Thứ tư 28/10/2026 21:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới góc nhìn về bình đẳng giới

Bài viết tập trung phân tích các quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dưới góc độ pháp luật bình đẳng giới, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ cho cho con nhằm bảo đảm và thúc đẩy bình đẳng giới trên thực tế trong lĩnh vực gia đình.

1. Quy định pháp luật về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 từ góc độ pháp luật bình đẳng giới

Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình là một trong những nội dung bình đẳng giới cơ bản và quan trọng. Các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình nói chung và quy định pháp luật về xác định cha, mẹ cho con nói riêng đóng vai trò quan trọng để bảo đảm bình đẳng giới trong gia đình cũng như bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Quy định về xác định cha, mẹ cho con tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có nội dung không thể tách rời các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới cũng như những quy định cụ thể về bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình của Luật Bình đẳng giới năm 2006.

Theo khoản 3 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006: “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”. Bình đẳng giới phải được biểu hiện một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Luật Bình đẳng giới năm 2006 còn quy định các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới tại Điều 6 và nội dung bình đẳng giới trong gia đình tại khoản 1 Điều 18, gồm cả bình đẳng giữa vợ và chồng trong xác định con chung. Nói cách khác, giữa quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nói chung và quy định về xác định cha, mẹ cho con nói riêng cần đồng bộ với các quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006, đặc biệt là nguyên tắc “bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật” (khoản 5 Điều 6) trong xác định cha, mẹ cho con.

1.1. Các quy phạm pháp luật trung tính về giới trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con

Thông thường, đa phần các quy phạm pháp luật trong các ngành luật đều là các quy phạm pháp luật trung tính về giới nhằm bảo đảm sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa nam và nữ, là cơ sở để đạt được sự bình đẳng thực sự trên thực tế. Về xác định cha, mẹ cho con, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng có những quy định trung tính mang tính bình đẳng chung cho cả nữ và nam để xác lập quan hệ pháp lý cha, mẹ với trẻ được sinh ra. Cụ thể:

Thứ nhất, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và trong trường hợp sinh đẻ tự nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng” (đoạn 1 khoản 1 Điều 88); “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng” (đoạn 3 khoản 1 Điều 88); “trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định” (khoản 2 Điều 88).

Thứ hai, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này” (khoản 1 Điều 93); “việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra” (khoản 3 Điều 93).

Cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp có thể sinh con tự nhiên hoặc do người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản[1]. Trong cả hai trường hợp này, con đều do người vợ trực tiếp sinh ra. Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định việc xác định cha, mẹ cho con chung của vợ chồng theo nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho con căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của vợ chồng và sự kiện sinh đẻ của người vợ. Hơn nữa, theo quy định tại khoản 1 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng được áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho trường hợp xác định cha, mẹ cho con chung khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp. Người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được mặc nhiên xác định là mẹ hợp pháp của trẻ sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, kể cả khi người vợ là người nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người hiến tặng; người chồng được xác định là cha hợp pháp của trẻ được sinh ra, kể cả khi người chồng không có tinh trùng.

Thứ ba, về nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.

Khác với hai trường hợp, cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp sinh con tự nhiên hoặc do người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, trong trường hợp cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định một nguyên tắc suy đoán pháp lý riêng để xác định cha, mẹ cho con tại Điều 94. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con (khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ). Do đó, không thể áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý cha, mẹ cho con sinh ra nhờ mang thai hộ dựa trên sự kiện sinh đẻ của người vợ mà phải dựa trên thời điểm con được sinh ra, tức là sự kiện sinh đẻ này phải của người phụ nữ mang thai hộ. Căn cứ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng dựa trên thời kỳ hôn nhân hợp pháp của cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp thực hiện nhờ mang thai hộ và sự kiện sinh đẻ, nhưng sự kiện sinh đẻ làm phát sinh quan hệ cha, mẹ với trẻ được sinh ra nhờ mang thai hộ là sự kiện sinh con của người mang thai hộ, không phải là sự kiện sinh con của người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh.

Thứ tư, trường hợp xác định cha, mẹ cho con ngoài giá thú, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình” (khoản 1 Điều 89) và “cha, mẹ có quyền nhận con, kể cả trong trường hợp con đã chết. Trong trường hợp người đang có vợ, chồng mà nhận con thì việc nhận con không cần phải có sự đồng ý của người kia” (Điều 91).

Việc áp dụng các quy định về xác định cha, mẹ cho con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép cơ quan có thẩm quyền xác định được ai là cha, mẹ của trẻ được sinh ra. Để quan hệ cha - con, mẹ - con hợp pháp, cần thực hiện thủ tục đăng ký khai sinh cho trẻ theo Luật Hộ tịch năm 2014. Theo đó, việc xác định tư cách cha, mẹ, con được thực hiện qua thủ tục đăng ký khai sinh (một loại thủ tục đăng ký hộ tịch). Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh (Điều 13 Luật Hộ tịch năm 2014), trừ một số trường hợp đặc biệt. Người khai sinh cho trẻ là cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em (khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014). Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh[2]. Kể cả người chồng không có mặt khi khai sinh hoặc có mặt nhưng không có ý kiến gì thì người chồng mặc nhiên được xác định là cha của đứa trẻ đó và tên người chồng được ghi vào giấy khai sinh, bằng thủ tục đăng ký khai sinh, việc xác định cha, mẹ cho con được thực hiện[3]. Thống nhất với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014 cũng đã quy định theo hướng xem đăng ký khai sinh là một trường hợp xác nhận tình trạng nhân thân của một người khi xảy ra sự kiện hộ tịch về sinh đẻ, việc xác nhận sự kiện sinh đẻ qua đăng ký khai sinh cho phép xác định tình trạng nhân thân của một cá nhân rằng ai là cha, mẹ của người đã được sinh ra. Việc khai sinh là bắt buộc do Nhà nước quy định, không phụ thuộc vào ý chí của cha, mẹ và do cơ quan hộ tịch tiến hành, trong trường hợp cặp vợ chồng hợp pháp sinh đẻ tự nhiên, do mang thai hộ hay do người vợ áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

1.2. Quy định dành riêng cho nữ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con

Trong việc xác định cha, mẹ cho con, rõ ràng sự khác biệt về giới tính giữa nữ và nam với tư cách là vợ và chồng là không thể loại bỏ. Phụ nữ và nam giới có đặc điểm sinh học riêng khi tham gia vào quá trình sinh sản. Về nguyên tắc, các quy định dành riêng cho nữ hoặc nam có thể xuất phát từ nguyên nhân đặc thù khác biệt về giới tính không thể thay đổi hoặc do định kiến giới còn tồn tại, dẫn đến phải điều chỉnh riêng nhằm “lấp đầy” sự khác biệt về giới tính hoặc bảo đảm bình đẳng thực chất về quyền và nghĩa vụ giữa nam và nữ. Liên quan đến nữ giới, chính giới tính của phụ nữ tạo cho họ thiên chức làm mẹ. Điều này dẫn đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định pháp luật dành riêng cho nữ khi họ thực hiện chức năng làm mẹ bằng sinh đẻ tự nhiên hoặc bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc khi phụ nữ tham gia vào quá trình mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm xác định người mẹ hợp pháp cho trẻ được sinh ra. Cụ thể:

- Trường hợp xác định cha, mẹ cho con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp và trong trường hợp sinh đẻ tự nhiên, tại đoạn 2 khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”.

- Trường hợp xác định mẹ cho con khi người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”.

- Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có nhiều quy định riêng cho phụ nữ là người mang thai hộ, ví dụ, khoản 3 Điều 95 quy định về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với bên mang thai hộ, Điều 97 quy định về quyền, nghĩa vụ của bên mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

2. Một số bất cập của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con từ góc độ pháp luật bình đẳng giới

2.1. Bất cập liên quan đến quy định về xác định mẹ cho con trong trường hợp cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp

- Trường hợp người mẹ sinh con tự nhiên ngoài giá thú: Do không có thời kỳ hôn nhân khi người mẹ sinh con tự nhiên ngoài giá thú nên không thể áp dụng nguyên tắc suy đoán pháp lý cha, mẹ cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Luật này cũng không có bất kỳ điều khoản nào quy định về xác định mẹ hợp pháp cho con sinh ra ngoài giá thú do sự kiện sinh đẻ tự nhiên.

Theo Luật Hộ tịch năm 2014, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em (khoản 1 Điều 15). Khi đi đăng ký khai sinh, người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh (khoản 1 Điều 16). Có thể thấy, Luật Hộ tịch năm 2014 đã gián tiếp thừa nhận người mẹ hợp pháp của trẻ được sinh ra là người phụ nữ có sự kiện sinh đẻ ra trẻ đó.

- Người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản: Trong cùng hoàn cảnh sinh con ngoài giá thú, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho phép người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được nhận tinh trùng hoặc nhận phôi nếu không có noãn hoặc noãn không bảo đảm chất lượng để thụ thai để thực hiện sinh con dẫn đến khả năng đứa con sinh ra có thể không cùng huyết thống với người phụ nữ độc thân đã mang thai và sinh ra trẻ. Việc xác định mẹ cho con trong trường hợp này căn cứ vào sự tự nguyện của người phụ nữ độc thân đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và sự kiện sinh đẻ của họ[4].

Theo khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người phụ nữ độc thân đương nhiên là mẹ hợp pháp của đứa trẻ và chỉ tồn tại quan hệ pháp lý mẹ - con. Trẻ được sinh ra trong trường hợp này không có cha pháp lý bởi việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con được sinh ra (khoản 3 Điều 93). Nghĩa là người cho tinh trùng, người cho phôi có cùng huyết thống với đứa trẻ được sinh ra nhưng về mặt pháp luật, họ không được công nhận là cha, mẹ của đứa trẻ.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật hôn nhân và gia đình có sự thống nhất với pháp luật hộ tịch theo hướng nhìn nhận việc một người phụ nữ có sự kiện sinh đẻ là cơ sở để xác định người phụ nữ đó là mẹ hợp pháp của trẻ được sinh ra, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của người phụ nữ (đang độc thân hay đang có chồng hợp pháp), cũng như không phụ thuộc vào hình thức sinh đẻ (sinh con tự nhiên hay sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản).

Xét ở góc độ pháp luật bình đẳng giới, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là một quy định dành riêng cho giới nữ với 02 điều kiện: (i) Phải là người phụ nữ sống độc thân; (ii) Phải là người phụ nữ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định nguyên tắc pháp lý chung về xác định mẹ cho con do sự kiện sinh đẻ.

Việc quy định như trên chỉ đem lại mặt bằng ưu tiên hạn hẹp cho nhóm phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, dẫn đến cách hiểu là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn có sự phân biệt giữa trường hợp phụ nữ sinh con ngoài giá thú do sinh đẻ tự nhiên với trường hợp người phụ nữ sống độc thân áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con. Xem xét pháp luật hộ tịch có liên quan, việc khai sinh cho trẻ do người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và việc khai sinh cho trẻ sinh ra ngoài giá thú do người mẹ sinh đẻ tự nhiên đều được quy định như nhau.

2.2. Bất cập liên quan đến quy định về xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp có vi phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đúng quy định của pháp luật: Theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, căn cứ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dựa trên yếu tố huyết thống và thời kỳ hôn nhân hợp pháp của người nhờ mang thai hộ. Đứa trẻ được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của cha mẹ pháp lý đồng thời là cha mẹ sinh học di truyền, nhưng sự kiện sinh đẻ không phải do người vợ thực hiện mà do người phụ nữ mang thai hộ thực hiện. Điều kiện để có thể thực hiện việc mang thai hộ là cặp vợ chồng nhờ thai hộ phải là cặp vợ chồng hợp pháp theo quy định của pháp luật, việc thụ thai trong ống nghiệm phải tiến hành trong thời kỳ hôn nhân, mọi hành vi mang thai hộ diễn ra ngoài thời kỳ hôn nhân đều là trái quy định của pháp luật Việt Nam. Con sinh ra nhờ vào việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ trong trường hợp người mang thai hộ thông qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, cụ thể là thụ tinh trong ống nghiệm, trong thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. Do đó, nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Điều 94 là một quy định trung tính bảo đảm bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong xác lập quan hệ pháp lý cha - con, mẹ - con theo Luật Bình đẳng giới năm 2006.

- Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo vi phạm quy định của pháp luật: Nguyên tắc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chỉ được áp dụng khi các bên tuân thủ quy định mà pháp luật đặt ra. Khi có sự vi phạm pháp luật về mang thai hộ thì việc xác định quan hệ cha, mẹ, con không thể áp dụng theo Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong khi đó, pháp luật về hôn nhân và gia đình không quy định cụ thể cách thức giải quyết hậu quả pháp lý khi vi phạm pháp luật về mang thai hộ để xác định cha, mẹ cho con trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo hoặc trường hợp có hành vi vi phạm điều cấm về mang thai hộ vì mục đích thương mại. Để giải quyết vấn đề này, có thể áp dụng Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, nếu người phụ nữ độc thân mang thai do hỗ trợ sinh sản và sinh con thì người này sẽ được xác định là mẹ (cho dù con sinh ra không mang huyết thống của người này), nếu người mẹ có chồng hợp pháp thì nguyên tắc suy đoán cha mẹ cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân được áp dụng, dẫn đến người chồng của người mẹ sẽ được xác định là cha hợp pháp của trẻ.

Trường hợp vi phạm pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, người cha dự định đã cung cấp tinh trùng để thực hiện thụ thai luôn có quyền truy nhận con trên cơ sở chứng cứ di truyền căn cứ theo khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, quy định trung tính này có được áp dụng cho người mẹ dự định đã cung cấp trứng để thực hiện mang thai hộ hay không?

Câu hỏi đặt ra là, nếu người mẹ dự định trong trường hợp mang thai hộ trái pháp luật hoặc người mẹ có quan hệ di truyền (vì lý do nhầm lẫn y tế) muốn khởi kiện tại Tòa án thì có thể thực hiện quyền xác nhận con căn cứ theo khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không? Mặt khác, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không quy định nguyên tắc “người mẹ đương nhiên” (mater semper certa est - danh tính của người mẹ luôn được xác định) như nguyên tắc của Luật La Mã cũ dựa trên thực tế sinh học - người sinh ra con chỉ có thể là mẹ, việc xác định quan hệ huyết thống mẹ - con không thực sự bị ràng buộc bởi thực tế người mẹ có hay không có sự kiện mang thai và sinh con. Do đó, theo tác giả, quyền khởi kiện của người mẹ di truyền là có căn cứ để bảo đảm sự bình đẳng giữa nam và nữ khi áp dụng quy định trung tính tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp có quyền khởi kiện, câu hỏi đặt ra là chứng cứ về quan hệ di truyền hay chứng cứ thai nghén và sinh đẻ được ưu tiên, nếu cả hai bà mẹ sinh học đều muốn nhận bé làm con hợp pháp?

Từ các phân tích trên cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam có quy định về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, các quy định vẫn cho thấy khả năng dẫn đến phân biệt về giới trên thực tế giữa người mẹ dự định và cha dự định; giữa người mẹ di truyền và người cha di truyền trong quá trình xác định quan hệ huyết thống với trẻ được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản hoặc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Đối với các trường hợp vi phạm quy định liên quan đến mang thai hộ nhưng không vi phạm điều cấm (không vì mục đích thương mại), một số quốc gia như Bỉ, Anh, Pháp sử dụng giải pháp nhận nuôi con nuôi để xác lập quan hệ cha - con, mẹ - con hợp pháp với trẻ sinh ra nhờ mang thai hộ[5], pháp luật Việt Nam có thể tham khảo giải pháp này. Tuy nhiên, nếu người vợ tìm kiếm con thông qua đường nhận nuôi con nuôi, trong khi người chồng sử dụng quyền khởi kiện tại Tòa án thì pháp luật về nuôi con nuôi của Việt Nam hiện hành cũng không cho phép xác lập quan hệ mẹ - con cho dù người mẹ mang thai hộ đồng ý cho nhận con nuôi vì Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định điều kiện một người chỉ là con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng. Đối với vấn đề này, giải pháp sửa đổi, bổ sung Luật Nuôi con nuôi năm 2010 theo hướng, cho phép người vợ nhờ mang thai hộ được nhận con nuôi vẫn mang tính tạm thời và không làm giảm bớt phân biệt đối xử với người vợ nhờ mang thai hộ. Bởi vì, yêu cầu nhận nuôi con nuôi có thể bị từ chối bởi người mang thai hộ, trong khi người chồng vẫn luôn có thể truy nhận con tại Tòa án do có chứng cứ về quan hệ di truyền, cho dù người mang thai hộ có thừa nhận hay không thừa nhận quan hệ cha - con.

3. Giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con đảm bảo bình đẳng giới

Có thể thấy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có các quy định trung tính về giới cũng như các quy định dành riêng cho nữ về xác định cha, mẹ cho con. Trong khi một số quy định trung tính về giới lại chưa bảo đảm được bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng khi xác định con chung, thì một số quy định dành riêng cho giới nữ lại gây ra sự phân biệt giữa nhóm nữ thiểu số là phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật sinh sản với nhóm nữ đa số sinh con do sự kiện sinh đẻ tự nhiên. Do đó, cần thường xuyên rà soát các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật, tiến tới mục tiêu bình đẳng giới thực chất, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình - lĩnh vực có yếu tố nhạy cảm về giới.

Từ các phân tích trên, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về xác định cha, mẹ cho con bảo đảm bình đẳng giới theo Luật Bình đẳng giới năm 2006, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ cho sinh ra trong thời kỳ hôn nhân theo khoản 1 Điều 88 mà không quy định minh thị về xác định mẹ cho con trong trường hợp người mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Do đó, cần bổ sung một điều khoản quy định minh thị về xác định mẹ cho con trên cơ sở sự kiện sinh đẻ, không phân biệt mẹ có hôn nhân hợp pháp hay không, cụ thể:

“Điều 88-1. Xác định mẹ

Quan hệ giữa mẹ và con được xác lập, đối với người mẹ, theo tên người mẹ được ghi trong giấy khai sinh của trẻ”.

Sau khi đã bổ sung nguyên tắc chung về xác định mẹ cho con do có sự kiện sinh đẻ trực tiếp như trên, cần xóa bỏ quy định tại khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thứ hai, trường hợp mang thai hộ vi phạm quy định pháp luật nhưng không vi phạm các điều kiện cấm, nhằm khắc phục sự phân biệt đối xử về quyền truy nhận con giữa người cha dự định và người mẹ dự định, trong khi người cha có thể đăng ký nhận con tự nguyện không có tranh chấp với sự đồng ý của người mẹ hợp pháp (người mang thai hộ), thì việc đăng ký nhận mẹ - con tự nguyện không thể thực hiện được đối với người mẹ dự định. Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên bổ sung quy định cho phép cha mẹ dự định được đăng ký nhận con trước khi con được sinh ra, cho phép người mẹ dự định và người cha dự định trở thành cha mẹ hợp pháp của trẻ và bảo đảm người mẹ được công nhận giống như người cha.

Thứ ba, trường hợp cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ trái pháp luật do vi phạm điều cấm, họ không được đăng ký nhận con theo thủ tục hộ tịch mà muốn nhận nuôi con nuôi, người mẹ mang thai hộ cũng đồng ý cho nhận con nuôi, để tránh rào cản do Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định về điều kiện một người chỉ là con nuôi của một người hoặc của hai người là vợ chồng, cần sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 theo hướng: “3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng, trừ trường hợp người đó được sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được thực hiện bởi hai người là vợ chồng đó”./.

TS. Hoàng Thị Hải Yến

Trường Đại học Luật, Đại học Huế

[1]. Theo khoản 21 Điều 3 Luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hoặc thụ tinh trong ống nghiệm”.

[2]. Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 04/2020/TT-BTP ngày 28/5/2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[3]. Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tr. 249.

[4]. Khoản 21 Điều 3, khoản 2 Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 3, khoản 1 và điểm c khoản 3 Điều 5 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

[5]. Hoàng Thị Hải Yến (2023), “Mang thai hộ và xác định quan hệ huyết thống - So sánh pháp luật Bỉ, Pháp, Anh và Việt Nam”, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 396), tháng 1/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Sử dụng đất kết hợp đa mục đích cho phát triển điện mặt trời tại Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Nghị quyết số 70-NQ/TW[1] xác định năng lượng tái tạo là ưu tiên chiến lược trong chuyển dịch cơ cấu năng lượng quốc gia. Trong bối cảnh điện mặt trời cần diện tích đất hoặc mặt nước lớn, cơ chế sử dụng đất kết hợp đa mục đích tại Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 được kỳ vọng góp phần khai thác hiệu quả quỹ đất. Nghiên cứu đánh giá mức độ đồng bộ, tính khả thi và khả năng dự báo của khung pháp lý đất đai hiện hành, trong mối liên hệ với pháp luật về xây dựng, môi trường và điện lực đối với mô hình này. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp phân tích thể chế liên ngành, nghiên cứu làm rõ việc cụ thể hóa hai yêu cầu tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 218 Luật Đất đai năm 2024 đối với dự án phát điện thương mại có vòng đời kéo dài hàng chục năm, nhận diện bốn nhóm bất cập về quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đồng thời, đề xuất định hướng hoàn thiện theo ba giai đoạn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Hoàn thiện pháp luật về xử lý trường hợp trúng đấu giá quyền sử dụng đất nhưng vi phạm nghĩa vụ tài chính

Tóm tắt: Tình trạng người trúng đấu giá quyền sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ tài chính và hành vi thao túng đấu giá gây thất thu ngân sách, làm sai lệch giá đất, ảnh hưởng đến tính minh bạch của thị trường bất động sản. Nghiên cứu đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về xử lý các hành vi này trên cơ sở phân tích quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng. Bằng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh quy phạm pháp luật và nghiên cứu tình huống, kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật còn những bất cập về xử lý tiền đặt trước, hủy kết quả trúng đấu giá, xác định thời hạn cấm tham gia đấu giá, kiểm soát hành vi né tránh chế tài thông qua pháp nhân trung gian và giải quyết hậu quả sau khi hủy kết quả đấu giá. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện quy định về căn cứ, điều kiện và hậu quả pháp lý của các biện pháp xử lý; tăng cường kiểm soát lịch sử vi phạm, bảo đảm tính minh bạch và cạnh tranh trong đấu giá quyền sử dụng đất.
Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Hoàn thiện quy định về đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu chính sách và tác động thực tế của quy định pháp luật sau khi tổ chức thi hành. Nghiên cứu khái quát các tiêu chí đánh giá hiệu quả văn bản quy phạm pháp luật, phân tích những quy định tương ứng trong dự thảo Luật Văn bản quy phạm pháp luật1 (dự thảo Luật). Nghiên cứu cho thấy, mặc dù dự thảo Luật bước đầu xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động này, nhưng một số quy định còn hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí, phương thức đánh giá, xác định rõ trách nhiệm phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế sử dụng kết quả đánh giá để điều chỉnh, hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Hoàn thiện cơ chế công nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc nông, lâm trường trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)

Tóm tắt: Trong quá trình sửa đổi Luật Đất đai, việc xử lý đất có nguồn gốc nông, lâm trường đặt ra yêu cầu hoàn thiện điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cơ chế bảo đảm thực hiện quyền này trên thực tế. Nghiên cứu phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành, đối chiếu với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)1 (dự thảo Luật). Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc công nhận quyền sử dụng đất còn phụ thuộc đáng kể vào công tác rà soát, lập phương án sử dụng đất và xử lý quỹ đất có nguồn gốc nông, lâm nghiệp. Những vướng mắc tập trung ở tiến độ thực hiện, điều kiện công nhận, mối quan hệ với các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận và cơ chế xử lý khi công ty không thực hiện trách nhiệm. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định của dự thảo Luật về điều kiện công nhận quyền, sự tham gia của người đang sử dụng đất và cơ chế tiếp tục xử lý quỹ đất, nhằm bảo đảm khả năng thực hiện quyền của người đang sử dụng đất.
Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế xử lý vật chứng trong tố tụng hình sự Việt Nam

Tóm tắt: Xử lý vật chứng là hoạt động xác định địa vị pháp lý của vật chứng, đồng thời, tác động trực tiếp đến giá trị chứng minh và quyền tài sản. Nghiên cứu phân tích Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2021, 2025 (BLTTHS năm 2015) trong mối liên hệ với Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2025 (BLHS năm 2015) và pháp luật dân sự, tập trung làm rõ căn cứ tịch thu, thẩm quyền, hình thức và thủ tục xử lý; tiêu chí xác định công cụ, phương tiện phạm tội và lỗi của chủ sở hữu; cơ chế xử lý tài sản chung, tài sản thế chấp; phạm vi, trình tự giao vật chứng đặc thù cho cơ quan chuyên ngành và việc bảo đảm quyền của người thứ ba. Trên cơ sở nhận diện các bất cập, nghiên cứu đề xuất sửa đổi Điều 85, Điều 106 BLTTHS năm 2015, hoàn thiện thủ tục đối với tài sản bảo đảm và ban hành hướng dẫn liên ngành nhằm thống nhất hoạt động giao, tiếp nhận, bảo quản và xử lý vật chứng.
Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam - Từ kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý đất đai, việc hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai cần được đặt trong mối quan hệ với hoạt động công chứng, cơ sở dữ liệu đất đai và cơ chế xác lập quyền đối với bất động sản (BĐS). Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận, phân tích các mô hình đăng ký đất đai và tham khảo kinh nghiệm pháp luật của Pháp, Đức, Trung Quốc…, nghiên cứu làm rõ vai trò của hoạt động công chứng trong giao dịch về quyền sử dụng đất (QSDĐ), từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký đất đai ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản lý đất đai.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng đóng vai trò quan trọng, được ứng dụng rộng rãi trong quản trị công và hoạt động lập pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới và Việt Nam. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, nguyên tắc và phạm vi ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, AI có thể hỗ trợ hiệu quả nhiều công đoạn như xử lý dữ liệu, phân tích chính sách, rà soát văn bản, tổng hợp ý kiến và hỗ trợ kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, AI chỉ nên được sử dụng như công cụ hỗ trợ dưới sự kiểm soát của con người, không thay thế thẩm quyền, trách nhiệm chính trị, pháp lý và trách nhiệm giải trình của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động lập pháp. Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng AI trong hoạt động xây dựng pháp luật tại Việt Nam.
Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.

Theo dõi chúng tôi trên: