Thứ ba 10/03/2026 20:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền cư trú và quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài

Tóm tắt: Trong bài viết này, tác giả giới thiệu về quyền cư trú và quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài trong pháp luật Việt Nam, tập trung vào những điểm mới về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài trong Luật Nhà ở năm 2014.


Abstract: The author of this article introduces the domicile right and right of house ownership in Vietnam of foreigners in Vietnamese law, especially new issues on house ownership in Vietnam of foreigner in the Housing Law of 2014.

1. Thuật ngữ người nước ngoài và sự mở rộng quyền cư trú của người nước ngoài trong pháp luật Việt Nam

1.1. Thuật ngữ người nước ngoài

Khoản 1 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định: “Người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”. Theo khoản 5 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Quốc tịch), “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốc tịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam”. Theo đó có thể hiểu, người nước ngoài là những người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm 02 nhóm: Công dân nước ngoài và người không quốc tịch.

Bên cạnh đó, Luật Quốc tịch giải thích: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 3 Điều 3); “người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống và con, cháu của họ đang cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” (khoản 4 Điều 3). Như vậy, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể là công dân Việt Nam, có thể không phải là công dân Việt Nam.

So sánh nội hàm thuật ngữ người nước ngoài với thuật ngữ người Việt Nam định cư ở nước ngoài, chúng ta thấy có sự giao thoa với nhau. Do đó, trong bài viết này, tác giả sử dụng thuật ngữ người nước ngoài với ý nghĩa bao hàm cả một bộ phận người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhóm người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam không thuộc phạm vi của bài viết này.

1.2. Sự mở rộng quyền cư trú của người nước ngoài trong pháp luật Việt Nam

- Quyền cư trú chính trị của người nước ngoài tại Việt Nam: Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đề cập đến quyền cư trú của người nước ngoài. Đến Hiến pháp năm 1959, Nhà nước chỉ mới thừa nhận cho người nước ngoài quyền cư trú chính trị: “Những người nước ngoài vì đấu tranh cho tự do, cho chính nghĩa, cho hòa bình và cho sự nghiệp khoa học mà bị bức hại đều được Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép trú ngụ” (Điều 37). Quyền này tiếp tục được ghi nhận trong các bản hiến pháp sau đó: Điều 81 Hiến pháp năm 1980, Điều 82 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Điều 49 Hiến pháp năm 2013.

- Quyền cư trú của người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam: Kể từ Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), với tư tưởng đổi mới, Nhà nước đã coi người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[1], đồng thời đưa ra chính sách khuyến khích kêu gọi đầu tư của tổ chức, cá nhân nước ngoài vào công cuộc đổi mới xây dựng đất nước[2]. Song song với lời kêu gọi đầu tư là những cam kết bảo hộ của Nhà nước: “Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước”[3]. “Người nước ngoài cư trú ở Việt Nam... được Nhà nước bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng theo pháp luật Việt Nam”[4]. Cụ thể hóa những quy định này, ngày 22/6/1994, Quốc hội đã thông qua Luật về khuyến khích đầu tư trong nước. Theo đó, Điều 1 Luật này quy định: “Nhà nước bảo hộ và khuyến khích tổ chức, công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam”[5]. Như vậy, trong giai đoạn Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) có hiệu lực, bên cạnh quyền cư trú chính trị, Nhà nước còn thừa nhận quyền cư trú cho những người nước ngoài có hoạt động đầu tư phát triển kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên, giai đoạn này, Nhà nước mới chỉ dừng lại ở quyền cư trú chứ chưa thừa nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nước ngoài.

- Quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài: Kể từ ngày 20/11/2001, khi Nghị định số 81/2001/NĐ-CP ngày 05/11/2001 của Chính phủ về việc người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam (Nghị định số 81/2001/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành, thì quyền cư trú của một bộ phận người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được nâng lên thành quyền sở hữu nhà ở. Theo Nghị định này, những người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 3 (người về đầu tư lâu dài tại Việt Nam; người có công đóng góp với đất nước; nhà văn hóa, nhà khoa học có nhu cầu về hoạt động thường xuyên tại Việt Nam; người có nhu cầu về sống ổn định tại Việt Nam), thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam và có đủ các giấy tờ quy định tại Điều 6 thì “được mua nhà để ở” gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, nhưng chỉ được sở hữu 1 nhà để ở (căn hộ, căn nhà, nhà biệt thự). Tới Luật Nhà ở năm 2005, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được mở rộng hơn về đối tượng[6] và số lượng nhà ở được quyền sở hữu[7]. Đến Luật Nhà ở năm 2014, quyền sở hữu nhà ở của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được mở rộng gần bằng công dân Việt Nam[8].

- Quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài không là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài: Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài xuất hiện cùng với Nghị định số 81/2001/NĐ-CP. Sau đó, cùng với việc mở rộng quyền sở hữu nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Luật Nhà ở năm 2005 đã bắt đầu thừa nhận quyền sở hữu nhà ở cho người nước ngoài không là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài. Tuy nhiên, quyền sở hữu này chỉ dành cho cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở tại Việt Nam để cho người khác thuê và tồn tại trong một khoảng thời gian quy định trong Giấy chứng nhận đầu tư chứ không phải để ở[9]. Người nước ngoài không là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ chính thức được sở hữu nhà kể từ ngày 01/01/2009, khi Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03/6/2008 của Quốc Hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam có hiệu lực thi hành. So với Luật Nhà ở năm 2005, Nghị quyết số 19/2008/QH12 đã mở rộng hơn về nhiều vấn đề: Diện đối tượng được mua nhà[10], loại nhà ở được sở hữu[11] và thời hạn sở hữu nhà ở[12]. Sau 05 năm triển khai thực hiện thí điểm, quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài tiếp tục được mở rộng và chính thức được ghi nhận trong Luật Nhà ở năm 2014. Sự mở rộng này là một phần của việc mở rộng quyền sở hữu của người nước ngoài trong Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)[13].

2. Quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài trong Luật Nhà ở năm 2014

2.1. Điều kiện để người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Theo Điều 7 Luật Nhà ở năm 2014, bên cạnh tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước (khoản 1), người Việt Nam định cư ở nước ngoài (khoản 2) và cá nhân nước ngoài (khoản 3) cũng là những đối tượng được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tuy nhiên, không phải mọi người nước ngoài mà chỉ có những người thuộc một trong các trường hợp sau mới có khả năng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam: (i) Được phép nhập cảnh vào Việt Nam[14] (khoản 1 Điều 8 và điểm c khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014); (ii) Đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam (điểm a khoản 1 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014).

Mặc dù có đưa ra những điều kiện nhằm giới hạn, nhưng so với các văn bản trước đây trong cùng lĩnh vực thì Luật Nhà ở năm 2014 đã mở rộng hơn diện đối tượng là người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Đi kèm những điều kiện trên là các loại giấy tờ chứng minh được quy định trong Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở (Nghị định số 99/2015/NĐ-CP).

Đối với người nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài phải có những loại giấy tờ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP: Trường hợp mang hộ chiếu nước ngoài thì phải còn giá trị có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam vào hộ chiếu và kèm theo giấy tờ chứng minh còn quốc tịch Việt Nam hoặc giấy tờ xác nhận là người gốc Việt Nam do Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cơ quan quản lý về người Việt Nam ở nước ngoài cấp hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Đối với người nước ngoài không là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam thì phải có Giấy chứng nhận đầu tư và có nhà ở được xây dựng trong dự án (khoản 1 Điều 160 Luật Nhà ở năm 2014).

Đối với những người nước ngoài còn lại thì phải có những loại giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP: Đối với cá nhân nước ngoài thì phải có hộ chiếu còn giá trị có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của cơ quan quản lý xuất, nhập cảnh Việt Nam và không thuộc diện được quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo quy định của Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

2.2. Hình thức sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài

Theo điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản; mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật.

So với cá nhân trong nước, hình thức sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị hạn chế hơn vì không được có nhà ở thông qua hình thức đầu tư, nhận góp vốn (và có thể bị hạn chế thêm một số hình thức khác). Nhìn chung, người nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước Việt Nam công nhận quyền sở hữu nhà ở thông qua giao dịch dân sự chứ chưa thể có nhà ở thông qua hoạt động thương mại.

Đối với cá nhân nước ngoài không phải là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài thì được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thông qua hình thức đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam hoặc mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế nhà ở thương mại bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ[15]. Việc xác định khu vực cần đảm bảo an ninh, quốc phòng tại từng địa phương được giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp thực hiện và thông báo kết quả cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm căn cứ chỉ đạo Sở Xây dựng xác định cụ thể danh mục dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại trên địa bàn không cho phép tổ chức, cá nhân nước ngoài được quyền sở hữu nhà ở[16]. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân nước ngoài còn bị nghiêm cấm mua nhà ở để bán lại nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời[17]. Như vậy, người nước ngoài thuộc nhóm này có hình thức sở hữu nhà ở hạn chế hơn so với người nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài: Quyền sở hữu của họ bị hạn chế trong phạm vi đối tượng là nhà ở thương mại thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà ở.

2.3. Phạm vi quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài

Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 và khoản 1 Điều 161 Luật Nhà ở năm 2014 thì người nước ngoài là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại Việt Nam có các quyền như các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước.

Những người nước ngoài còn lại cũng được thừa nhận các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải chịu một số hạn chế quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 161. Những hạn chế này được đặt ra nhằm phòng ngừa nguy cơ hình thành “phố Tây”, “phố Tàu” trên lãnh thổ Việt Nam. Vấn đề này được hướng dẫn chi tiết trong Nghị định số 99/2015/NĐ-CP tại khoản 3 và khoản 4 Điều 76.

2.4. Thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài

Tương tự như quy định về hình thức sở hữu và phạm vi quyền sở hữu, thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người nước ngoài không là người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài cũng bị hạn chế hơn so với nhóm còn lại. Thời hạn sở hữu nhà ở tối đa không quá 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận[18] và có thể được gia hạn thêm một lần tối đa không quá 50 năm, kể từ khi hết hạn sở hữu nhà ở lần đầu ghi trên Giấy chứng nhận nếu có nhu cầu[19], trừ trường hợp cá nhân nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam quyết định buộc xuất cảnh thì không được gia hạn thêm thời hạn sở hữu[20].

Khi hết thời hạn sở hữu, nhà ở của người nước ngoài sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP. Theo đó, người nước ngoài phải chuyển quyền sở hữu nhà ở cho người có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, nếu không nhà ở sẽ thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam.

Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam hoặc kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì không bị giới hạn quyền sở hữu trong thời hạn nói trên mà được sở hữu nhà ở ổn định, lâu dài và có các quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam[21].

Vũ Hùng Đức

Đại học An ninh nhân dân

Tài liệu tham khảo:

[1]. Điều 9 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài”.

[2]. Điều 25 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001: “Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế; bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không bị quốc hữu hóa. Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước”.

[3]. Điều 75 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), tương ứng là Điều 18 Hiến pháp năm 2013.

[4]. Điều 81 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), tương ứng là Điều 48 Hiến pháp năm 2013.

[5]. Khoản 3 Điều 5 Luật về khuyến khích đầu tư trong nước năm 1994: “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư”.

[6]. Ngoài những đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 81/2001/NĐ-CP, khoản 1 Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 còn bổ sung “các đối tượng khác do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định”.

[7]. Quy định “được sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ” chỉ áp dụng đối với những đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005, còn những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật Nhà ở năm 2005 thì không bị khống chế bởi quy định này.

[8]. Xem khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014.

[9]. Khoản 1 Điều 125 Luật Nhà ở năm 2005: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê tại Việt Nam được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với nhà ở đó. Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong Giấy chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở”.

[10]. Không chỉ là những cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê mà tất cả những cá nhân nước ngoài có đầu tư trực tiếp tại Việt Nam (khoản 1 Điều 2); cá nhân nước ngoài có công đóng góp cho Việt Nam được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương, Huy chương; cá nhân nước ngoài có đóng góp đặc biệt cho Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ quyết định (khoản 2 Điều 2); cá nhân nước ngoài đang làm việc trong lĩnh vực kinh tế - xã hội có trình độ đại học hoặc tương đương trở lên và người có kiến thức, kỹ năng đặc biệt mà Việt Nam có nhu cầu (khoản 3 Điều 2) và cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam (khoản 4 Điều 2) cũng có quyền mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

[11]. Không chỉ được quyền sở hữu những căn hộ trong dự án do chính mình đầu tư mà còn được mua và sở hữu những căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại (khoản 2 Điều 1).

[12]. Thời hạn tối đa là 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Thời hạn này được ghi trong Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Trong thời hạn 12 tháng, kể từ khi hết thời hạn sở hữu nhà ở tại Việt Nam, đối tượng quy định tại khoản này phải bán hoặc tặng cho nhà ở đó (khoản 1 Điều 4).

[13]. Theo Hiến pháp năm 2013, “mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” (khoản 1 Điều 32) và “Nhà nước có chính sách phát triển nhà ở, tạo điều kiện để mọi người có chỗ ở” (khoản 3 Điều 59).

[14]. Điều 20 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 về điều kiện nhập cảnh quy định: “Người nước ngoài được nhập cảnh khi có đủ các điều kiện sau đây: 1. Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị đi lại quốc tế và thị thực; người nước ngoài nhập cảnh theo diện đơn phương miễn thị thực thì hộ chiếu phải còn thời hạn sử dụng ít nhất 06 tháng và phải cách thời điểm xuất cảnh Việt Nam lần trước ít nhất 30 ngày; 2. Không thuộc trường hợp chưa cho nhập cảnh quy định tại Điều 21 của Luật này”.

[15]. Xem khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014.

[16]. Xem khoản 2 Điều 75 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP.

[17]. Xem khoản 8 Điều 79 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP.

[18]. Xem điểm c khoản 2 Điều 161 Luật Nhà ở năm 2014.

[19]. Xem điểm b khoản 1 Điều 77 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP.

[20]. Xem khoản 3 Điều 77 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP.

[21]. Xem điểm c khoản 2 Điều 161 Luật Nhà ở năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.

Theo dõi chúng tôi trên: