Thứ tư 09/09/2026 10:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới góc nhìn về bình đẳng giới

Bài viết tập trung phân tích các quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới góc độ pháp luật bình đẳng giới, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho cho con nhằm bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế trong lĩnh vực gia đình.

1. Quy định pháp luật về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ góc độ pháp luật bình đẳng giới

Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình là một trong những nội dung bình đẳng giới cơ bản và quan trọng. Các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và quy định pháp luật về xác định cha, mẹ cho con nói riêng đóng vai trò quan trọng để bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình cũng như bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Quy định về xác định cha, mẹ cho con tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có nội dung không thể tách rời các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới cũng như những quy định cụ thể về bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình của Luật Bình đẳng giới năm 2006.

Theo khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Bình đẳng giới phải được biểu hiện một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Luật Bình đẳng giới năm 2006 còn quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới tại Điều 6 và nội dung bình đẳng giới trong gia đình tại khoản 1 Điều 18, gồm cả bình đẳng giữa vợ và chồng trong xác định con chung. Nói cách khác, giữa quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nói chung và quy định về xác định cha, mẹ cho con nói riêng cần đồng bộ với các quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006, đặc biệt là nguyên tắc “bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật” (khoản 5 Điều 6) trong xác định cha, mẹ cho con.

1.1. Các quy phạm pháp luật trung tính về giới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con

Thông thường, đa phần các quy phạm pháp luật trong các ngành luật đều là các quy phạm pháp luật trung tính về giới nhằm bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa nam và nữ, là cơ sở để đạt được sự bình đẳng thực sự trên thực tế. Về xác định cha, mẹ cho con, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có những quy định trung tính mang tính bình đẳng chung cho cả nữ và nam để xác lập quan hệ pháp lý cha, mẹ với trẻ được sinh ra. Cụ thể:

Thứ nhất, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và trong trường hợp sinh đẻ tự nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” (đoạn 1 khoản 1 Điều 88); “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng” (đoạn 3 khoản 1 Điều 88); “trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định” (khoản 2 Điều 88).

Thứ hai, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” (khoản 1 Điều 93); “việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra” (khoản 3 Điều 93).

Cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp có thể sinh con tự nhiên hoặc do người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản[1]. Trong cả hai trường hợp này, con đều do người vợ trực tiếp sinh ra. Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc xác định cha, mẹ cho con chung của vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của vợ chồng và sự kiện sinh đẻ của người vợ. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng được áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho trường hợp xác định cha, mẹ cho con chung khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp. Người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được mặc nhiên xác định là mẹ hợp pháp của trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, kể cả khi người vợ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người hiến tặng; người chồng được xác định là cha hợp pháp của trẻ được sinh ra, kể cả khi người chồng không có tinh trùng.

Thứ ba, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.

Khác với hai trường hợp, cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp sinh con tự nhiên hoặc do người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trong trường hợp cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định một nguyên tắc suy đoán pháp lý riêng để xác định cha, mẹ cho con tại Điều 94. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con (khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ). Do đó, không thể áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý cha, mẹ cho con sinh ra nhờ mang thai hộ dựa trên sự kiện sinh đẻ của người vợ mà phải dựa trên thời điểm con được sinh ra, tức là sự kiện sinh đẻ này phải của người phụ nữ mang thai hộ. Căn cứ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng dựa trên thời kỳ hôn nhân hợp pháp của cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp thực hiện nhờ mang thai hộ và sự kiện sinh đẻ, nhưng sự kiện sinh đẻ làm phát sinh quan hệ cha, mẹ với trẻ được sinh ra nhờ mang thai hộ là sự kiện sinh con của người mang thai hộ, không phải là sự kiện sinh con của người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh.

Thứ tư, trường hợp xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình” (khoản 1 Điều 89) và “cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia” (Điều 91).

Việc áp dụng các quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép cơ quan có thẩm quyền xác định được ai là cha, mẹ của trẻ được sinh ra. Để quan hệ cha - con, mẹ - con hợp pháp, cần thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ theo Luật Hộ tịch năm 2014. Theo đó, việc xác định tư cách cha, mẹ, con được thực hiện qua thủ tục đăng ký khai sinh (một loại thủ tục đăng ký hộ tịch). Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh (Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014), trừ một số trường hợp đặc biệt. Người khai sinh cho trẻ là cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em (khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014). Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh[2]. Kể cả người chồng không có mặt khi khai sinh hoặc có mặt nhưng không có ý kiến gì thì người chồng mặc nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và tên người chồng được ghi vào giấy khai sinh, bằng thủ tục đăng ký khai sinh, việc xác định cha, mẹ cho con được thực hiện[3]. Thống nhất với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng đã quy định theo hướng xem đăng ký khai sinh là một trường hợp xác nhận tình trạng nhân thân của một người khi xảy ra sự kiện hộ tịch về sinh đẻ, việc xác nhận sự kiện sinh đẻ qua đăng ký khai sinh cho phép xác định tình trạng nhân thân của một cá nhân rằng ai là cha, mẹ của người đã được sinh ra. Việc khai sinh là bắt buộc do Nhà nước quy định, không phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ và do cơ quan hộ tịch tiến hành, trong trường hợp cặp vợ chồng hợp pháp sinh đẻ tự nhiên, do mang thai hộ hay do người vợ áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

1.2. Quy định dành riêng cho nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con

Trong việc xác định cha, mẹ cho con, rõ ràng sự khác biệt về giới tính giữa nữ và nam với tư cách là vợ và chồng là không thể loại bỏ. Phụ nữ và nam giới có đặc điểm sinh học riêng khi tham gia vào quá trình sinh sản. Về nguyên tắc, các quy định dành riêng cho nữ hoặc nam có thể xuất phát từ nguyên nhân đặc thù khác biệt về giới tính không thể thay đổi hoặc do định kiến giới còn tồn tại, dẫn đến phải điều chỉnh riêng nhằm “lấp đầy” sự khác biệt về giới tính hoặc bảo đảm bình đẳng thực chất về quyền và nghĩa vụ giữa nam và nữ. Liên quan đến nữ giới, chính giới tính của phụ nữ tạo cho họ thiên chức làm mẹ. Điều này dẫn đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định pháp luật dành riêng cho nữ khi họ thực hiện chức năng làm mẹ bằng sinh đẻ tự nhiên hoặc bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc khi phụ nữ tham gia vào quá trình mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm xác định người mẹ hợp pháp cho trẻ được sinh ra. Cụ thể:

- Trường hợp xác định cha, mẹ cho con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và trong trường hợp sinh đẻ tự nhiên, tại đoạn 2 khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”.

- Trường hợp xác định mẹ cho con khi người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”.

- Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định riêng cho phụ nữ là người mang thai hộ, ví dụ, khoản 3 Điều 95 quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với bên mang thai hộ, Điều 97 quy định về quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

2. Một số bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con từ góc độ pháp luật bình đẳng giới

2.1. Bất cập liên quan đến quy định về xác định mẹ cho con trong trường hợp cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

- Trường hợp người mẹ sinh con tự nhiên ngoài giá thú: Do không có thời kỳ hôn nhân khi người mẹ sinh con tự nhiên ngoài giá thú nên không thể áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý cha, mẹ cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật này cũng không có bất kỳ điều khoản nào quy định về xác định mẹ hợp pháp cho con sinh ra ngoài giá thú do sự kiện sinh đẻ tự nhiên.

Theo Luật Hộ tịch năm 2014, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em (khoản 1 Điều 15). Khi đi đăng ký khai sinh, người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh (khoản 1 Điều 16). Có thể thấy, Luật Hộ tịch năm 2014 đã gián tiếp thừa nhận người mẹ hợp pháp của trẻ được sinh ra là người phụ nữ có sự kiện sinh đẻ ra trẻ đó.

- Người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Trong cùng hoàn cảnh sinh con ngoài giá thú, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được nhận tinh trùng hoặc nhận phôi nếu không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai để thực hiện sinh con dẫn đến khả năng đứa con sinh ra có thể không cùng huyết thống với người phụ nữ độc thân đã mang thai và sinh ra trẻ. Việc xác định mẹ cho con trong trường hợp này căn cứ vào sự tự nguyện của người phụ nữ độc thân đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và sự kiện sinh đẻ của họ[4].

Theo khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người phụ nữ độc thân đương nhiên là mẹ hợp pháp của đứa trẻ và chỉ tồn tại quan hệ pháp lý mẹ - con. Trẻ được sinh ra trong trường hợp này không có cha pháp lý bởi việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra (khoản 3 Điều 93). Nghĩa là người cho tinh trùng, người cho phôi có cùng huyết thống với đứa trẻ được sinh ra nhưng về mặt pháp luật, họ không được công nhận là cha, mẹ của đứa trẻ.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật hôn nhân và gia đình có sự thống nhất với pháp luật hộ tịch theo hướng nhìn nhận việc một người phụ nữ có sự kiện sinh đẻ là cơ sở để xác định người phụ nữ đó là mẹ hợp pháp của trẻ được sinh ra, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của người phụ nữ (đang độc thân hay đang có chồng hợp pháp), cũng như không phụ thuộc vào hình thức sinh đẻ (sinh con tự nhiên hay sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản).

Xét ở góc độ pháp luật bình đẳng giới, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là một quy định dành riêng cho giới nữ với 02 điều kiện: (i) Phải là người phụ nữ sống độc thân; (ii) Phải là người phụ nữ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định nguyên tắc pháp lý chung về xác định mẹ cho con do sự kiện sinh đẻ.

Việc quy định như trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp cho nhóm phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dẫn đến cách hiểu là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn có sự phân biệt giữa trường hợp phụ nữ sinh con ngoài giá thú do sinh đẻ tự nhiên với trường hợp người phụ nữ sống độc thân áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con. Xem xét pháp luật hộ tịch có liên quan, việc khai sinh cho trẻ do người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và việc khai sinh cho trẻ sinh ra ngoài giá thú do người mẹ sinh đẻ tự nhiên đều được quy định như nhau.

2.2. Bất cập liên quan đến quy định về xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp có vi phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đúng quy định của pháp luật: Theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, căn cứ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dựa trên yếu tố huyết thống và thời kỳ hôn nhân hợp pháp của người nhờ mang thai hộ. Đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của cha mẹ pháp lý đồng thời là cha mẹ sinh học di truyền, nhưng sự kiện sinh đẻ không phải do người vợ thực hiện mà do người phụ nữ mang thai hộ thực hiện. Điều kiện để có thể thực hiện việc mang thai hộ là cặp vợ chồng nhờ thai hộ phải là cặp vợ chồng hợp pháp theo quy định của pháp luật, việc thụ thai trong ống nghiệm phải tiến hành trong thời kỳ hôn nhân, mọi hành vi mang thai hộ diễn ra ngoài thời kỳ hôn nhân đều là trái quy định của pháp luật Việt Nam. Con sinh ra nhờ vào việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ trong trường hợp người mang thai hộ thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cụ thể là thụ tinh trong ống nghiệm, trong thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Do đó, nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 94 là một quy định trung tính bảo đảm bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong xác lập quan hệ pháp lý cha - con, mẹ - con theo Luật Bình đẳng giới năm 2006.

- Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vi phạm quy định của pháp luật: Nguyên tắc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ được áp dụng khi các bên tuân thủ quy định mà pháp luật đặt ra. Khi có sự vi phạm pháp luật về mang thai hộ thì việc xác định quan hệ cha, mẹ, con không thể áp dụng theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong khi đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể cách thức giải quyết hậu quả pháp lý khi vi phạm pháp luật về mang thai hộ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hoặc trường hợp có hành vi vi phạm điều cấm về mang thai hộ vì mục đích thương mại. Để giải quyết vấn đề này, có thể áp dụng Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, nếu người phụ nữ độc thân mang thai do hỗ trợ sinh sản và sinh con thì người này sẽ được xác định là mẹ (cho dù con sinh ra không mang huyết thống của người này), nếu người mẹ có chồng hợp pháp thì nguyên tắc suy đoán cha mẹ cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được áp dụng, dẫn đến người chồng của người mẹ sẽ được xác định là cha hợp pháp của trẻ.

Trường hợp vi phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, người cha dự định đã cung cấp tinh trùng để thực hiện thụ thai luôn có quyền truy nhận con trên cơ sở chứng cứ di truyền căn cứ theo khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quy định trung tính này có được áp dụng cho người mẹ dự định đã cung cấp trứng để thực hiện mang thai hộ hay không?

Câu hỏi đặt ra là, nếu người mẹ dự định trong trường hợp mang thai hộ trái pháp luật hoặc người mẹ có quan hệ di truyền (vì lý do nhầm lẫn y tế) muốn khởi kiện tại Tòa án thì có thể thực hiện quyền xác nhận con căn cứ theo khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không? Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định nguyên tắc “người mẹ đương nhiên” (mater semper certa est - danh tính của người mẹ luôn được xác định) như nguyên tắc của Luật La Mã cũ dựa trên thực tế sinh học - người sinh ra con chỉ có thể là mẹ, việc xác định quan hệ huyết thống mẹ - con không thực sự bị ràng buộc bởi thực tế người mẹ có hay không có sự kiện mang thai và sinh con. Do đó, theo tác giả, quyền khởi kiện của người mẹ di truyền là có căn cứ để bảo đảm sự bình đẳng giữa nam và nữ khi áp dụng quy định trung tính tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp có quyền khởi kiện, câu hỏi đặt ra là chứng cứ về quan hệ di truyền hay chứng cứ thai nghén và sinh đẻ được ưu tiên, nếu cả hai bà mẹ sinh học đều muốn nhận bé làm con hợp pháp?

Từ các phân tích trên cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam có quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, các quy định vẫn cho thấy khả năng dẫn đến phân biệt về giới trên thực tế giữa người mẹ dự định và cha dự định; giữa người mẹ di truyền và người cha di truyền trong quá trình xác định quan hệ huyết thống với trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định liên quan đến mang thai hộ nhưng không vi phạm điều cấm (không vì mục đích thương mại), một số quốc gia như Bỉ, Anh, Pháp sử dụng giải pháp nhận nuôi con nuôi để xác lập quan hệ cha - con, mẹ - con hợp pháp với trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ[5], pháp luật Việt Nam có thể tham khảo giải pháp này. Tuy nhiên, nếu người vợ tìm kiếm con thông qua đường nhận nuôi con nuôi, trong khi người chồng sử dụng quyền khởi kiện tại Tòa án thì pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam hiện hành cũng không cho phép xác lập quan hệ mẹ - con cho dù người mẹ mang thai hộ đồng ý cho nhận con nuôi vì Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định điều kiện một người chỉ là con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng. Đối với vấn đề này, giải pháp sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010 theo hướng, cho phép người vợ nhờ mang thai hộ được nhận con nuôi vẫn mang tính tạm thời và không làm giảm bớt phân biệt đối xử với người vợ nhờ mang thai hộ. Bởi vì, yêu cầu nhận nuôi con nuôi có thể bị từ chối bởi người mang thai hộ, trong khi người chồng vẫn luôn có thể truy nhận con tại Tòa án do có chứng cứ về quan hệ di truyền, cho dù người mang thai hộ có thừa nhận hay không thừa nhận quan hệ cha - con.

3. Giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con đảm bảo bình đẳng giới

Có thể thấy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có các quy định trung tính về giới cũng như các quy định dành riêng cho nữ về xác định cha, mẹ cho con. Trong khi một số quy định trung tính về giới lại chưa bảo đảm được bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng khi xác định con chung, thì một số quy định dành riêng cho giới nữ lại gây ra sự phân biệt giữa nhóm nữ thiểu số là phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật sinh sản với nhóm nữ đa số sinh con do sự kiện sinh đẻ tự nhiên. Do đó, cần thường xuyên rà soát các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới thực chất, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình - lĩnh vực có yếu tố nhạy cảm về giới.

Từ các phân tích trên, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con bảo đảm bình đẳng giới theo Luật Bình đẳng giới năm 2006, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho sinh ra trong thời kỳ hôn nhân theo khoản 1 Điều 88 mà không quy định minh thị về xác định mẹ cho con trong trường hợp người mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Do đó, cần bổ sung một điều khoản quy định minh thị về xác định mẹ cho con trên cơ sở sự kiện sinh đẻ, không phân biệt mẹ có hôn nhân hợp pháp hay không, cụ thể:

“Điều 88-1. Xác định mẹ

Quan hệ giữa mẹ và con được xác lập, đối với người mẹ, theo tên người mẹ được ghi trong giấy khai sinh của trẻ”.

Sau khi đã bổ sung nguyên tắc chung về xác định mẹ cho con do có sự kiện sinh đẻ trực tiếp như trên, cần xóa bỏ quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ hai, trường hợp mang thai hộ vi phạm quy định pháp luật nhưng không vi phạm các điều kiện cấm, nhằm khắc phục sự phân biệt đối xử về quyền truy nhận con giữa người cha dự định và người mẹ dự định, trong khi người cha có thể đăng ký nhận con tự nguyện không có tranh chấp với sự đồng ý của người mẹ hợp pháp (người mang thai hộ), thì việc đăng ký nhận mẹ - con tự nguyện không thể thực hiện được đối với người mẹ dự định. Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên bổ sung quy định cho phép cha mẹ dự định được đăng ký nhận con trước khi con được sinh ra, cho phép người mẹ dự định và người cha dự định trở thành cha mẹ hợp pháp của trẻ và bảo đảm người mẹ được công nhận giống như người cha.

Thứ ba, trường hợp cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ trái pháp luật do vi phạm điều cấm, họ không được đăng ký nhận con theo thủ tục hộ tịch mà muốn nhận nuôi con nuôi, người mẹ mang thai hộ cũng đồng ý cho nhận con nuôi, để tránh rào cản do Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều kiện một người chỉ là con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 theo hướng: “3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng, trừ trường hợp người đó được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được thực hiện bởi hai người là vợ chồng đó”./.

TS. Hoàng Thị Hải Yến

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Theo khoản 21 Điều 3 Luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.

[2]. Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tr. 249.

[4]. Khoản 21 Điều 3, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 3, khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[5]. Hoàng Thị Hải Yến (2023), Mang thai hộ và xác định quan hệ huyết thống - So sánh pháp luật Bỉ, Pháp, Anh và Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: