Thứ hai 27/07/2026 17:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy chế pháp lý về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân - Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Abstract: The paper analyzes legal provisions on legal status of member of people's credit fund, and from that point, makes solutions for completing legal provisions on this issue.

1. Thực trạng quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

1.1. Các chủ thể có quyền tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Trước đây, theo Thông tư số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 08/2005/TT-NHNN), thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân có thể là: Cá nhân; hộ gia đình; các tổ chức, cơ quan là pháp nhân (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện); các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) không phải là pháp nhân; tổ hợp tác; công ty hợp danh. Tuy nhiên, đến Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/03/2015 của Ngân hàng Nhà nước về Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 04/2015/TT-NHNN) đã giới hạn thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân còn ba đối tượng là: Cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.

Việc loại bỏ tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân khỏi nhóm các chủ thể có thể tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là phù hợp và bảo đảm sự thống nhất với Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, có hai vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện, đó là: (i) Thông tư số 04/2015/TT-NHNN không có quy định chuyển tiếp để giải quyết đối với trường hợp các tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân đã tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Việc thiếu quy định chuyển tiếp dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ của pháp luật và gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý đối với trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã tiếp nhận thành viên là tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực; (ii) Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, hộ gia đình vẫn có thể tham gia vào hợp tác xã với tư cách là thành viên, tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên.

1.2. Điều kiện chủ thể là thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Các đối tượng cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải đáp ứng được các điều kiện nhất định để có thể trở thành thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân:

Đối với cá nhân, phải là “công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”[1]. Quy định này mang tính đặc thù, bởi Quỹ tín dụng nhân dân bị giới hạn phạm vi hoạt động theo đơn vị hành chính cấp xã, và vì thế để Quỹ tín dụng nhân dân tồn tại, hoạt động không xa rời mục tiêu “hợp tác, tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên” thì điều kiện tiên quyết là các thành viên phải “có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”.

1.3. Các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Một là, cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật[2]. Lý do của việc cấm cán bộ, công chức đang làm việc tại các lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là để tránh tình trạng những cán bộ, công chức này sẽ lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân một cách bất hợp pháp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, thực tế không phải tất cả cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước đều có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân.

Hai là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân[3]. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp chỉ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp mà không bị cấm góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp. Chính vì thế, vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật cho phép cán bộ, công chức tham gia là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân mà lại cấm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập với mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp còn thấp. Họ không phải là những người có thẩm quyền quản lý hay có thể nắm giữ được những bí mật liên quan đến hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân để có thể lợi dụng để trục lợi cho cá nhân hay Quỹ tín dụng nhân dân. Chính vì vậy, nên cho phép các đối tượng trên tham gia với tư cách là thành viên là điều nên quy định.

Ba là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích[4]. So với Thông tư số 08/2005/TT-NHNN, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã quy định ngắn gọn và dễ hiểu hơn, tuy nhiên, về các loại chủ thể bị cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên vẫn chưa thực sự phù hợp, cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Bên cạnh những quy định về các chủ thể, điều kiện chủ thể tham gia và những đối tượng không được tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN cũng cho phép các Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tự đặt các quy định khác, chặt chẽ hơn điều kiện tham gia trong Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân. Quy định này được đánh giá là tiến bộ, trao thêm quyền tự chủ cho các Quỹ tín dụng nhân dân trong việc đặt ra các điều kiện khác, chặt chẽ hơn đối với thành viên của Quỹ.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Trong thực tiễn quá trình thực hiện, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã xuất hiện những bất cập, hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về đối tượng có quyền tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật. Tuy nhiên, Thông tư này lại không có quy định chuyển tiếp để xử lý các trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã kết nạp thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân là một hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung quy định chuyển tiếp với lộ trình cụ thể vào Thông tư số 04/2015/TT-NHNN để đảm bảo các Quỹ tín dụng nhân dân đang có thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân không bị rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật, đồng thời giúp các tổ chức này có đủ thời gian xử lý những trường hợp do quy định cũ để lại.

Đối với trường hợp hộ gia đình, theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, thì hộ gia đình vẫn có thể trở thành thành viên hợp tác xã, thành viên Quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng áp dụng đã cho thấy, việc thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể của pháp luật đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác thi hành pháp luật và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng dần loại bỏ tư cách chủ thể pháp luật của hộ gia đình. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là cơ sở quan trọng để sửa đổi quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN theo hướng không cho phép hộ gia đình trở thành thành viên hợp tác xã nói chung và thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nói riêng.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN về các đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đang tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Điều đó thể hiện ở quy định cấm những đối tượng không cần thiết phải cấm trở thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nhưng lại không cấm những đối tượng cần phải cấm. Nội dung sau đây đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về những đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên:

(i) Bỏ quy định cấm cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên. Bổ sung quy định cấm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó; người đứng đầu cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên.

(ii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

(iii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích. Bổ sung quy định cấm đối với đối tượng là người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm một công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án.

(iv) Bổ sung quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đang trong thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

ThS. Đỗ Mạnh Phương

Khoa Luật , Học viện Ngân hàng





[1]. Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[2]. Khoản 1 Điều 31, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[4]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: