Thứ hai 27/07/2026 08:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên và những vấn đề đặt ra

Trên hành trình đi tìm tri thức, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) có ý nghĩa quan trọng đối với thế hệ thanh niên. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện cho hoạt động NCKH của thanh niên thông qua các chính sách, pháp luật về thanh niên. Trong những năm vừa qua, hoạt động NCKH của thanh niên đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng bên cạnh đó vẫn còn có mặt hạn chế về chính sách, pháp luật thanh niên. Trong bài viết, tác giả phân tích về quy định và chính sách về hoạt động NCKH của thanh niên, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của thanh niên.

Trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, khoa học và công nghệ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và trong bối cảnh toàn cầu hóa, lĩnh vực này cũng chịu những ảnh hưởng không nhỏ, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Khoa học và công nghệ đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển quốc gia. Trong đó, NCKH có ý nghĩa quan trọng đối với thế hệ thanh niên. Nhờ có hoạt động NCKH mà thế hệ trẻ có thể vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu và thông tin khoa học vào thực tiễn cuộc sống.

1. Khái quát chung về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên theo quy định và chính sách hiện hành

Có thể thấy, hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là “chìa khóa” quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của các quốc gia và nền kinh tế. Đối với Việt Nam, vai trò của khoa học và công nghệ trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng, khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhờ có NCKH, thanh niên góp phần đưa sáng kiến, công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đến với đời sống và xã hội, đóng góp sức trẻ vào công cuộc xây dựng đất nước. Có thể khẳng định rằng, hoạt động NCKH có vai trò hết sức to lớn đối với thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, quy định về thanh niên NCKH được thể hiện mạnh mẽ và có giá trị pháp lý đó là các quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Thanh niên năm 2020, ngoài ra, về các chính sách khác tạo điều kiện để thanh niên NCKH được quy định tại các văn bản chiến lược phát triển thanh niên.

Thứ nhất, quy định về thanh niên NCKH theo Hiến pháp năm 2013:

Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nhiều chủ trương, đường lối của Đảng trong tình hình mới và khẳng định: “1. Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. 3. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ” (Điều 62).

Như vậy, từ chỗ xác định vị thế của khoa học và công nghệ “giữ vai trò then chốt”, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước (Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm 2013 đã xác định nâng khoa học và công nghệ lên tầm mới, cùng với giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây là cơ sở hiến định, là bảo đảm về mặt chính trị - pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ mới. Hiến pháp năm 2013 quy định về tự do sáng tạo trong lĩnh vực cơ bản, đó là: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” (Điều 40). Trong đó, có đội ngũ thanh niên tri thức, là đội ngũ tiên phong, dự bị của Đảng. Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 2 Điều 37).

Thứ hai, quy định về thanh niên NCKH theo Luật Thanh niên năm 2020:

Luật Thanh niên năm 2020 lần đầu tiên khẳng định NCKH là trách nhiệm của thanh niên. Theo đó, thanh niên có trách nhiệm “tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn” (khoản 2 Điều 15). Hiện nay, thanh niên luôn là bộ phận nòng cốt trong các giai đoạn lịch sử, luôn giữ được vai trò quan trọng, thể hiện tinh thần đi đầu trong tất cả mọi hoạt động. Vì vậy, vai trò của thanh niên là rất lớn, trong đó có lĩnh vực NCKH. Thanh niên với sức trẻ, bản lĩnh phải là lực lượng tiên phong; sự đóng góp của lực lượng thanh niên trong công tác NCKH sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một nền văn hóa mới, tri thức mới để tiến tới tương lai. Thế hệ thanh niên hôm nay cần phát huy tinh thần xung kích tình nguyện, nỗ lực phấn đấu, xác định rõ NCKH là trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp của cơ quan, đơn vị nơi công tác và với chính cộng đồng xã hội.

Luật Thanh niên năm 2020 quy định cụ thể chính sách của Nhà nước đối với thanh niên về NCKH: Để bất cứ hoạt động nào được thực hiện có hiệu quả, chúng ta đều cần có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đồng bộ đi kèm. Ở góc độ riêng, để hoạt động NCKH của thanh niên được thực hiện có hiệu quả, rất cần chính sách phù hợp khích lệ và tạo động lực cho các hoạt động nghiên cứu. Luật Thanh niên năm 2020 đã đưa ra quy định cụ thể chính sách NCKH cho thanh niên (Điều 16), khắc phục được hạn chế của Luật Thanh niên năm 2005 khi chưa quy định cụ thể chính sách này.

Luật Thanh niên năm 2020 đã quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH cho thanh niên: Sứ mệnh của một cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học trở lên, là tạo ra, quảng bá và chuyển giao tri thức cho xã hội. Một cơ sở giáo dục tách rời khỏi nghiên cứu khó có thể tồn tại lâu dài trong một thế giới phẳng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong các cơ sở giáo dục, một lực lượng đầy tiềm năng cho hoạt động nghiên cứu khoa học là đội ngũ giáo viên, giảng viên, trí thức trẻ cũng như lực lượng học sinh, sinh viên; tất cả đều nằm trong độ tuổi thanh niên. Để lực lượng này có thể phát huy tối đa khả năng trong hoạt động nghiên cứu khoa học, cần có những cơ chế, chính sách phù hợp từ các cơ sở giáo dục. Chính vì vậy, việc Luật Thanh niên năm 2020 quy định về trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH cho thanh niên là điều hết sức cần thiết, cụ thể, khoản 3 Điều 34 Luật này quy định: “Phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên”.

Thứ ba, quy định về thanh niên NCKH theo Chiến lược phát triển thanh niên Việt nam giai đoạn 2021 - 2030:

Đảng ta sớm nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và công nghệ nên đã dành nhiều điều kiện cho khoa học và công nghệ ở nước ta phát triển, ban hành khá nhiều và tương đối đầy đủ các định hướng chiến lược, cơ chế và chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó, có thể kể đến như: Nghị quyết số 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996 về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất và nhiệm vụ đến năm 2000; Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm 2011); Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết xác định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”, “đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng đã khẳng định: “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”.

Xuất phát từ quan điểm đó, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu tổng quát: “Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước; có đạo đức, ý thức công dân, chấp hành pháp luật; có sức khỏe và lối sống lành mạnh; có văn hóa, kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng sống, nghề nghiệp và việc làm; có ý chí lập thân, lập nghiệp, năng động, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ”. Về mục tiêu cụ thể của Chiến lược: “Đến năm 2030, tăng 15% số thanh niên được ứng dụng, triển khai ý tưởng sáng tạo, công trình nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và đời sống; tăng 15% số công trình khoa học và công nghệ do thanh niên chủ trì; tăng 10% số thanh niên làm việc trong các tổ chức khoa học, công nghệ (so với năm 2020)”.

2. Thực trạng về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên Việt Nam

2.1. Kết quả đạt được

Hoạt động NCKH của thanh niên Việt Nam trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực.

Các quy định pháp luật đã tạo nền tảng vững chắc để thanh niên tự tin tham gia NCKH, đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của thanh niên. Với tầm quan trọng của NCKH với thế hệ trẻ và mục tiêu đặt ra của Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương có cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho thanh niên tham gia hoạt động NCKH. Thanh niên là công chức, viên chức được tạo điều kiện làm chủ nhiệm, thư ký các đề tài nghiên cứu cấp bộ, tham gia các đề tài cấp nhà nước và tham dự các hội thảo khoa học quốc tế.

Hàng năm, các địa phương đều có cuộc thi hưởng ứng, phát động phong trào học tập và NCKH, nhằm khuyến khích thế hệ trẻ có công trình sáng tạo, áp dụng được ngay vào thực tiễn. Điển hình như: Hội nghị Nghiên cứu khoa học trong sinh viên khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ I, năm 2022 do Thành đoàn Cần Thơ, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Nam Cần Thơ, Đại học Tây Đô phối hợp tổ chức và đã nhận được hơn 300 bài viết dự thi; Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội được diễn ra xuyên suốt 20 năm; Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình Vườn ươm Sáng tạo khoa học và công nghệ trẻ giai đoạn 2017 – 2018[1]; Thành đoàn và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Giải thưởng sinh viên NCKH Euréka hơn 20 năm qua…

Ngoài ra, các địa phương cũng thành lập và duy trì các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật, câu lạc bộ khuyến nông, khuyến ngư, câu lạc bộ sáng tạo trẻ, xây dựng tủ sách khoa học kỹ thuật, tổ chức các lớp tập huấn và các điểm trình diễn kỹ thuật để thanh niên ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, như: Tỉnh đoàn Bình Thuận thành lập “Câu lạc bộ sáng tạo trẻ” năm 2021; Tỉnh đoàn Lạng Sơn ra mắt “Câu lạc bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật trẻ” năm 2019; Tỉnh đoàn Gia Lai tổ chức Ngày hội Sáng tạo trẻ và kết nối hỗ trợ nghiên cứu khoa học năm 2019; hàng năm, các tỉnh đoàn đều có chương trình tuyên dương thế hệ trẻ tiêu biểu, trong đó có lĩnh vực học tập và NCKH.

Nguồn quỹ đầu tư cho NCKH cũng đã được quan tâm, ủng hộ. Có thể kể đến là Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia được bố trí kinh phí rất tốt và tạo cơ chế vận hành tiệm cận với các thông lệ quốc tế. Hiện nay, có 02 chương trình phục vụ cho các nhà nghiên cứu trẻ dưới 35 tuổi là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản và Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của cán bộ khoa học trẻ. Năm 2022, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tiếp nhận nguồn lực tài trợ dành cho Quỹ Hỗ trợ và phát triển sinh viên Việt Nam và các hoạt động hỗ trợ NCKH của Hội Sinh viên Việt Nam; Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup đồng hành với các hoạt động NCKH, công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội (Vinif); Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)…

Những kết quả nổi bật của các cơ chế, chính sách, nguồn quỹ, cuộc thi, chương trình trên chính là việc khơi dậy, phát huy đồng bộ ba yếu tố cơ bản trong NCKH, đó là: Năng lực nghiên cứu, động lực nghiên cứu, môi trường nghiên cứu tốt. Nhờ có môi trường và sân chơi tạo động lực nghiên cứu, thế hệ trẻ đã tạo ra công trình, sáng kiến có chất lượng ngày càng cao; nội dung nghiên cứu gắn với thực tế, có khả năng phát triển và áp dụng vào thực tiễn làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác; tăng độ chính xác, ổn định, an toàn, tiết kiệm được thời gian, công sức của con người. Mỗi năm đã có hàng ngàn công trình, sáng kiến của thanh niên ở cấp cơ sở được ứng dụng, đem lại lợi nhuận cho tổ chức hàng trăm tỷ đồng. Đây cũng là động lực, là nơi “chắp cánh” cho những ước mơ NCKH, phát hiện tài năng trẻ để đào tạo, bồi dưỡng.

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động NCKH của thanh niên vẫn còn tồn tại một số hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Trước hết phải kể đến một số chính sách, quy định pháp luật, cơ chế về NCKH với thanh niên còn chưa bao quát, chưa tạo động lực, điều kiện để khuyến khích thanh niên tham gia NCKH. Chẳng hạn, khoản 2 Điều 15 Luật Thanh niên năm 2020 quy định về trách nhiệm của thanh niên: “Tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn”, quy định này chưa thể hiện được hết trách nhiệm của thanh niên, mới chỉ quy định mang tính bị động trong công tác NCKH. Hay Luật Thanh niên năm 2020 mới chỉ quy định: “Phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên” (khoản 3 Điều 34). Quy định này vẫn còn giới hạn và chưa phát huy được mọi tiềm năng sáng tạo, nghiên cứu cho sinh viên, học sinh.

Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động NCKH, hoạt động phổ biến, hướng dẫn ứng dụng khoa học, công nghệ cho thanh niên còn hạn chế. Ví dụ, đề tài khoa học cấp cơ sở với kinh phí 20 - 50 triệu đồng nên các nghiên cứu thực nghiệm khó triển khai và thực thi.

Việc tổ chức, đánh giá nghiệm thu đề tài trong nhiều trường hợp còn mang tính “cả nể”, ca ngợi nhiều hơn là bình luận, phê phán. Nhiều công trình chỉ mang tính chất phục vụ viết sách, tính điểm công trình nghiên cứu, chưa mang tính thực tiễn, áp dụng vào đời sống, không mang tính chất NCKH mà là những đề tài, vấn đề cũ “xào đi xào lại”.

Số lượng thanh niên tham gia NCKH, làm chủ nhiệm đề tài khoa học còn ít, chưa thực sự chủ động trong việc phát huy tài năng, nhiều NCKH mang tính chất giao phó, hoàn thành nhiệm vụ; chưa truyền tải được năng lượng tích cực, đam mê trong NCKH đến các bạn trẻ.

3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên

Trước những hạn chế trong việc thanh niên tiếp cận NCKH, khó khăn trong quá trình xây dựng và thực thi công trình khoa học, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả NCKH của thanh niên hiện nay như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về NCKH trong thanh niên.

Các quy định về NCKH của Luật Thanh niên năm 2020 vẫn còn mang tính chất “hô” khẩu hiệu, chưa thực sự mang tính trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên, chưa khuyến khích thanh niên tham gia vào công tác nghiên cứu, tìm tòi tri thức. Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 15 Luật này như sau: Sửa “tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn” thành “chủ động, tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn”.

Thứ hai, sửa đổi quy định nâng cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong hoạt động NCKH.

Môi trường giáo dục có thể coi là “chiếc nôi” đầu tiên để học sinh, sinh viên có cơ hội được tham gia nghiên cứu, phát huy khả năng và năng lực của mình. Tác giả đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 34 Luật Thanh niên năm 2020 như sau: “Tạo điều kiện, môi trường, phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên”.

Thứ ba, xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ thanh niên tham gia NCKH.

Hiện nay, Chính phủ chưa có nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ thanh niên tham gia NCKH. Chính sách về mục tiêu phát triển NCKH còn chung chung, nằm trong chính sách về phát triển thanh niên, chưa có tầm nhìn và chiến lược cụ thể hay có chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ cụ thể cho thanh niên. Do vậy, cần xây dựng chính sách riêng về hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên NCKH. Chính sách cần quy định rõ đối tượng hỗ trợ, các phương thức, cách thức hỗ trợ cụ thể, trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan, có chính sách đãi ngộ hợp lý khuyến khích thanh niên NCKH, đặc biệt là các thanh niên có trình độ, năng lực và tâm huyết nghiên cứu, tránh tình trạng “chảy máu chất xám”.

Thứ tư, hình thành các quỹ hỗ trợ nghiên cứu nhiều hơn nữa.

Một trong những khó khăn khi tiếp cận, triển khai khoa học vào thực tiễn đó là nguồn kinh phí. Việc xây dựng quỹ NCKH là cần thiết để phát triển một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh hiện tượng cào bằng cũng như là nguồn động viên rất lớn cho những sinh viên thực sự xuất sắc. Việc phát triển quỹ cũng đi liền với phát triển chất lượng và nâng cao yêu cầu đầu ra cho các NCKH, để các NCKH thực sự từng bước đạt được chất lượng tốt nhất.

Thứ năm, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức cần xây dựng một môi trường nghiên cứu thuận lợi hơn.

Hàng năm, khuyến khích các tổ chức đoàn, thanh niên trẻ tham gia vào đề tài khoa học, hội thảo, viết bài nghiên cứu phục vụ công tác chuyên môn. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực nghiên cứu cho các nghiên cứu viên trẻ, giảng viên trẻ, thông qua việc giao đề tài cho cá nhân làm chủ nhiệm để tăng cường ý thức và trách nhiệm trong nghiên cứu; tham gia đề tài nghiên cứu chung cùng các nghiên cứu viên có kinh nghiệm để nâng cao phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu, tăng cường làm việc theo nhóm.

Thứ sáu, các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức đoàn cần làm tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia tích cực vào hoạt động NCKH thông qua nhiều hình thức như: Chương trình hưởng ứng, hội nghị, hội thảo, cuộc thi, diễn đàn… Đây là “sân chơi” trực tiếp cho đội ngũ thanh niên, đoàn viên giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, để thanh niên có cơ hội xây dựng, bồi đắp kinh nghiệm, phát minh ra các sáng kiến khoa học có uy tín, khả năng áp dụng cao vào các lĩnh vực.

Thứ bảy, thanh niên cần phát huy tính xung kích tình nguyện, chủ động tìm tòi, đề xuất công trình khoa học, tích cực tham gia nghiên cứu các đề tài, có sáng kiến phục vụ cộng đồng.

Công tác NCKH cần phải gắn với việc đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ.

ThS. Lê Thu Thảo

Trưởng Bộ môn Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính, Học viện Tư pháp

[1]. Năm 2017, chương trình tiếp nhận 107 hồ sơ đăng ký tham gia sơ tuyển từ 40 trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, trung tâm trên địa bàn Thành phố. Trong đó, có 22 đề tài được duyệt và cấp kinh phí thực hiện; 06 đề tài được nghiệm thu loại Xuất sắc, 16 đề tài nghiệm thu loại Đạt. Năm 2018, Vườn ươm tiếp nhận 95 hồ sơ đăng ký. Sau vòng sơ tuyển và xét duyệt, chương trình đã chọn và cấp kinh phí thực hiện cho 22 đề tài với tổng kinh phí là 02 tỷ đồng, https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/nhieu-cong-bo-quoc-te-tu-vuon-uom-sang-tao-tre-1491856472.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 391), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Nhiều điểm mới mang tính định hướng đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động giám sát, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 được thông qua trên cơ sở kế thừa, bổ sung nhiều quy định mới về nguyên tắc định hướng, chủ thể giám sát, nội dung và quy trình để hoạt động giám sát đạt hiệu quả, chất lượng. Việc gắn kết giữa hoạt động giám sát với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, địa phương có tính chất tương hỗ để hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Theo dõi chúng tôi trên: