Chủ nhật 18/01/2026 21:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy chế pháp lý về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân - Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Abstract: The paper analyzes legal provisions on legal status of member of people's credit fund, and from that point, makes solutions for completing legal provisions on this issue.

1. Thực trạng quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

1.1. Các chủ thể có quyền tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Trước đây, theo Thông tư số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 08/2005/TT-NHNN), thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân có thể là: Cá nhân; hộ gia đình; các tổ chức, cơ quan là pháp nhân (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện); các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) không phải là pháp nhân; tổ hợp tác; công ty hợp danh. Tuy nhiên, đến Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/03/2015 của Ngân hàng Nhà nước về Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 04/2015/TT-NHNN) đã giới hạn thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân còn ba đối tượng là: Cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.

Việc loại bỏ tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân khỏi nhóm các chủ thể có thể tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là phù hợp và bảo đảm sự thống nhất với Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, có hai vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện, đó là: (i) Thông tư số 04/2015/TT-NHNN không có quy định chuyển tiếp để giải quyết đối với trường hợp các tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân đã tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Việc thiếu quy định chuyển tiếp dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ của pháp luật và gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý đối với trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã tiếp nhận thành viên là tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực; (ii) Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, hộ gia đình vẫn có thể tham gia vào hợp tác xã với tư cách là thành viên, tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên.

1.2. Điều kiện chủ thể là thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Các đối tượng cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải đáp ứng được các điều kiện nhất định để có thể trở thành thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân:

Đối với cá nhân, phải là “công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”[1]. Quy định này mang tính đặc thù, bởi Quỹ tín dụng nhân dân bị giới hạn phạm vi hoạt động theo đơn vị hành chính cấp xã, và vì thế để Quỹ tín dụng nhân dân tồn tại, hoạt động không xa rời mục tiêu “hợp tác, tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên” thì điều kiện tiên quyết là các thành viên phải “có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”.

1.3. Các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Một là, cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật[2]. Lý do của việc cấm cán bộ, công chức đang làm việc tại các lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là để tránh tình trạng những cán bộ, công chức này sẽ lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân một cách bất hợp pháp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, thực tế không phải tất cả cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước đều có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân.

Hai là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân[3]. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp chỉ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp mà không bị cấm góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp. Chính vì thế, vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật cho phép cán bộ, công chức tham gia là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân mà lại cấm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập với mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp còn thấp. Họ không phải là những người có thẩm quyền quản lý hay có thể nắm giữ được những bí mật liên quan đến hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân để có thể lợi dụng để trục lợi cho cá nhân hay Quỹ tín dụng nhân dân. Chính vì vậy, nên cho phép các đối tượng trên tham gia với tư cách là thành viên là điều nên quy định.

Ba là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích[4]. So với Thông tư số 08/2005/TT-NHNN, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã quy định ngắn gọn và dễ hiểu hơn, tuy nhiên, về các loại chủ thể bị cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên vẫn chưa thực sự phù hợp, cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Bên cạnh những quy định về các chủ thể, điều kiện chủ thể tham gia và những đối tượng không được tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN cũng cho phép các Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tự đặt các quy định khác, chặt chẽ hơn điều kiện tham gia trong Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân. Quy định này được đánh giá là tiến bộ, trao thêm quyền tự chủ cho các Quỹ tín dụng nhân dân trong việc đặt ra các điều kiện khác, chặt chẽ hơn đối với thành viên của Quỹ.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Trong thực tiễn quá trình thực hiện, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã xuất hiện những bất cập, hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về đối tượng có quyền tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật. Tuy nhiên, Thông tư này lại không có quy định chuyển tiếp để xử lý các trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã kết nạp thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân là một hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung quy định chuyển tiếp với lộ trình cụ thể vào Thông tư số 04/2015/TT-NHNN để đảm bảo các Quỹ tín dụng nhân dân đang có thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân không bị rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật, đồng thời giúp các tổ chức này có đủ thời gian xử lý những trường hợp do quy định cũ để lại.

Đối với trường hợp hộ gia đình, theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, thì hộ gia đình vẫn có thể trở thành thành viên hợp tác xã, thành viên Quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng áp dụng đã cho thấy, việc thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể của pháp luật đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác thi hành pháp luật và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng dần loại bỏ tư cách chủ thể pháp luật của hộ gia đình. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là cơ sở quan trọng để sửa đổi quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN theo hướng không cho phép hộ gia đình trở thành thành viên hợp tác xã nói chung và thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nói riêng.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN về các đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đang tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Điều đó thể hiện ở quy định cấm những đối tượng không cần thiết phải cấm trở thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nhưng lại không cấm những đối tượng cần phải cấm. Nội dung sau đây đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về những đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên:

(i) Bỏ quy định cấm cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên. Bổ sung quy định cấm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó; người đứng đầu cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên.

(ii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

(iii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích. Bổ sung quy định cấm đối với đối tượng là người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm một công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án.

(iv) Bổ sung quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đang trong thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

ThS. Đỗ Mạnh Phương

Khoa Luật , Học viện Ngân hàng





[1]. Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[2]. Khoản 1 Điều 31, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[4]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: