiện quyền lực này là các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước được Nhà nước trao quyền thực thi quyền tư pháp xác định tính đúng đắn của pháp luật trong sự kiện pháp lý và thực hiện quyền tư pháp thông qua việc giải quyết vụ án, giải quyết các tranh chấp pháp luật, trong đó Tòa án được coi và trở thành biểu tượng cho người dân vào công lý của Nhà nước. Xét xử là khâu trung tâm của quá trình thực thi quyền tư pháp. Cùng với đó, Tòa án là cơ quan đại diện trung tâm và đầy đủ nhất của quyền tư pháp. Không có cơ quan nào trong hệ thống quyền lực nhà nước có thể đảm nhiệm đầy đủ nhiệm vụ bảo vệ pháp luật và khôi phục các quyền đã bị xâm phạm như Tòa án[5].

Thứ hai, nhóm quan điểm tiếp cận quyền tư pháp từ phương diện chức năng và giới hạn quyền tư pháp chỉ trong hoạt động của Tòa án

Một số nhà khoa học nghiên cứu lĩnh vực tư pháp cho rằng quyền tư pháp là một trong những phạm vi, lĩnh vực của quyền lực nhà nước, được thực hiện chỉ bởi một cơ quan là Tòa án[6] nhưng có mức độ nhận thức khác nhau về thẩm quyền của cơ quan này.

Một số quan điểm cho rằng, quyền tư pháp như một nhánh quyền lực độc lập tương đối so với quyền lập pháp và quyền hành pháp, quyền tư pháp kiểm soát và giới hạn hai nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật. Ở đây, quyền lực tư pháp phải được xem như biểu tượng của công lý.

Cũng trong hướng thừa nhận thẩm quyền rộng của Tòa án, tác giả Võ Khánh Vinh cho rằng, mặc dù về nội dung, quyền tư pháp gần giống với xét xử nhưng quyền tư pháp không thể đồng nhất với xét xử và không nên quy quyền tư pháp về một loại hoạt động xét xử nào đó của Tòa án[7]. Xét xử là thẩm quyền riêng có của Tòa án nhưng không phải là thẩm quyền duy nhất của Tòa án. Ngoài xét xử, Tòa án còn có thẩm quyền kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định, hoạt động của các cơ quan nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn; bảo đảm việc thi hành và chấp hành các bản án, các quyết định khác; giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật hiện hành về những vấn đề thực tiễn xét xử; tham gia vào quá trình hình thành đội ngũ thẩm phán. Các thẩm quyền nói trên không thuộc phạm trù xét xử hoặc là các yếu tố bổ trợ của thẩm quyền xét xử[8].

Khác với quan niệm nói trên, nhiều nhà khoa học giới hạn quyền tư pháp chỉ trong và thông qua hoạt động xét xử của Tòa án. Quyền tư pháp do các Tòa án thực hiện[9]. Nói đến quyền tư pháp là liên tưởng đến hoạt động hay quyền xét xử của Tòa án. Quan niệm rộng về các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp sẽ dẫn đến sự thiếu chuẩn xác trong việc đặt ra yêu cầu và nhiệm vụ đối với việc thực hiện các chức năng trong quá trình tố tụng cũng như bảo đảm vị trí pháp lý đầy đủ cho các cơ quan khác nhau.

1.2. Quan điểm về quyền tư pháp trên cơ sở Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 đã khắc phục hạn chế của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) bằng việc khẳng định rõ Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ thực hiện quyền hành pháp và Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư pháp. Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều là các cơ quan thực hiện quyền lực do nhân dân giao phó, ủy quyền bằng Hiến pháp, có tính độc lập tương đối, do vậy, Hiến pháp năm 2013 xác định nhân dân thực hiện dân chủ đại diện không chỉ thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân như các bản Hiến pháp trước quy định mà còn “thông qua các cơ quan nhà nước khác”, trong đó có Tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp.

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định chỉ có Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp với sứ mệnh xã hội thiêng liêng, riêng có của Tòa án, đó là “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” (Điều 55). Trong mối quan hệ với Tòa án, các cơ quan, tổ chức như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Luật sư, Giám định tư pháp, Thi hành án bằng các nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng của mình, trước đây tuy cũng được gọi chung là cơ quan, tổ chức tư pháp, nay cần xác định lại là các cơ quan, tổ chức tham gia thực hiện quyền tư pháp và đều có chức năng góp phần bảo vệ pháp luật.

Cùng với nhận thức mới về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp năm 2013 đã dành riêng Điều 103 để quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án. Cả bảy khoản của Điều này đều có những nội dung mới, có điểm mang tính đột phá. Những nguyên tắc nền tảng đã được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp trước đây nay được bổ sung phát triển.

Với rất nhiều điểm mới, quan trọng nêu trên về quyền tư pháp, thực hiện quyền tư pháp gắn liền với bảo vệ các quyền thiêng liêng của con người trong hoạt động tư pháp, Hiến pháp năm 2013 không chỉ ghi nhận những thành quả trong nhận thức lý luận và thực tiễn cải cách tư pháp những năm qua mà còn đặt cơ sở cho những định hướng cải cách tiếp theo triệt để hơn. Nội hàm của những nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Tòa án trong Hiến pháp năm 2013 đã tiệm cận dần đến các giá trị chung phổ quát của nền tư pháp dân chủ được ghi nhận tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, bảo đảm tốt hơn cho Thẩm phán độc lập, khách quan, không thiên vị khi xét xử.

2. Quan điểm về thực hiện quyền tư pháp

Xét về bản chất, thực hiện quyền tư pháp “là việc các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật vào việc phát hiện, xem xét, đánh giá một cách khách quan, chính xác, công bằng về tính đúng đắn, hợp pháp của hành vi hay sự kiện, tranh chấp, đưa ra các phán quyết có hiệu lực bắt buộc thi hành”[10]. Như vậy, thực hiện quyền tư pháp có các đặc trưng sau:

- Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan được Nhà nước trao quyền có chức năng bảo vệ pháp luật, đưa ra các phán quyết về các hành vi vi phạm pháp luật và giải quyết các tranh chấp của các cá nhân, tổ chức. Áp dụng pháp luật là một hình thức thực hiện pháp luật với một bên chủ thể quan hệ pháp luật là cơ quan nhà nước. Kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật là một bản án hoặc quyết định của Tòa án trực tiếp đụng chạm đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, các quyền, lợi ích cơ bản của con người.

- Quyền tư pháp được thực hiện khi có vi phạm pháp luật, tranh chấp pháp lý cần đến sự phán quyết của Nhà nước. Quyền tư pháp thực hiện chức năng bảo vệ pháp luật khi các chủ thể không tôn trọng các quy định của pháp luật trong các trường hợp cụ thể, khi có những hành vi, tranh chấp làm sai lệch hoặc đe dọa làm sai lệch tính hợp lý, công bằng của pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, Nhà nước, xâm hại trật tự, an toàn xã hội thì quyền tư pháp có trách nhiệm lập lại trật tự đã bị hành vi vi phạm xâm hại.

- Quyền tư pháp được thực hiện bằng nhiều hoạt động diễn ra liên tục theo một quy trình chặt chẽ, tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục nghiêm ngặt dựa trên phương thức đặc thù là tài phán, phục vụ hoạt động xét xử của Tòa án và quyền giải thích pháp luật, ban hành án lệ của Tòa án. Nội dung áp dụng của cơ quan thực hiện quyền tư pháp gắn liền với nhiệm vụ phát hiện, xác định, đánh giá độc lập, khách quan các sự kiện, hành vi, tranh chấp pháp lý, trên cơ sở đó tạo ra phán quyết về tính hợp pháp, tính đúng đắn của hành vi, về việc áp dụng trách nhiệm pháp lý và các chế tài có tính chất bắt buộc thi hành đối với các cá nhân, tổ chức liên quan. Quá trình thực hiện quyền tư pháp bắt đầu từ khi có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại, nghĩa vụ pháp lý không được thực hiện do hành vi vi phạm pháp luật hay tranh chấp pháp luật gây ra và kết thúc khi mục tiêu bảo vệ pháp luật, khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp cá nhân, tổ chức, Nhà nước được thực thi, công lý được duy trì.

Trong quá trình thực hiện quyền tư pháp, một trong những nhiệm vụ quan trọng của Tòa án là giải thích được các quy phạm pháp luật để đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật, nhiệm vụ giải thích pháp luật được xác định là giải thích chính thức, trên lập trường tư pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ công lý, công bằng, bên cạnh giải thích pháp luật, quyền tư pháp cho phép Tòa án tạo ra án lệ để giải quyết các vấn đề thực tiễn nhưng chưa có quy phạm cụ thể áp dụng hoặc khi các quy phạm pháp luật hiện hành được hiểu khác nhau khi áp dụng hoặc chưa dự liệu hết các tình huống xảy ra trong thực tiễn cần đến sự can thiệp của tư pháp.

Tóm lại, từ nghiên cứu về quan điểm, đặc trưng cơ bản của quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp, có thể khẳng định rằng:

- Quyền tư pháp là một bộ phận cấu thành quyền lực nhà nước, do Tòa án thực hiện nhằm bảo vệ pháp luật, duy trì công lý, công bằng xã hội;

- Thực hiện quyền tư pháp là hoạt động áp dụng pháp luật để xét xử trong các vụ án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính, ra bản án và các quyết định liên quan đến tính mạng, số phận pháp lý của cá nhân, tổ chức và thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật, ban hành án lệ của Tòa án theo theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định;

- Thực hiện quyền tư pháp trong tố tụng hình sự là hoạt động áp dụng pháp luật hình sự để xét xử vụ án hình sự, ra bản án, quyết định liên quan đến tính mạng, số phận của người thực hiện hành vi phạm tội theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự và thực hiện nhiệm vụ giải thích pháp luật, ban hành án lệ trong lĩnh vực hình sự của Tòa án.

Các khái niệm về quyền tư pháp, thực hiện quyền tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 đang từng bước tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật trong các lĩnh vực liên quan .

Phạm Thị Như Quỳnh
Trường Cán bộ quản lý văn hóa, thể thao và du lịch

Tài liệu tham khảo:

[1]. Lê Văn Cảm - Hệ thống tư pháp, hệ thống tư pháp hình sự và hệ thống pháp luật về đấu tranh chống tội phạm trong nhà nước pháp quyền, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4/2010, tr. 35.

[2]. Phạm Hồng Thái, Sửa đổi hay ban hành Hiến pháp mới thay cho Hiến pháp năm 1992, trong tập Kỷ yếu hội thảo “Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp” của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội tháng 10/2010.

[3]. Phạm Hồng Hải, Quan niệm về cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2002, tr. 10-11.

[4]. Nguyễn Tất Viễn, Bàn thêm về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan công tố trong tiến trình cải cách tư pháp.

[5]. Đào Trí Úc, Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Luật học số 8 (123)/2010, tr. 64.

[6]. Đào Trí Úc, Bàn về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Luật học số 8 (123)/2010, tr. 66.

[7]. Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003, tr. 5.

[8]. Võ Khánh Vinh, Về quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 8/2003, tr 5.

[9]. Lê Văn Cảm, Quyền tư pháp, hệ thống tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, trong cuốn sách của Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 303.

[10]. TS Uông Chu Lưu - Đề tài KX.04.06 Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, tr. 24.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: