Thứ sáu 06/03/2026 06:00
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy chế pháp lý của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020

Trong bài viết này, tác giả phân tích quyền và nghĩa vụ cơ bản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh, đồng thời, đưa ra những vấn đề còn chưa thực sự phù hợp trong quy chế pháp lý đối với thành viên góp vốn của công ty hợp danh và đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (là thành viên hợp danh). Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn. Trong đó, thành viên góp vốn là tổ chức, cá nhân và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Do không giữ vai trò quan trọng và chính yếu trong công ty hợp danh, vì thường được quan niệm chỉ là những chủ thể tham gia đóng góp nguồn vốn cho công ty để tìm kiếm lợi nhuận, nên quyền hạn và nghĩa vụ của thành viên góp vốn khá hạn chế. Điều này làm cho thành viên góp vốn thường gặp phải khá nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động tại công ty.


Ở Việt Nam, công ty hợp danh là một trong những loại hình công ty xuất hiện sớm nhất. Sau này, trải qua các biến cố của lịch sử Việt Nam, kể từ Luật Doanh nghiệp năm 1999, công ty hợp danh mới được pháp luật quy định trở lại. Mặc dù vậy, khác với quy định tại nhiều quốc gia trên thế giới, các Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và 2020 đều quy định công ty hợp danh tồn tại hai loại hình thành viên khác nhau về tư cách pháp lý. Trong đó, đối với thành viên góp vốn, do được xác định không giữ vai trò quan trọng và chính yếu tại công ty hợp danh, vậy nên, quyền hạn và nghĩa vụ của thành viên góp vốn khá hạn chế. Điều này làm cho thành viên góp vốn thường gặp phải khá nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động tại công ty và thậm chí bị các thành viên hợp danh chèn ép gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp.

1. Quy chế pháp lý của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh và những vấn đề đặt ra

Nếu thành viên hợp danh là yếu tố then chốt không thể thiếu được trong việc hình thành, tồn tại và phát triển của công ty hợp danh, thì vai trò của thành viên góp vốn chỉ là thứ yếu[1]. Bởi lẽ, trái ngược với thành viên hợp danh, thành viên góp vốn thường được quan niệm chỉ là những chủ thể tham gia đóng góp nguồn vốn cho công ty để tìm kiếm lợi nhuận. Vì vậy, điều kiện để trở thành thành viên góp vốn khá đơn giản, dễ dàng. Cũng chính vì thế, quy chế pháp lý của thành viên góp vốn so với thành viên hợp danh luôn có sự khác biệt rất lớn. Cụ thể, theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, về cơ bản, quyền hạn và nghĩa vụ của thành viên góp vốn như sau:

Thứ nhất, về các quyền hạn của thành viên góp vốn

- Thành viên góp vốn mặc dù không có quyền quản lý điều hành công ty hợp danh nhưng họ vẫn có quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên về việc sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn, về tổ chức lại, giải thể công ty và nội dung khác của điều lệ công ty có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn (điểm a khoản 1 Điều 187 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Về nguyên tắc, trong các trường hợp, công ty có sự tham gia của cả thành viên góp vốn và thành viên góp vốn được tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên. Hội đồng thành viên phải bao gồm toàn thể các thành viên kể cả thành viên hợp danh và thành viên góp vốn. Mỗi thành viên chỉ có một phiếu bầu và quyết định của Hội đồng được thông qua bởi ít nhất 3/4 số thành viên hợp danh nhất trí chấp thuận[2]. Mặc dù được quyền tham gia Hội đồng thành viên, nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2020 lại không cho phép thành viên góp vốn có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên. Bởi vì, chỉ có thành viên hợp danh mới có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên (khoản 2 Điều 182 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Đây chính là vấn đề gây ra sự khó khăn, cản trở cho thành viên góp vốn khi cần đề nghị Hội đồng thành viên họp để giải quyết những vấn đề quan trọng.

- Được chia lợi nhuận hằng năm hay lợi nhuận từ kết quả kinh doanh của công ty hợp danh tương ứng với tỷ lệ vốn góp của thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn thường tham gia công ty hợp danh khi công ty này cần bổ sung nguồn vốn hoặc trong một số trường hợp đặc biệt khác. Tuy nhiên, vai trò chính của thành viên góp vốn chủ yếu mang lại nguồn tài chính cho công ty và được nhận khoản lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp khi công ty hợp danh kinh doanh có lãi.

- Thành viên góp vốn có quyền được cung cấp các báo cáo tài chính hằng năm của công ty hợp danh và có quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên hoặc các thành viên hợp danh phải cung cấp đầy đủ và trung thực các thông tin về tình hình và kết quả kinh doanh của công ty. Thành viên góp vốn cũng có quyền được xem xét sổ sách kế toán, biên bản, hợp đồng, giao dịch, hồ sơ và các loại tài liệu khác của công ty. Có thể nói, đây đều là các quyền hạn rất quan trọng của thành viên góp vốn, bởi lẽ, thành viên này không được quyền tham gia vào các công việc quản lý, điều hành việc kinh doanh của công ty nên “thành viên góp vốn rất dễ chịu thiệt hại, nếu như họ không nhận được kịp thời thông tin về mọi tình hình hoạt động, kinh doanh của công ty hợp danh”[3]. Thế nên, để đảm bảo quyền lợi của mình, thành viên góp vốn cần phải biết và được quyền giám sát về tình hình hoạt động kinh doanh và các nguồn tài chính của công ty. Nghiên cứu cho thấy, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều rất quan tâm đến quyền được thông tin của thành viên góp vốn. Tại Pháp, ngoài việc được thông báo về các tài liệu kế toán trước ngày họp hội đồng hàng năm, thành viên không phải là người quản lý có quyền 02 lần trong năm, được thông báo về các sổ sách, tài liệu… có quyền được xem các tài liệu bao gồm quyền sao chép tài liệu[4]. Theo khoản 3 Điều 166 Bộ luật Thương mại Đức, các thành viên góp vốn có quyền kiểm tra hạn chế. Họ có thể yêu cầu bản sao tổng kết cuối năm và kiểm tra sự chính xác của nó[5]. Điều đó cho thấy, quyền được thông tin có giá trị và quan trọng như thế nào đối với thành viên góp vốn.

- Thành viên góp vốn có quyền chuyển nhượng phần vốn góp của họ tại công ty hợp danh cho người khác. Nếu so với thành viên hợp danh thì thành viên góp vốn thực hiện quyền hạn này khá đơn giản, dễ dàng và không bị pháp luật đưa ra nhiều hạn chế, ràng buộc như thành viên hợp danh. Do đó, đây được xem là thuận lợi đối với thành viên góp vốn, bởi khi không còn muốn đầu tư vào công ty hợp danh thì thành viên góp vốn có thể dễ dàng và nhanh chóng rút lui khỏi công ty này.

- Thành viên góp vốn còn có quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác tiến hành kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, cần lưu ý, thành viên góp vốn chỉ được quyền nhân danh bản thân họ chứ không được đại diện cho công ty hợp danh. Bởi vì, thành viên góp vốn không chịu nghĩa vụ liên đới và trách nhiệm vô hạn như thành viên hợp danh. Vì thế, nếu thành viên góp vốn đứng ra giao dịch với người thứ ba bên ngoài có thể làm cho người thứ ba này lầm tưởng thành viên góp vốn cũng giống như thành viên hợp danh tức là phải chịu trách nhiệm vô hạn và liên đới. Hơn nữa, nếu thành viên góp vốn cũng có quyền đại diện cho công ty giao dịch thì sẽ làm giảm mất vai trò và quyền hạn của thành viên hợp danh. Do vậy, pháp luật thường không quy định cho phép thành viên góp vốn có tư cách thương nhân như thành viên hợp danh. Còn trong trường hợp, nếu thành viên góp vốn cố tình tự nhân danh cho công ty hợp danh giao dịch với bên ngoài thì lập tức quy chế pháp lý của thành viên góp vốn sẽ chuyển sang thành quy chế pháp lý của thành viên hợp danh. Điều đó có nghĩa, kể từ thời điểm này, thành viên góp vốn cũng sẽ có các quyền hạn và phải gánh chịu nghĩa vụ pháp lý giống như thành viên hợp danh. Đương nhiên, trong đó thành viên góp vốn cũng sẽ phải liên đới và chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty hợp danh.

- Thành viên góp vốn được pháp luật cho phép tự do định đoạt phần vốn góp của họ tại công ty hợp danh dưới các hình thức như để lại thừa kế, tặng cho, cầm cố, thế chấp hoặc dưới các hình thức khác theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty hợp danh. Ngoài ra, trong trường hợp thành viên góp vốn chết thì những người thừa kế của thành viên này sẽ được quyền thay thế để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh. Quy định này khiến việc trở thành thành viên của người thừa kế thành viên góp vốn khác với người thừa kế thành viên hợp danh, vì người thừa kế thành viên hợp danh chỉ được trở thành thành viên công ty khi được Hội đồng thành viên chấp thuận[6].

- Trong trường hợp công ty hợp danh bị giải thể hoặc phá sản thì thành viên góp vốn vẫn có quyền được hưởng một phần giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp của họ trong công ty.

- Ngoài ra, thành viên góp vốn còn có quyền đề nghị công ty cấp lại giấy chứng nhận phần vốn góp của họ khi giấy đó mất, bị hủy hoại, hư hỏng hoặc bị tiêu hủy… Các quyền hạn khác của thành viên góp vốn được quy định trong Điều lệ công ty hợp danh hoặc từ sự thỏa thuận giữa các thành viên trong công ty với nhau.

Tóm lại, không phải là những nhân vật chính mà có thể quyết định sự hình thành, tồn tại của công ty và cũng không phải gánh chịu nghĩa vụ liên đới và trách nhiệm vô hạn, vậy nên, quyền hạn của thành viên góp vốn khá hạn chế. Chủ yếu quyền hạn của thành viên góp vốn chỉ để cho thành viên này có thể tham gia và quyết định một số vấn đề liên quan đến phần vốn góp của mình.

Thứ hai, các nghĩa vụ của thành viên góp vốn

- Công ty hợp danh là công ty thuộc hình thức của công ty đối nhân[7]. Thế nên, thông thường, người ta đã quen với việc các thành viên của công ty hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn và nghĩa vụ liên đới đối với mọi nghĩa vụ tài sản. Tuy nhiên, điểm khác biệt rất lớn so với hầu hết các quốc gia quy định về công ty hợp danh đó chính là trong công ty hợp danh tại Việt Nam hiện nay, thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp. Nói cách khác, nghĩa vụ về tài chính quan trọng nhất của thành viên góp vốn đối với công ty hợp danh chính là thành viên góp vốn sẽ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp. Về bản chất, trách nhiệm hữu hạn được xác định là nghĩa vụ của cổ đông hay thành viên phải trả các khoản nợ của công ty được giới hạn trong số vốn đã cam kết góp vào công ty[8]. Điều này trái ngược hoàn toàn so với chế độ trách nhiệm vô hạn của thành viên hợp danh. Do đó, đã có nhận xét cho rằng, thành viên góp vốn được hưởng cơ chế chịu trách nhiệm hữu hạn trong công ty hợp danh là trái ngược với bản chất chung của mọi loại hình công ty đối nhân, bởi lẽ, khi tham gia vào một công ty thuộc loại hình công ty đối nhân thì mọi thành viên đều phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty. Là công ty đối nhân nhưng chỉ các thành viên hợp danh mới bị áp dụng nguyên tắc chịu trách nhiệm vô hạn, còn thành viên góp vốn thì chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn góp tại công ty hợp danh. Có thể thấy rằng, mặc dù cũng tham gia vào một công ty đối nhân, thế nhưng, thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về tài sản giống như cổ đông của công ty cổ phần hay thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn. Vì thế, nếu so sánh nghĩa vụ về tài chính của thành viên góp vốn với thành viên hợp danh thì thành viên góp vốn đã gặp rất nhiều lợi thế và có sự bảo đảm an toàn đối với nguồn tài chính. Bởi lẽ, thành viên góp vốn có thể phần nào tự giới hạn rủi ro phải chịu khi tham gia đầu tư tại công ty hợp danh.

- Thành viên góp vốn có nghĩa vụ phải góp đủ và đúng hạn số vốn như đã cam kết vào công ty. Trong trường hợp có thành viên góp vốn không góp đủ và đúng hạn số vốn cam kết thì số vốn đó sẽ được coi là khoản nợ của thành viên góp vốn với công ty. Nếu trường hợp này xảy ra thì thành viên góp vốn có thể bị khai trừ khỏi công ty theo quyết định của Hội đồng thành viên. Về nguyên tắc, thành viên góp vốn mới sẽ phải cam kết góp vốn vào công ty trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được chấp thuận (khoản 2 Điều 186 Luật Doanh nghiệp năm 2020).

- Thành viên góp vốn không được quyền tham gia quản lý điều hành công ty và không được tiến hành công việc kinh doanh nhân danh công ty. Tại công ty hợp danh, nguyên tắc pháp định, chỉ thành viên hợp danh mới có quyền tham gia quản lý điều hành và tiến hành công việc kinh doanh của công ty này.

- Thành viên góp vốn có nghĩa vụ tuân thủ điều lệ công ty, nghị quyết và các quyết định khác của Hội đồng thành viên. Với tư cách là một trong các thành viên của công ty, vậy nên, các quy định nội bộ của công ty hay các quyết định của Hội đồng thành viên đều áp dụng chung đối với mọi thành viên.

- Ngoài ra, trong quá trình tham gia công ty hợp danh, thành viên góp vốn còn có các nghĩa vụ khác căn cứ theo quy định tại điều lệ công ty.

Tóm lại, nghĩa vụ của thành viên góp vốn cũng tương ứng với quyền hạn mà thành viên này có được. Tuy nhiên, thành viên góp vốn có thể dễ dàng rút lui khỏi công ty hợp danh mà không làm ảnh hưởng đến sự tồn tại của công ty này.

2. Kiến nghị

Hội đồng thành viên là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất và là cơ quan quản lý duy nhất đối với công ty hợp danh. Vì thế, về nguyên tắc, mọi vấn đề quan trọng của công ty đều được đưa ra bàn, thảo luận và giải quyết công khai tại Hội đồng thành viên. Mặc dù, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cho phép thành viên góp vốn được quyền tham gia họp, thảo luận và biểu quyết tại Hội đồng thành viên, thế nhưng, có thể thấy rằng, sự tham gia của thành viên góp vốn vào Hội đồng thành viên dường như chỉ mang tính hình thức. Bởi lẽ, thực quyền quyết định tại công ty hợp danh hoàn toàn thuộc về thành viên hợp danh. Vì vậy, nếu các thành viên hợp danh liên kết với nhau để đưa ra các quyết định có lợi cho họ thì quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên góp vốn có thể bị xâm hại và ảnh hưởng rất lớn. Ngoài ra, từ thực tiễn kinh doanh tại Việt Nam trong một số năm gần đây cho thấy tình trạng khá phổ biến đó là, không ít nhà đầu tư có nhiều tiền đã thuê mướn một số người đứng ra với danh nghĩa là thành viên hợp danh để thành lập công ty hợp danh vì muốn kinh doanh một số lĩnh vực, ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, điển hình như văn phòng công chứng hay văn phòng thừa phát lại. Do không đủ điều kiện hoặc không muốn đứng danh nghĩa là thành viên hợp danh, thế nên, các nhà đầu tư này chỉ có thể là thành viên góp vốn. Tuy nhiên, các thành viên góp vốn này lại có quyền thuê mướn và chỉ đạo thành viên hợp danh làm việc. Vì vậy, vai trò của thành viên góp vốn và thành viên hợp danh trong các công ty này đã bị đảo ngược. Thành viên hợp danh lại trở thành những người làm thuê, còn thành viên góp vốn mới là người chủ thật sự của công ty hợp danh. Mặc dù vậy, có thể giữa thành viên góp vốn và thành viên hợp danh đã có sự thỏa thuận trước, thế nhưng, về mặt pháp lý, thành viên hợp danh mới là người có những quyền hạn quyết định các vấn đề quan trọng của công ty hợp danh. Do đó, nếu thành viên góp vốn và thành viên hợp danh phát sinh mâu thuẫn mà chỉ có thể được giải quyết khi tổ chức Hội đồng thành viên nhưng thành viên góp vốn lại không có quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên thì việc giải quyết mâu thuẫn sẽ rất khó khăn, phức tạp và như vậy, quyền, lợi ích hợp pháp của thành viên góp vốn không biết sẽ được pháp luật bảo vệ bằng cách nào? Vậy nên, để phù hợp với yêu cầu kinh doanh hiện nay và còn đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư tham gia dưới tư cách thành viên góp vốn, nhóm tác giả cho rằng, cần quy định cho phép thành viên góp vốn cũng có quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên triệu tập họp Hội đồng thành viên. Bởi vì, theo quy định hiện hành, Chủ tịch Hội đồng thành viên có thể triệu tập họp Hội đồng thành viên khi xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của thành viên hợp danh (khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp năm 2020). Tất nhiên, để tránh trường hợp thành viên góp vốn lạm dụng quyền hạn này gây khó khăn cho công ty hợp danh và các thành viên hợp danh thì có thể quy định một tỷ lệ vốn tối thiểu mà thành viên góp vốn phải có đủ thì mới được quyền yêu cầu Chủ tịch Hội đồng thành viên triệu tập họp Hội đồng thành viên hoặc quy định rõ quyền yêu cầu họp của thành viên góp vốn chỉ được thực hiện trong một số trường hợp đặc biệt. Có như vậy, khi thành viên hợp danh và thành viên góp vốn phát sinh mâu thuẫn, thành viên góp vốn mới có cơ sở để yêu cầu Hội đồng thành viên giải quyết và quy định này còn góp phần giảm bớt sự lạm quyền của thành viên hợp danh.

TS. Nguyễn Vinh Hưng
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Nguyễn Văn Phước
Văn phòng Chính phủ



[1]. Minh Ngọc và Ngọc Hà (2011), Luật Kinh tế, Nxb. Lao động, tr. 231.

[2]. Nguyễn Mạnh Bách (2006), Các công ty thương mại, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, tr. 83.

[3]. Nguyễn Vinh Hưng (2019), Các mối quan hệ pháp lý của công ty hợp danh theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, Tạp chí Nghề luật, số 01, tr. 69.

[4]. Francis Lemeunier (1993), Nguyên lý và thực hành Luật thương mại, Luật kinh doanh, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 203 - 204.

[5]. Friedrich Fubler và Jurgen Simon (1992), Mấy vấn đề pháp luật kinh tế Cộng hòa Liên bang Đức, Nxb. Pháp lý, tr. 63 - 64.

[6]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam, tập I, Nxb. Công an nhân dân, tr. 154.

[7]. Bùi Ngọc Cường (2010), Giáo trình Luật Thương mại, tập 1, Nxb. Giáo dục Việt Nam, tr. 52.

[8]. Phạm Duy Nghĩa (2009), Luật Doanh nghiệp: Tình huống - phân tích - bình luận, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 69.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: