Thứ bảy 24/10/2026 21:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy chế pháp lý về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân - Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Abstract: The paper analyzes legal provisions on legal status of member of people's credit fund, and from that point, makes solutions for completing legal provisions on this issue.

1. Thực trạng quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

1.1. Các chủ thể có quyền tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Trước đây, theo Thông tư số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 08/2005/TT-NHNN), thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân có thể là: Cá nhân; hộ gia đình; các tổ chức, cơ quan là pháp nhân (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện); các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) không phải là pháp nhân; tổ hợp tác; công ty hợp danh. Tuy nhiên, đến Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/03/2015 của Ngân hàng Nhà nước về Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 04/2015/TT-NHNN) đã giới hạn thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân còn ba đối tượng là: Cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.

Việc loại bỏ tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân khỏi nhóm các chủ thể có thể tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là phù hợp và bảo đảm sự thống nhất với Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, có hai vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện, đó là: (i) Thông tư số 04/2015/TT-NHNN không có quy định chuyển tiếp để giải quyết đối với trường hợp các tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân đã tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Việc thiếu quy định chuyển tiếp dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ của pháp luật và gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý đối với trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã tiếp nhận thành viên là tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực; (ii) Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, hộ gia đình vẫn có thể tham gia vào hợp tác xã với tư cách là thành viên, tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên.

1.2. Điều kiện chủ thể là thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Các đối tượng cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải đáp ứng được các điều kiện nhất định để có thể trở thành thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân:

Đối với cá nhân, phải là “công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”[1]. Quy định này mang tính đặc thù, bởi Quỹ tín dụng nhân dân bị giới hạn phạm vi hoạt động theo đơn vị hành chính cấp xã, và vì thế để Quỹ tín dụng nhân dân tồn tại, hoạt động không xa rời mục tiêu “hợp tác, tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên” thì điều kiện tiên quyết là các thành viên phải “có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”.

1.3. Các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Một là, cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật[2]. Lý do của việc cấm cán bộ, công chức đang làm việc tại các lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là để tránh tình trạng những cán bộ, công chức này sẽ lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân một cách bất hợp pháp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, thực tế không phải tất cả cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước đều có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân.

Hai là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân[3]. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp chỉ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp mà không bị cấm góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp. Chính vì thế, vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật cho phép cán bộ, công chức tham gia là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân mà lại cấm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập với mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp còn thấp. Họ không phải là những người có thẩm quyền quản lý hay có thể nắm giữ được những bí mật liên quan đến hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân để có thể lợi dụng để trục lợi cho cá nhân hay Quỹ tín dụng nhân dân. Chính vì vậy, nên cho phép các đối tượng trên tham gia với tư cách là thành viên là điều nên quy định.

Ba là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích[4]. So với Thông tư số 08/2005/TT-NHNN, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã quy định ngắn gọn và dễ hiểu hơn, tuy nhiên, về các loại chủ thể bị cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên vẫn chưa thực sự phù hợp, cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Bên cạnh những quy định về các chủ thể, điều kiện chủ thể tham gia và những đối tượng không được tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN cũng cho phép các Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tự đặt các quy định khác, chặt chẽ hơn điều kiện tham gia trong Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân. Quy định này được đánh giá là tiến bộ, trao thêm quyền tự chủ cho các Quỹ tín dụng nhân dân trong việc đặt ra các điều kiện khác, chặt chẽ hơn đối với thành viên của Quỹ.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Trong thực tiễn quá trình thực hiện, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã xuất hiện những bất cập, hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về đối tượng có quyền tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật. Tuy nhiên, Thông tư này lại không có quy định chuyển tiếp để xử lý các trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã kết nạp thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân là một hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung quy định chuyển tiếp với lộ trình cụ thể vào Thông tư số 04/2015/TT-NHNN để đảm bảo các Quỹ tín dụng nhân dân đang có thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân không bị rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật, đồng thời giúp các tổ chức này có đủ thời gian xử lý những trường hợp do quy định cũ để lại.

Đối với trường hợp hộ gia đình, theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, thì hộ gia đình vẫn có thể trở thành thành viên hợp tác xã, thành viên Quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng áp dụng đã cho thấy, việc thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể của pháp luật đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác thi hành pháp luật và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng dần loại bỏ tư cách chủ thể pháp luật của hộ gia đình. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là cơ sở quan trọng để sửa đổi quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN theo hướng không cho phép hộ gia đình trở thành thành viên hợp tác xã nói chung và thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nói riêng.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN về các đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đang tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Điều đó thể hiện ở quy định cấm những đối tượng không cần thiết phải cấm trở thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nhưng lại không cấm những đối tượng cần phải cấm. Nội dung sau đây đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về những đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên:

(i) Bỏ quy định cấm cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên. Bổ sung quy định cấm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó; người đứng đầu cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên.

(ii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

(iii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích. Bổ sung quy định cấm đối với đối tượng là người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm một công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án.

(iv) Bổ sung quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đang trong thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

ThS. Đỗ Mạnh Phương

Khoa Luật , Học viện Ngân hàng





[1]. Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[2]. Khoản 1 Điều 31, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[4]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: