Thứ bảy 13/12/2025 22:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên và những vấn đề đặt ra

Trên hành trình đi tìm tri thức, hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) có ý nghĩa quan trọng đối với thế hệ thanh niên. Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện cho hoạt động NCKH của thanh niên thông qua các chính sách, pháp luật về thanh niên. Trong những năm vừa qua, hoạt động NCKH của thanh niên đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng bên cạnh đó vẫn còn có mặt hạn chế về chính sách, pháp luật thanh niên. Trong bài viết, tác giả phân tích về quy định và chính sách về hoạt động NCKH của thanh niên, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH của thanh niên.

Trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, khoa học và công nghệ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và trong bối cảnh toàn cầu hóa, lĩnh vực này cũng chịu những ảnh hưởng không nhỏ, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Khoa học và công nghệ đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển quốc gia. Trong đó, NCKH có ý nghĩa quan trọng đối với thế hệ thanh niên. Nhờ có hoạt động NCKH mà thế hệ trẻ có thể vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt các phương pháp nghiên cứu và thông tin khoa học vào thực tiễn cuộc sống.

1. Khái quát chung về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên theo quy định và chính sách hiện hành

Có thể thấy, hiện nay, nguồn nhân lực chất lượng cao cùng với khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành yếu tố đầu vào quan trọng nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, là “chìa khóa” quyết định tốc độ và chất lượng phát triển của các quốc gia và nền kinh tế. Đối với Việt Nam, vai trò của khoa học và công nghệ trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn được Đảng và Nhà nước ta coi trọng. Trong nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng, khoa học và công nghệ được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng, động lực phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhờ có NCKH, thanh niên góp phần đưa sáng kiến, công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn đến với đời sống và xã hội, đóng góp sức trẻ vào công cuộc xây dựng đất nước. Có thể khẳng định rằng, hoạt động NCKH có vai trò hết sức to lớn đối với thanh niên Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, quy định về thanh niên NCKH được thể hiện mạnh mẽ và có giá trị pháp lý đó là các quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật Thanh niên năm 2020, ngoài ra, về các chính sách khác tạo điều kiện để thanh niên NCKH được quy định tại các văn bản chiến lược phát triển thanh niên.

Thứ nhất, quy định về thanh niên NCKH theo Hiến pháp năm 2013:

Hiến pháp năm 2013 đã hiến định nhiều chủ trương, đường lối của Đảng trong tình hình mới và khẳng định: “1. Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 2. Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. 3. Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ” (Điều 62).

Như vậy, từ chỗ xác định vị thế của khoa học và công nghệ “giữ vai trò then chốt”, là động lực thúc đẩy phát triển đất nước (Hiến pháp năm 1992), Hiến pháp năm 2013 đã xác định nâng khoa học và công nghệ lên tầm mới, cùng với giáo dục và đào tạo trở thành quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Ðây là cơ sở hiến định, là bảo đảm về mặt chính trị - pháp lý để phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ mới. Hiến pháp năm 2013 quy định về tự do sáng tạo trong lĩnh vực cơ bản, đó là: “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó” (Điều 40). Trong đó, có đội ngũ thanh niên tri thức, là đội ngũ tiên phong, dự bị của Đảng. Hiến pháp năm 2013 cũng quy định: “Thanh niên được Nhà nước, gia đình và xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân; đi đầu trong công cuộc lao động sáng tạo và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 2 Điều 37).

Thứ hai, quy định về thanh niên NCKH theo Luật Thanh niên năm 2020:

Luật Thanh niên năm 2020 lần đầu tiên khẳng định NCKH là trách nhiệm của thanh niên. Theo đó, thanh niên có trách nhiệm “tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn” (khoản 2 Điều 15). Hiện nay, thanh niên luôn là bộ phận nòng cốt trong các giai đoạn lịch sử, luôn giữ được vai trò quan trọng, thể hiện tinh thần đi đầu trong tất cả mọi hoạt động. Vì vậy, vai trò của thanh niên là rất lớn, trong đó có lĩnh vực NCKH. Thanh niên với sức trẻ, bản lĩnh phải là lực lượng tiên phong; sự đóng góp của lực lượng thanh niên trong công tác NCKH sẽ là nền tảng vững chắc để xây dựng một nền văn hóa mới, tri thức mới để tiến tới tương lai. Thế hệ thanh niên hôm nay cần phát huy tinh thần xung kích tình nguyện, nỗ lực phấn đấu, xác định rõ NCKH là trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp của cơ quan, đơn vị nơi công tác và với chính cộng đồng xã hội.

Luật Thanh niên năm 2020 quy định cụ thể chính sách của Nhà nước đối với thanh niên về NCKH: Để bất cứ hoạt động nào được thực hiện có hiệu quả, chúng ta đều cần có hành lang pháp lý, cơ chế, chính sách đồng bộ đi kèm. Ở góc độ riêng, để hoạt động NCKH của thanh niên được thực hiện có hiệu quả, rất cần chính sách phù hợp khích lệ và tạo động lực cho các hoạt động nghiên cứu. Luật Thanh niên năm 2020 đã đưa ra quy định cụ thể chính sách NCKH cho thanh niên (Điều 16), khắc phục được hạn chế của Luật Thanh niên năm 2005 khi chưa quy định cụ thể chính sách này.

Luật Thanh niên năm 2020 đã quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH cho thanh niên: Sứ mệnh của một cơ sở giáo dục, nhất là các cơ sở giáo dục đại học trở lên, là tạo ra, quảng bá và chuyển giao tri thức cho xã hội. Một cơ sở giáo dục tách rời khỏi nghiên cứu khó có thể tồn tại lâu dài trong một thế giới phẳng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Trong các cơ sở giáo dục, một lực lượng đầy tiềm năng cho hoạt động nghiên cứu khoa học là đội ngũ giáo viên, giảng viên, trí thức trẻ cũng như lực lượng học sinh, sinh viên; tất cả đều nằm trong độ tuổi thanh niên. Để lực lượng này có thể phát huy tối đa khả năng trong hoạt động nghiên cứu khoa học, cần có những cơ chế, chính sách phù hợp từ các cơ sở giáo dục. Chính vì vậy, việc Luật Thanh niên năm 2020 quy định về trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trong việc phát huy tính sáng tạo trong NCKH cho thanh niên là điều hết sức cần thiết, cụ thể, khoản 3 Điều 34 Luật này quy định: “Phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên”.

Thứ ba, quy định về thanh niên NCKH theo Chiến lược phát triển thanh niên Việt nam giai đoạn 2021 - 2030:

Đảng ta sớm nhận thức được tầm quan trọng của khoa học và công nghệ nên đã dành nhiều điều kiện cho khoa học và công nghệ ở nước ta phát triển, ban hành khá nhiều và tương đối đầy đủ các định hướng chiến lược, cơ chế và chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Trong đó, có thể kể đến như: Nghị quyết số 02-NQ/HNTW ngày 24/12/1996 về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất và nhiệm vụ đến năm 2000; Kết luận số 14-KL/TW ngày 22/9/2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (năm 2011); Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Nghị quyết xác định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học và công nghệ, làm cho khoa học và công nghệ thực sự là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 và là nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa vào giữa thế kỷ XXI”, “đến năm 2030, có một số lĩnh vực đạt trình độ tiên tiến thế giới; tiềm lực khoa học và công nghệ đáp ứng các yêu cầu cơ bản của một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) cũng đã khẳng định: “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”.

Xuất phát từ quan điểm đó, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 của Thủ tướng Chính phủ xác định mục tiêu tổng quát: “Xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, giàu lòng yêu nước, có ý chí tự cường, tự hào dân tộc; có lý tưởng cách mạng, hoài bão, khát vọng vươn lên xây dựng đất nước; có đạo đức, ý thức công dân, chấp hành pháp luật; có sức khỏe và lối sống lành mạnh; có văn hóa, kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng sống, nghề nghiệp và việc làm; có ý chí lập thân, lập nghiệp, năng động, sáng tạo, làm chủ khoa học, công nghệ”. Về mục tiêu cụ thể của Chiến lược: “Đến năm 2030, tăng 15% số thanh niên được ứng dụng, triển khai ý tưởng sáng tạo, công trình nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và đời sống; tăng 15% số công trình khoa học và công nghệ do thanh niên chủ trì; tăng 10% số thanh niên làm việc trong các tổ chức khoa học, công nghệ (so với năm 2020)”.

2. Thực trạng về hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên Việt Nam

2.1. Kết quả đạt được

Hoạt động NCKH của thanh niên Việt Nam trong những năm gần đây có sự chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành công trên các lĩnh vực.

Các quy định pháp luật đã tạo nền tảng vững chắc để thanh niên tự tin tham gia NCKH, đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của thanh niên. Với tầm quan trọng của NCKH với thế hệ trẻ và mục tiêu đặt ra của Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương có cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho thanh niên tham gia hoạt động NCKH. Thanh niên là công chức, viên chức được tạo điều kiện làm chủ nhiệm, thư ký các đề tài nghiên cứu cấp bộ, tham gia các đề tài cấp nhà nước và tham dự các hội thảo khoa học quốc tế.

Hàng năm, các địa phương đều có cuộc thi hưởng ứng, phát động phong trào học tập và NCKH, nhằm khuyến khích thế hệ trẻ có công trình sáng tạo, áp dụng được ngay vào thực tiễn. Điển hình như: Hội nghị Nghiên cứu khoa học trong sinh viên khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ I, năm 2022 do Thành đoàn Cần Thơ, Trường Đại học Cần Thơ, Đại học Y Dược Cần Thơ, Đại học Nam Cần Thơ, Đại học Tây Đô phối hợp tổ chức và đã nhận được hơn 300 bài viết dự thi; Giải thưởng Tuổi trẻ sáng tạo trong Quân đội được diễn ra xuyên suốt 20 năm; Thành đoàn Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức chương trình Vườn ươm Sáng tạo khoa học và công nghệ trẻ giai đoạn 2017 – 2018[1]; Thành đoàn và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Giải thưởng sinh viên NCKH Euréka hơn 20 năm qua…

Ngoài ra, các địa phương cũng thành lập và duy trì các câu lạc bộ khoa học kỹ thuật, câu lạc bộ khuyến nông, khuyến ngư, câu lạc bộ sáng tạo trẻ, xây dựng tủ sách khoa học kỹ thuật, tổ chức các lớp tập huấn và các điểm trình diễn kỹ thuật để thanh niên ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, như: Tỉnh đoàn Bình Thuận thành lập “Câu lạc bộ sáng tạo trẻ” năm 2021; Tỉnh đoàn Lạng Sơn ra mắt “Câu lạc bộ nghiên cứu khoa học kỹ thuật trẻ” năm 2019; Tỉnh đoàn Gia Lai tổ chức Ngày hội Sáng tạo trẻ và kết nối hỗ trợ nghiên cứu khoa học năm 2019; hàng năm, các tỉnh đoàn đều có chương trình tuyên dương thế hệ trẻ tiêu biểu, trong đó có lĩnh vực học tập và NCKH.

Nguồn quỹ đầu tư cho NCKH cũng đã được quan tâm, ủng hộ. Có thể kể đến là Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia được bố trí kinh phí rất tốt và tạo cơ chế vận hành tiệm cận với các thông lệ quốc tế. Hiện nay, có 02 chương trình phục vụ cho các nhà nghiên cứu trẻ dưới 35 tuổi là Chương trình hỗ trợ nghiên cứu khoa học cơ bản và Chương trình hỗ trợ nâng cao năng lực khoa học và công nghệ của cán bộ khoa học trẻ. Năm 2022, Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam tiếp nhận nguồn lực tài trợ dành cho Quỹ Hỗ trợ và phát triển sinh viên Việt Nam và các hoạt động hỗ trợ NCKH của Hội Sinh viên Việt Nam; Quỹ đổi mới sáng tạo Vingroup đồng hành với các hoạt động NCKH, công nghệ của Đại học Quốc gia Hà Nội (Vinif); Quỹ Hỗ trợ sáng tạo kỹ thuật Việt Nam (VIFOTEC)…

Những kết quả nổi bật của các cơ chế, chính sách, nguồn quỹ, cuộc thi, chương trình trên chính là việc khơi dậy, phát huy đồng bộ ba yếu tố cơ bản trong NCKH, đó là: Năng lực nghiên cứu, động lực nghiên cứu, môi trường nghiên cứu tốt. Nhờ có môi trường và sân chơi tạo động lực nghiên cứu, thế hệ trẻ đã tạo ra công trình, sáng kiến có chất lượng ngày càng cao; nội dung nghiên cứu gắn với thực tế, có khả năng phát triển và áp dụng vào thực tiễn làm tăng hiệu quả kinh tế - xã hội và các lĩnh vực khác; tăng độ chính xác, ổn định, an toàn, tiết kiệm được thời gian, công sức của con người. Mỗi năm đã có hàng ngàn công trình, sáng kiến của thanh niên ở cấp cơ sở được ứng dụng, đem lại lợi nhuận cho tổ chức hàng trăm tỷ đồng. Đây cũng là động lực, là nơi “chắp cánh” cho những ước mơ NCKH, phát hiện tài năng trẻ để đào tạo, bồi dưỡng.

2.2. Một số hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động NCKH của thanh niên vẫn còn tồn tại một số hạn chế cả về số lượng và chất lượng. Trước hết phải kể đến một số chính sách, quy định pháp luật, cơ chế về NCKH với thanh niên còn chưa bao quát, chưa tạo động lực, điều kiện để khuyến khích thanh niên tham gia NCKH. Chẳng hạn, khoản 2 Điều 15 Luật Thanh niên năm 2020 quy định về trách nhiệm của thanh niên: “Tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn”, quy định này chưa thể hiện được hết trách nhiệm của thanh niên, mới chỉ quy định mang tính bị động trong công tác NCKH. Hay Luật Thanh niên năm 2020 mới chỉ quy định: “Phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên” (khoản 3 Điều 34). Quy định này vẫn còn giới hạn và chưa phát huy được mọi tiềm năng sáng tạo, nghiên cứu cho sinh viên, học sinh.

Kinh phí hỗ trợ cho hoạt động NCKH, hoạt động phổ biến, hướng dẫn ứng dụng khoa học, công nghệ cho thanh niên còn hạn chế. Ví dụ, đề tài khoa học cấp cơ sở với kinh phí 20 - 50 triệu đồng nên các nghiên cứu thực nghiệm khó triển khai và thực thi.

Việc tổ chức, đánh giá nghiệm thu đề tài trong nhiều trường hợp còn mang tính “cả nể”, ca ngợi nhiều hơn là bình luận, phê phán. Nhiều công trình chỉ mang tính chất phục vụ viết sách, tính điểm công trình nghiên cứu, chưa mang tính thực tiễn, áp dụng vào đời sống, không mang tính chất NCKH mà là những đề tài, vấn đề cũ “xào đi xào lại”.

Số lượng thanh niên tham gia NCKH, làm chủ nhiệm đề tài khoa học còn ít, chưa thực sự chủ động trong việc phát huy tài năng, nhiều NCKH mang tính chất giao phó, hoàn thành nhiệm vụ; chưa truyền tải được năng lượng tích cực, đam mê trong NCKH đến các bạn trẻ.

3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học của thanh niên

Trước những hạn chế trong việc thanh niên tiếp cận NCKH, khó khăn trong quá trình xây dựng và thực thi công trình khoa học, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả NCKH của thanh niên hiện nay như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật về NCKH trong thanh niên.

Các quy định về NCKH của Luật Thanh niên năm 2020 vẫn còn mang tính chất “hô” khẩu hiệu, chưa thực sự mang tính trách nhiệm, nghĩa vụ của thanh niên, chưa khuyến khích thanh niên tham gia vào công tác nghiên cứu, tìm tòi tri thức. Vì vậy, tác giả đề xuất sửa đổi khoản 2 Điều 15 Luật này như sau: Sửa “tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn” thành “chủ động, tích cực học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng; tiếp cận, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào thực tiễn”.

Thứ hai, sửa đổi quy định nâng cao trách nhiệm của cơ sở giáo dục trong hoạt động NCKH.

Môi trường giáo dục có thể coi là “chiếc nôi” đầu tiên để học sinh, sinh viên có cơ hội được tham gia nghiên cứu, phát huy khả năng và năng lực của mình. Tác giả đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 34 Luật Thanh niên năm 2020 như sau: “Tạo điều kiện, môi trường, phát huy tính sáng tạo trong học tập, nghiên cứu khoa học; nâng cao năng lực tự học, kỹ năng thực hành; tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho thanh niên”.

Thứ ba, xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ thanh niên tham gia NCKH.

Hiện nay, Chính phủ chưa có nhiều chính sách khuyến khích và hỗ trợ thanh niên tham gia NCKH. Chính sách về mục tiêu phát triển NCKH còn chung chung, nằm trong chính sách về phát triển thanh niên, chưa có tầm nhìn và chiến lược cụ thể hay có chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ cụ thể cho thanh niên. Do vậy, cần xây dựng chính sách riêng về hỗ trợ, tạo điều kiện cho thanh niên NCKH. Chính sách cần quy định rõ đối tượng hỗ trợ, các phương thức, cách thức hỗ trợ cụ thể, trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan, có chính sách đãi ngộ hợp lý khuyến khích thanh niên NCKH, đặc biệt là các thanh niên có trình độ, năng lực và tâm huyết nghiên cứu, tránh tình trạng “chảy máu chất xám”.

Thứ tư, hình thành các quỹ hỗ trợ nghiên cứu nhiều hơn nữa.

Một trong những khó khăn khi tiếp cận, triển khai khoa học vào thực tiễn đó là nguồn kinh phí. Việc xây dựng quỹ NCKH là cần thiết để phát triển một môi trường cạnh tranh lành mạnh, tránh hiện tượng cào bằng cũng như là nguồn động viên rất lớn cho những sinh viên thực sự xuất sắc. Việc phát triển quỹ cũng đi liền với phát triển chất lượng và nâng cao yêu cầu đầu ra cho các NCKH, để các NCKH thực sự từng bước đạt được chất lượng tốt nhất.

Thứ năm, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức cần xây dựng một môi trường nghiên cứu thuận lợi hơn.

Hàng năm, khuyến khích các tổ chức đoàn, thanh niên trẻ tham gia vào đề tài khoa học, hội thảo, viết bài nghiên cứu phục vụ công tác chuyên môn. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực nghiên cứu cho các nghiên cứu viên trẻ, giảng viên trẻ, thông qua việc giao đề tài cho cá nhân làm chủ nhiệm để tăng cường ý thức và trách nhiệm trong nghiên cứu; tham gia đề tài nghiên cứu chung cùng các nghiên cứu viên có kinh nghiệm để nâng cao phương pháp và kinh nghiệm nghiên cứu, tăng cường làm việc theo nhóm.

Thứ sáu, các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức đoàn cần làm tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ, động viên cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia tích cực vào hoạt động NCKH thông qua nhiều hình thức như: Chương trình hưởng ứng, hội nghị, hội thảo, cuộc thi, diễn đàn… Đây là “sân chơi” trực tiếp cho đội ngũ thanh niên, đoàn viên giao lưu, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, để thanh niên có cơ hội xây dựng, bồi đắp kinh nghiệm, phát minh ra các sáng kiến khoa học có uy tín, khả năng áp dụng cao vào các lĩnh vực.

Thứ bảy, thanh niên cần phát huy tính xung kích tình nguyện, chủ động tìm tòi, đề xuất công trình khoa học, tích cực tham gia nghiên cứu các đề tài, có sáng kiến phục vụ cộng đồng.

Công tác NCKH cần phải gắn với việc đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ.

ThS. Lê Thu Thảo

Trưởng Bộ môn Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ việc hành chính, Học viện Tư pháp

[1]. Năm 2017, chương trình tiếp nhận 107 hồ sơ đăng ký tham gia sơ tuyển từ 40 trường đại học, cao đẳng, viện nghiên cứu, trung tâm trên địa bàn Thành phố. Trong đó, có 22 đề tài được duyệt và cấp kinh phí thực hiện; 06 đề tài được nghiệm thu loại Xuất sắc, 16 đề tài nghiệm thu loại Đạt. Năm 2018, Vườn ươm tiếp nhận 95 hồ sơ đăng ký. Sau vòng sơ tuyển và xét duyệt, chương trình đã chọn và cấp kinh phí thực hiện cho 22 đề tài với tổng kinh phí là 02 tỷ đồng, https://www.hcmcpv.org.vn/tin-tuc/nhieu-cong-bo-quoc-te-tu-vuon-uom-sang-tao-tre-1491856472.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 391), tháng 10/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: