Thứ bảy 24/10/2026 10:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về tội mua bán người trong Bộ luật Hình sự - Hạn chế và hướng hoàn thiện

Bài viết này phân tích, đánh giá quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội mua bán người tại Điều 150, một số bất cập, hạn chế của điều luật trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật.



1. Quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội mua bán người

Sau hơn 15 năm áp dụng quy định về Tội mua bán người tại Điều 119 của Bộ luật Hình sự năm 1999, các quy định này đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế. Các tồn tại, hạn chế này xuất phát từ một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 không mô tả hành vi khách quan của tội mua bán người. Theo hướng dẫn của Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao[1] thì “mua bán trẻ em được hiểu là mua, hoặc bán trẻ em vì mục đích tư lợi”. Từ đó có thể hiểu rằng, mua bán người cũng là việc mua hoặc bán người vì mục đích tư lợi. Như vậy, cần phải chứng minh được yếu tố tư lợi của người phạm tội, đồng thời, ý chí của người bị mua bán không ảnh hưởng đến việc định tội. Điều này đã gây khó khăn trong việc phân định rạch ròi một số tội danh trong Bộ luật Hình sự, dẫn đến chồng chéo giữa các tội danh với nhau, như phân biệt giữa hành vi mua bán người với hành vi môi giới mại dâm (tội môi giới mại dâm) (sự chồng chéo này thể hiện rất rõ trong trường hợp tuyển mộ phụ nữ rồi giới thiệu người đó vào những tụ điểm mại dâm trong nội địa); giữa hành vi mua bán người với hành vi tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài (tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép). Bên cạnh đó, việc không quy định ý chí của người bị mua bán tại cấu thành cơ bản của tội phạm mua bán người cũng gây khó khăn trong việc phân định giữa trường hợp mua bán người (tội mua bán người) với những trường hợp vi phạm pháp luật khác như môi giới hôn nhân, môi giới lao động bất hợp pháp.

Thứ hai, điều luật không đề cập tới việc nạn nhân có bị đặt trước nguy cơ bị xâm hại, lạm dụng, bóc lột hay không lại không có ý nghĩa trong việc định tội. Thực tế điều tra, truy tố, xét xử cho thấy có những trường hợp môi giới lao động, môi giới kết hôn có yếu tố nước ngoài, về hình thức thì hoàn toàn đủ dấu hiệu cấu thành của Điều 119 về tội mua bán người, nhưng đối tượng được trao đổi không hề bị thiệt hại gì và cơ quan tiến hành tố tụng ở mỗi địa phương rất lúng túng trong việc vận dụng pháp luật để xử lý các trường hợp này[2]. Ví dụ như có nhiều trường hợp phụ nữ đã có tuổi mà chưa có chồng hoặc bị chồng bỏ mong muốn được lấy chồng nên đã nhờ người khác đưa sang Trung Quốc hoặc Hàn Quốc để được lấy chồng; hoặc có những người không có việc làm mong muốn tìm được một việc làm phù hợp đã nhờ người khác đưa sang Malaysia hoặc Thái Lan để làm giúp việc.

Mục đích ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 - sau đây gọi chung là Bộ luật Hình sự năm 2015) là tạo công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống nhóm tội phạm này, khắc phục triệt để những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013 là tạo ra cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm mọi người được sống trong một môi trường an toàn, lành mạnh, đồng thời góp phần đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế khi Việt Nam đã là thành viên của Công ước quốc tế về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (Công ước TOC) và Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người, Điều 150 về tội mua bán người của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung khá cơ bản và toàn diện về cấu thành cơ bản của hai tội phạm này.

Nếu như Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội mua bán người với cấu thành cơ bản là “người nào mua bán người” thì Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã mô tả cụ thể cấu thành cơ bản của tội phạm này, theo đó, cấu thành cơ bản của tội mua bán người bao gồm đầy đủ 03 dấu hiệu bắt buộc sau:

(i) Về hành vi: Mô tả cụ thể hành vi mua bán người, bao gồm bất cứ hành vi nào trong quy trình mua bán người, từ tuyển mộ, vận chuyển đến chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận người.

(ii) Thủ đoạn: Những hành vi trên phải được thực hiện bằng những thủ đoạn như dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng các thủ đoạn khác (có thể là lạm dụng quyền lực, lợi dụng tình trạng quẫn bách hay bất kỳ thủ đoạn nào khác).

(iii) Mục đích: Quy định rõ mục đích của các hành vi trên gồm: Giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác hoặc bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác.

Bên cạnh đó, để bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch và thống nhất trong quá trình vận dụng pháp luật, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) nhằm cụ thể hóa hoặc mô tả rõ ràng những dấu hiệu định khung hình phạt mang tính định lượng hoặc định tính chưa rõ ràng hoặc những tình tiết còn chung chung của Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng nặng TNHS của 02 tội danh này, như tình tiết “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% đến 60%” tại khoản 2 và từ 61% trở lên tại khoản 3; tình tiết “làm nạn nhân chết hoặc tự sát” tại khoản 3; đồng thời, sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng TNHS “để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” của hai tội danh này thành “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”.

2. Một số bất cập, hạn chế

Mặc dù quy định về tội mua bán người tại Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cơ bản khắc phục được những bất cập, hạn chế của Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) cũng như tháo gỡ được nhiều khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh với loại tội phạm này, đặc biệt là khó khăn trong việc phân biệt tội mua bán người với một số tội phạm khác của Bộ luật Hình sự hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác. Tuy nhiên, quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội danh này vẫn phát sinh một số bất cập, hạn chế sau:

Thứ nhất, về chủ thể của tội mua bán người

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì việc truy cứu TNHS về tội mua bán người chỉ được thực hiện với các cá nhân phạm tội. Trong khi đó, TNHS của pháp nhân thương mại lần đầu tiên được quy định là chủ thể của tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì pháp nhân thương mại chỉ là chủ thể của 33 tội danh cụ thể, tập trung vào ba nhóm tội phạm, đó là nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (22 tội danh), nhóm các tội phạm về môi trường (09 tội danh) và nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (02 tội danh). Như vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định pháp nhân thương mại phải chịu TNHS về tội mua bán người. Điều này sẽ dẫn tới một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật, thể hiện ở một số vấn đề sau:

(i) Đặc điểm nổi bật của tội mua bán người là những tội phạm có tính chất xuyên quốc gia. Trong khi đó, với bối cảnh hội nhập quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, đặc biệt, Việt Nam đã là thành viên của Công ước TOC. Mặc dù khi tham gia các Công ước, đặc biệt là Công ước TOC, Việt Nam tuyên bố không bị ràng buộc về quy định TNHS của pháp nhân. Nhưng theo quy định tại Điều 10 của Công ước này, các quốc gia thành viên phải ban hành những biện pháp cần thiết phù hợp với những nguyên tắc pháp lý của nước mình, để xác định trách nhiệm pháp lý của pháp nhân trong việc thực hiện những hành vi phạm tội như thực hiện tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức. Đồng thời, tùy theo những nguyên tắc pháp lý của mình, việc xử lý pháp nhân vi phạm có thể là TNHS, dân sự hay trách nhiệm hành chính. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hành vi thực hiện một tội phạm nghiêm trọng liên quan đến việc tham gia nhóm tội phạm có tổ chức nói chung và hành vi mua bán người nói riêng luôn được coi là tội phạm hình sự mà không coi là hành vi vi phạm hành chính. Do đó, việc không quy định TNHS của pháp nhân khi phạm tội mua bán người đã bỏ sót việc xử lý hành vi vi phạm của pháp nhân khi thực hiện các tội phạm này.

(ii) Qua nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia trên thế giới về TNHS đối với pháp nhân[3] thì đa số các nước theo hệ thống thông luật như Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand… hoặc một số nước thuộc hệ thống luật thành văn như Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ, Phần Lan…, khi quy định TNHS của pháp nhân thì đều quy định pháp nhân phải chịu TNHS đối với mọi tội phạm. Một số nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines… và ngay cả Trung Quốc - quốc gia láng giềng với Việt Nam và cũng là một trong những điểm đến chủ yếu của tội phạm mua bán người và tội phạm mua bán người dưới 16 tuổi[4] - cũng quy định TNHS của pháp nhân và không loại trừ TNHS của pháp nhân đối với tội mua bán người. Như vậy, việc không quy định TNHS của pháp nhân thương mại đối với tội mua bán người có khả năng dẫn tới khó khăn trong hợp tác quốc tế do xung đột pháp luật giữa các quốc gia.

Thứ hai, về các tình tiết định tội là mục đích của người thực hiện hành vi mua bán người “bóc lột tình dục”, “cưỡng bức lao động” và “lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”

Theo quy định tại khoản 1 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mục đích của người thực hiện hành vi mua bán người là một trong ba yếu tố bắt buộc trong cấu thành cơ bản của tội phạm. Theo đó, người thực hiện hành vi mua bán người vì nhiều mục đích khác nhau, trong đó có các mục đích “để bóc lột tình dục”, “cưỡng bức lao động” hoặc “lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Trong số ba mục đích này thì mục đích “lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” tại cấu thành cơ bản của tội phạm tiếp tục được quy định là tình tiết định khung tăng nặng TNHS của người phạm tội và lúc này việc lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân không còn là trong ý định, mục đích của người phạm tội nữa mà đã được thực hiện bằng hành vi khách quan trên thực tế với quy định “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” tại điểm b khoản 3 Điều 150. Tuy nhiên, với hai mục đích còn lại là “bóc lột tình dục” và “cưỡng bức lao động” thì cả hai điều luật này lại không tiếp tục quy định là tình tiết định khung tăng nặng TNHS khi việc bóc lột đã được thực hiện trên thực tế là “đã bóc lột tình dục” hoặc “đã cưỡng bức lao động” tương tự như cách quy định về tình tiết “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Điều này dẫn tới một bất cập, đó là trường hợp người thực hiện hành vi mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi, nếu sau đó lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thì người phạm tội chỉ bị truy cứu TNHS về tội mua bán người theo khoản 3 Điều 150 với tình tiết định khung tăng nặng là “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”. Tuy nhiên, cũng tương tự như vậy, trường hợp người thực hiện hành vi mua bán người sau đó hiếp dâm nạn nhân hoặc ép buộc nạn nhân phục vụ nhu cầu tình dục cho cả nhà họ hoặc ép buộc họ phải lao động trong điều kiện nặng nhọc, độc hại thì cùng với việc bị truy cứu TNHS về tội mua bán người, người phạm tội sẽ bị truy cứu TNHS cả về tội hiếp dâm quy định tại Điều 141 hoặc tội cưỡng bức lao động quy định tại Điều 297. Như vậy, với trường hợp này thì chính sách hình sự là chưa đảm bảo sự công bằng, minh bạch, bởi hành vi phạm tội là như nhau, nhưng có người phạm tội mua bán người nếu sau đó đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thì chỉ bị truy cứu TNHS về một tội, nhưng người phạm tội mua bán người nếu sau đó cưỡng bức lao động hoặc bóc lột tình dục nạn nhân thì lại bị truy cứu TNHS về hai tội danh với chính sách tổng hợp hình phạt.

Thứ ba, về tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”

Theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là mục đích của người phạm tội mua bán người và là dấu hiệu bắt buộc tại cấu thành cơ bản của tội danh này. Trường hợp “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” thì sẽ được xem là tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại khoản 3 điều luật này. Để hướng dẫn tình tiết này, Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là trường hợp người phạm tội mua bán người hoặc mua bán người dưới 16 tuổi sau đó đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân. Trường hợp người phạm tội đã lấy bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân như tim, buồng gan… làm nạn nhân chết thì bị truy cứu TNHS về tội giết người theo quy định tai điểm h khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015[5].

Có thể thấy, quy định này của Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP chưa thực sự thống nhất và phù hợp với quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015, lại chưa đảm bảo phản ánh đúng bản chất của hành vi phạm tội. Bởi lẽ, theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội giết người thì việc lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân là tình tiết định khung tăng nặng TNHS đối với người phạm tội. Hành vi giết người được thực hiện trước, sau khi nạn nhân chết thì người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân. Trong khi đó, người phạm tội mua bán người đã thực hiện đầy đủ các hành vi được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội mua bán người và việc lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân bị mua bán được thực hiện khi nạn nhân đang còn sống. Việc lấy đi bộ phận cơ thể quyết định sự sống của nạn nhân là nguyên nhân dẫn tới nạn nhân bị chết thì truy cứu TNHS về tội giết người (điểm h khoản 1 Điều 123), trong khi đó, cùng với hành vi phạm tội như nhau, nhưng lấy đi bộ phận cơ thể không quyết định sự sống của nạn nhân thì lại truy cứu TNHS về tội mua bán người (điểm b khoản 3 Điều 150).

Bên cạnh đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định việc mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người là một tội danh độc lập tại Điều 154. Theo quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác thì sẽ bị truy cứu TNHS về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Nếu căn cứ vào tình tiết định khung tăng nặng TNHS “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” của tội mua bán người thì rất khó phân biệt giữa tội mua bán người với tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người, bởi giữa các tội danh này hành vi khách quan đều có chung đặc điểm, đó là có hành vi chuyển giao người hoặc tiếp nhận người để nhận tiền hoặc lợi ích vật chất khác và bộ phận cơ thể người đã được lấy đi. Trong trường hợp này, người thực hiện đầy đủ hành vi được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội mua bán người và đã lấy đi bộ phận cơ thể của nạn nhân cũng chỉ bị truy cứu TNHS theo khoản 3 Điều 150 là chưa thực sự thoả đáng và chưa đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật như đã phân tích tại tiểu mục 2 nêu trên. Trường hợp này, hành vi phạm tội của người phạm tội không chỉ thỏa mãn các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành cơ bản của tội mua bán người tại Điều 150 mà còn thỏa mãn các dấu hiệu tại cấu thành cơ bản của tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người tại Điều 154, nhưng lại không thể truy cứu TNHS người đó đồng thời về hai tội danh là tội mua bán người hoặc tội mua bán người dưới 16 tuổi và tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.

Thứ tư, sự xuất hiện của loại tội phạm mới có liên quan

Quá trình điều tra tội phạm mua bán người, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều trường hợp mua bán thai nhi trong bụng mẹ. Không chỉ là những vụ mua bán đơn lẻ trong phạm vi nội địa mà việc mua bán bào thai được tổ chức thành đường dây có tổ chức để đưa những người mẹ đang mang thai ra nước ngoài để kiếm tiền. Tuy nhiên, thực tiễn xử lý hình sự đối với hành vi mua bán bào thai là hết sức khó khăn, bởi lẽ, Bộ luật Hình sự năm 2015 không có điều luật nào quy định việc mua bán bào thai là tội phạm hình sự, trong khi đó, bào thai trong bụng người mẹ chưa được coi là “người” khi chưa được sinh ra, vì thế việc xử lý về tội mua bán người dưới 16 tuổi theo quy định tại Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 là không thực hiện được.

3. Đề xuất hướng hoàn thiện

Từ những bất cập, hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội mua bán người đã phân tích, đánh giá ở phần trên, Điều 150 về tội mua bán người cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng:

Một là, bổ sung chủ thể chịu TNHS khi thực hiện hành vi phạm tội này là pháp nhân thương mại để đảm bảo phù hợp với yêu cầu của chuẩn mực quốc tế về vấn đề này, đồng thời, tạo thuận lợi cho hoạt động hợp tác quốc tế trong đấu tranh với loại tội phạm này.

Hai là, bỏ tình tiết định khung tăng nặng TNHS “đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân” tại điểm b khoản 3 Điều 150. Trường hợp người thực hiện hành vi mua bán người, sau đó lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân thì cùng với tội mua bán người, người đó phải bị truy cứu TNHS về tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người quy định tại Điều 154 Bộ luật Hình sự năm 2015. Trường hợp người thực hiện hành vi mua bán người, sau đó lấy đi bộ phận cơ thể nạn nhân mà bộ phận đó quyết định sự sống của nạn nhân thì cùng với tội mua bán người, người phạm tội phải bị truy cứu TNHS về tội giết người quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc sửa đổi này sẽ đảm bảo sự thống nhất ngay trong quy định của các điều luật về các mục đích “bóc lột tình dục”, “cưỡng bức lao động” và “lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân”, đồng thời khắc phục được bất cập hiện nay về chính sách hình sự chưa công bằng, nhất quán đối với người phạm tội.

Ba là, nghiên cứu để bổ sung thêm Tội mua bán bào thai vào Bộ luật Hình sự năm 2015 để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc xử lý hình sự đối với hành vi mua bán bào thai trong bụng mẹ đang diễn ra trong thực tiễn. Việc bổ sung cụ thể tội danh này cần tiếp tục có những nghiên cứu đầy đủ, toàn diện và bao quát để có những đề xuất cụ thể về nội dung điều luật.

ThS. Lê Thị Vân Anh
Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp



[1]. Nghị quyết số 04/HĐTPTANDTC/NQ ngày 29/11/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự.

[2]. Báo cáo số 35/BC-BTP ngày 12/02/2015 của Bộ Tư pháp về kết quả tổng kết thực tiễn thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999.

[3]. Đề án trách nhiệm hình sự của pháp nhân, Bộ Tư pháp năm 2015.

[4]. Báo cáo số 358/BC-BCA-C02 tình hình thực hiện pháp luật về phòng, chống mua bán người từ khi Luật Phòng, chống mua bán người năm 2012 có hiệu lực đến hết năm 2017.

[5]. Khoản 6 Điều 3 và khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.

Theo dõi chúng tôi trên: