Chủ nhật 12/07/2026 13:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy chế pháp lý về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân - Những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Tóm tắt: Bài viết phân tích các quy định pháp luật về Quy chế pháp lý thành viên Quỹ tín dụng nhân dân, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về vấn đề này.

Abstract: The paper analyzes legal provisions on legal status of member of people's credit fund, and from that point, makes solutions for completing legal provisions on this issue.

1. Thực trạng quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

1.1. Các chủ thể có quyền tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Trước đây, theo Thông tư số 08/2005/TT-NHNN ngày 30/12/2005 của Ngân hàng Nhà nước về tổ chức và hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 08/2005/TT-NHNN), thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân có thể là: Cá nhân; hộ gia đình; các tổ chức, cơ quan là pháp nhân (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện); các tổ chức, cơ quan (trừ quỹ xã hội, quỹ từ thiện) không phải là pháp nhân; tổ hợp tác; công ty hợp danh. Tuy nhiên, đến Thông tư số 04/2015/TT-NHNN ngày 31/03/2015 của Ngân hàng Nhà nước về Quỹ tín dụng nhân dân (Thông tư số 04/2015/TT-NHNN) đã giới hạn thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân còn ba đối tượng là: Cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân.

Việc loại bỏ tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân khỏi nhóm các chủ thể có thể tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là phù hợp và bảo đảm sự thống nhất với Luật Hợp tác xã năm 2012 và Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên, có hai vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện, đó là: (i) Thông tư số 04/2015/TT-NHNN không có quy định chuyển tiếp để giải quyết đối với trường hợp các tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân đã tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực thi hành. Việc thiếu quy định chuyển tiếp dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ của pháp luật và gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc xử lý đối với trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã tiếp nhận thành viên là tổ hợp tác và tổ chức, cơ quan không phải là pháp nhân trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực; (ii) Theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, hộ gia đình vẫn có thể tham gia vào hợp tác xã với tư cách là thành viên, tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên.

1.2. Điều kiện chủ thể là thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Các đối tượng cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân phải đáp ứng được các điều kiện nhất định để có thể trở thành thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân:

Đối với cá nhân, phải là “công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”[1]. Quy định này mang tính đặc thù, bởi Quỹ tín dụng nhân dân bị giới hạn phạm vi hoạt động theo đơn vị hành chính cấp xã, và vì thế để Quỹ tín dụng nhân dân tồn tại, hoạt động không xa rời mục tiêu “hợp tác, tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên” thì điều kiện tiên quyết là các thành viên phải “có hộ khẩu và thường trú trên địa bàn hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân”.

1.3. Các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Một là, cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật[2]. Lý do của việc cấm cán bộ, công chức đang làm việc tại các lĩnh vực thuộc bí mật nhà nước tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên là để tránh tình trạng những cán bộ, công chức này sẽ lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân một cách bất hợp pháp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, thực tế không phải tất cả cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước đều có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn, lợi dụng việc nắm được thông tin bí mật, chủ trương chính sách của Nhà nước để làm lợi cho Quỹ tín dụng nhân dân và bản thân.

Hai là, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân[3]. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2014, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp chỉ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp mà không bị cấm góp vốn mua cổ phần của doanh nghiệp. Chính vì thế, vấn đề đặt ra là tại sao pháp luật cho phép cán bộ, công chức tham gia là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân mà lại cấm sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp. Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập với mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Trong điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều khó khăn, tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp còn thấp. Họ không phải là những người có thẩm quyền quản lý hay có thể nắm giữ được những bí mật liên quan đến hoạt động của Quỹ tín dụng nhân dân để có thể lợi dụng để trục lợi cho cá nhân hay Quỹ tín dụng nhân dân. Chính vì vậy, nên cho phép các đối tượng trên tham gia với tư cách là thành viên là điều nên quy định.

Ba là, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đang phải chấp hành bản án, quyết định về hình sự của Tòa án; người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích[4]. So với Thông tư số 08/2005/TT-NHNN, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã quy định ngắn gọn và dễ hiểu hơn, tuy nhiên, về các loại chủ thể bị cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên vẫn chưa thực sự phù hợp, cần phải tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện.

Bên cạnh những quy định về các chủ thể, điều kiện chủ thể tham gia và những đối tượng không được tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN cũng cho phép các Quỹ tín dụng nhân dân có quyền tự đặt các quy định khác, chặt chẽ hơn điều kiện tham gia trong Điều lệ của Quỹ tín dụng nhân dân. Quy định này được đánh giá là tiến bộ, trao thêm quyền tự chủ cho các Quỹ tín dụng nhân dân trong việc đặt ra các điều kiện khác, chặt chẽ hơn đối với thành viên của Quỹ.

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân

Trong thực tiễn quá trình thực hiện, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN đã xuất hiện những bất cập, hạn chế cần tiếp tục hoàn thiện. Dưới đây, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thành viên Quỹ tín dụng nhân dân như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định về đối tượng có quyền tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới, bảo đảm sự thống nhất với các quy định khác của pháp luật. Tuy nhiên, Thông tư này lại không có quy định chuyển tiếp để xử lý các trường hợp Quỹ tín dụng nhân dân đã kết nạp thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân là một hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần bổ sung quy định chuyển tiếp với lộ trình cụ thể vào Thông tư số 04/2015/TT-NHNN để đảm bảo các Quỹ tín dụng nhân dân đang có thành viên là tổ hợp tác và tổ chức không có tư cách pháp nhân không bị rơi vào tình trạng vi phạm pháp luật, đồng thời giúp các tổ chức này có đủ thời gian xử lý những trường hợp do quy định cũ để lại.

Đối với trường hợp hộ gia đình, theo Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN, thì hộ gia đình vẫn có thể trở thành thành viên hợp tác xã, thành viên Quỹ tín dụng nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng áp dụng đã cho thấy, việc thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể của pháp luật đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác thi hành pháp luật và không phù hợp với thông lệ quốc tế. Chính vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng dần loại bỏ tư cách chủ thể pháp luật của hộ gia đình. Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 là cơ sở quan trọng để sửa đổi quy định của Luật Hợp tác xã năm 2012 và Thông tư số 04/2015/TT-NHNN theo hướng không cho phép hộ gia đình trở thành thành viên hợp tác xã nói chung và thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nói riêng.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về các đối tượng không được tham gia Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách thành viên

Như đã phân tích, quy định của Thông tư số 04/2015/TT-NHNN về các đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đang tồn tại một số hạn chế, bất cập nhất định. Điều đó thể hiện ở quy định cấm những đối tượng không cần thiết phải cấm trở thành thành viên Quỹ tín dụng nhân dân nhưng lại không cấm những đối tượng cần phải cấm. Nội dung sau đây đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định về những đối tượng không được phép tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên:

(i) Bỏ quy định cấm cán bộ, công chức làm việc ở những ngành, nghề có liên quan đến bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên. Bổ sung quy định cấm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó; người đứng đầu cấp phó của người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và bố, mẹ, vợ (chồng), con của những người đó tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên.

(ii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân.

(iii) Bỏ quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đã bị kết án từ tội phạm nghiêm trọng trở lên mà chưa được xóa án tích. Bổ sung quy định cấm đối với đối tượng là người đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm một công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án.

(iv) Bổ sung quy định cấm tham gia vào Quỹ tín dụng nhân dân với tư cách là thành viên đối với đối tượng là người đang trong thời gian chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh.

ThS. Đỗ Mạnh Phương

Khoa Luật , Học viện Ngân hàng





[1]. Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[2]. Khoản 1 Điều 31, Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[3]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

[4]. Điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.
Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Nghị quyết số 254/2025/QH15: Cơ chế trên 75% đồng thuận mở đường cho nhiều dự án vượt "điểm nghẽn" giải phóng mặt bằng

Quy định mới tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và Nghị định số 49/2026/NĐ-CP với cơ chế đồng thuận trên 75% được kỳ vọng khơi thông hàng nghìn dự án, sẽ tháo gỡ một trong những vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai các dự án có sử dụng đất.
Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong tình hình mới

Ngày 10/12/2025, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 10 chính thức thông qua Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026).
Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số năm 2025 chuyển trọng tâm chính sách từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển

Luật Dân số được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 thay thế Pháp lệnh Dân số số 06/2004/PL-UBTVQH11 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Pháp lệnh số 07/2025/UBTVQH15). Một trong những thay đổi căn bản của Luật Dân số năm 2025 là chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển. Những nội dung liên quan đến dân số và phát triển đã được thể hiện trong việc hướng tới giải quyết đồng bộ các vấn đề về quy mô dân số, cơ cấu dân số, thích ứng với già hóa dân số, nâng cao chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của từng địa phương, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước.
Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.

Theo dõi chúng tôi trên: