Thứ bảy 14/03/2026 03:25
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền được chăm sóc sức khỏe – Quyền cơ bản của con người

Quyền được chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và pháp luật của mỗi quốc gia. Theo đó, bảo vệ sức khỏe là quyền cơ bản của mọi người, không có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội...

Ở Việt Nam, quyền được chăm sóc sức khỏe được ghi nhận trong Hiến pháp, đạo luật gốc của Nhà nước. Bài viết giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về quyền được chăm sóc sức khỏe trong pháp luật quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ, đưa ra các thực trạng về bảo hiểm y tế, về việc khám chữa bệnh... từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị, đề xuất để quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân được thực hiện tốt hơn trên thực tiễn.

1. Quyền được chăm sóc sức khỏe - một trong những quyền cơ bản của con người

Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1946 đã ghi nhận ngay trong lời nói đầu: “Bảo vệ sức khỏe là quyền cơ bản của mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội”. Hiến chương đã thúc đẩy điều khoản về sức khỏe trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (UDHR) năm 1948. Sự ghi nhận quyền được chăm sóc sức khỏe là một phần của quyền được có mức sống thích đáng, quy định tại Điều 25 của Tuyên ngôn này, theo đó: “Mọi người có quyền được hưởng một mức sống thích đáng, đủ để bảo đảm sức khỏe và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết… Các bà mẹ và trẻ em có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt”.

Quy định của Điều 25 UDHR sau đó đã được cụ thể hóa trong nhiều Công ước, như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em (CRC), Công ước quốc tế về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc (CERD), Tuyên bố Viên và Chương trình hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai năm 1993. Đặc biệt, Điều 12 ICESCR được coi là quy định pháp luật quốc tế toàn diện nhất về quyền được chăm sóc sức khỏe. Theo Điều này, mọi người có quyền được hưởng một tiêu chuẩn sức khoẻ về thể chất và tinh thần ở mức cao nhất có thể được. Các quốc gia thành viên Công ước cần thi hành các biện pháp để thực hiện đầy đủ quyền này, trong đó bao gồm những biện pháp cần thiết nhằm giảm bớt tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ em; cải thiện mọi mặt về vệ sinh môi trường và vệ sinh công nghiệp; ngăn ngừa, xử lý và hạn chế các dịch bệnh, bệnh ngoài da, bệnh nghề nghiệp và các loại bệnh khác, tạo các điều kiện để bảo đảm mọi dịch vụ và sự chăm sóc y tế khi đau yếu. Ngoài ra, quyền được chăm sóc sức khỏe còn được ghi nhận trong một số văn kiện khu vực về quyền con người, chẳng hạn như Hiến chương xã hội châu Âu năm 1961 sửa đổi (Điều 11), Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền của các dân tộc năm 1981 (Điều 16), Nghị định thư bổ sung Công ước châu Mỹ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1988 (Điều 10)…[1] và trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, ngay sau khi vừa giành được độc lập, trong Sắc lệnh số 14 ngày 30/1/1946 về thành lập Nha Thể dục trong Bộ Giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân khỏe mạnh tức là cả nước khỏe mạnh… dân cường thì quốc thịnh”. Đảng và Nhà nước ta đã luôn xác định sức khỏe là điều kiện cơ bản nhất để phát triển con người, phát triển xã hội và xem việc đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân là một quyền cơ bản, tất yếu. Không chỉ được ghi nhận trong các Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân còn được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp và nhiều đạo luật quan trọng. Từ năm 1992, chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) được triển khai thực hiện trong phạm vi cả nước. Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) đã góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHYT nói riêng và chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung. Nếu chính sách BHYT của Nhà nước là sự hỗ trợ về mặt kinh tế, san sẻ gánh nặng tài chính về chi phí y tế cho người dân, thì Luật Khám bệnh và chữa bệnh năm 2009 lại quy định về mặt thủ tục, hình thức đối với quá trình khám bệnh, cụ thể là các quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám chữa bệnh, các điều kiện hành nghề khám chữa bệnh, quy định về chuyên môn kỹ thuật trong khám chữa bệnh, điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh, áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám chữa bệnh, sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám chữa bệnh, điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh. Đây là những quy định cơ bản của pháp luật, đảm bảo cho người dân quyền được chăm sóc sức khỏe, một trong những quyền cơ bản của con người.

Quyền được chăm sóc sức khỏe một lần nữa được tái khẳng định trong Hiến pháp năm 2013, theo đó: “Mọi người có quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và có nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh. Các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng bị nghiêm cấm” (Điều 38). So với các bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 đã nhấn mạnh đến “quyền bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế của người dân”. Tất cả mọi công dân Việt Nam, không phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội, dân tộc, tôn giáo, giới tính… đều có quyền được tôn trọng, được đối xử y tế và thụ hưởng các dịch vụ, cơ sở vật chất như nhau. Đây là điểm mới, đáp ứng đòi hỏi khách quan của thực tiễn đời sống. Sự tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng và tiến bộ xã hội, trong đó có việc đảm bảo quyền bình đẳng sử dụng các dịch vụ y tế của người dân. Điều này cho thấy, quyền được chăm sóc sức khỏe nói riêng và quyền con người nói chung, trong Hiến pháp năm 2013 đã được bổ sung và hoàn thiện hơn.

2. Thực trạng quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân và một số kiến nghị

2.1. Về bảo hiểm y tế

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 có nhiều điểm mới quan trọng, có tính đột phá, hội nhập quốc tế, mở rộng quyền lợi của người tham gia BHYT, đặc biệt là đối tượng người nghèo, cận nghèo, dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại vùng biển đảo, nhằm mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân. Việc sửa đổi, bổ sung Luật lần này quan tâm nhiều đến quyền lợi của người tham gia BHYT, mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT, nhằm giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đối với một số đối tượng chính sách[2]. Cho đến nay, Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) mới đi vào thực tiễn đời sống hơn một năm, tuy nhiên, đánh giá chung về tình hình thực hiện, có thể thấy một số vấn đề tồn tại sau:

Thứ nhất, thủ tục thực hiện BHYT còn rườm ra, gây khó khăn, phiền hà khiến cho người bệnh không được điều trị kịp thời. Điều này đặc biệt thấy rõ ở thủ tục chuyển tuyến bệnh viện, hầu hết các bệnh viện tuyến dưới đều muốn giữ người bệnh ở lại, vì không phải tách BHYT đi theo lên cơ sở khám, chữa bệnh tuyến trên, mất chỉ tiêu khám BHYT. Thực tế cho thấy, không ít các trường hợp, dù các bệnh viện tuyến dưới không đủ điều kiện để chữa trị bệnh, song bệnh viện tuyến dưới vẫn tìm đủ mọi lý do để giữ bệnh nhân ở lại. Chỉ đến khi người bệnh nguy kịch, bệnh viện mới cho chuyển tuyến. Điều này khiến cho việc điều trị của bệnh nhân ở tuyến trên gặp rất nhiều khó khăn. Không ít trường hợp đã quá muộn, không được điều trị kịp thời, bệnh tình ngày càng nặng hơn, tốn kém chi phí điều trị, nguy cơ tử vong cao... Nguyên nhân của vấn đề có nhiều, trong đó có cơ chế thanh toán chi phí khám chữa bệnh của BHYT. Theo quy định, đối với những bệnh nhân chuyển tuyến điều trị, cơ sở khám chữa bệnh cho bệnh nhân chuyển viện phải chịu mọi chi phí của người bệnh ở tuyến trên mà không được biết chi phí đó là bao nhiêu. Chỉ đến hết năm, khi thanh quyết toán mới biết, có thể rất lớn và phải chờ nhiều tháng sau BHYT mới cấp bù. Mặt khác, bệnh viện tỉnh và BHYT ở địa phương sẽ phải trả một chi phí lớn hơn nếu bệnh nhân được chuyển về tuyến cuối. Trong khi đó, lượng người mua BHYT ở các tỉnh còn quá ít, nguy cơ vỡ quỹ bảo hiểm luôn thường trực.

Thứ hai, quy định về chế độ thanh toán BHYT cho người bệnh còn nhiều vướng mắc. Đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh trái tuyến, Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) quy định, nếu bệnh nhân điều trị nội trú thì mức hỗ trợ của BHYT tăng thêm 10% so với quy định trước kia, tức là tuyến huyện được hỗ trợ 70%, tuyến tỉnh được hỗ trợ 60%, tuyến trung ương được hỗ trợ 40% (Điều 22). Tuy nhiên, đối với người đi khám, kê đơn, điều trị ngoại trú thì sẽ không được BHYT thanh toán hỗ trợ. Có thể thấy, việc tăng mức hưởng thể hiện sự nỗ lực của BHYT trong việc hỗ trợ về mặt tài chính cho người dân khi đi khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu của người tham gia bảo hiểm, nhất là với những trường hợp điều trị kỹ thuật cao, chi phí lớn. Tuy nhiên, đối với quy định không hỗ trợ thanh toán cho người đi khám, kê đơn, điều trị ngoại trú, cần phải được xem xét lại. Mục đích của việc thay đổi này nhằm phần nào khắc phục tình trạng khám chữa bệnh vượt tuyết, trái tuyến không cần thiết, song điều này vô hình trung đã ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của những người khám chữa bệnh ngoại trú, trong khi họ vẫn đóng BHYT. Tính chất bình đẳng, công bằng trong quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của người dân đã không được bảo đảm.

Thứ ba, tình trạng lạm dụng, trục lợi từ quỹ BHYT đã ảnh hưởng trực tiếp tới quyền của người tham gia BHYT. Trong đó lỗi vi phạm chủ yếu của các cơ sở khám chữa bệnh như chỉ định và áp giá thuốc điều trị, dịch vụ kỹ thuật không đúng quy định. Rất nhiều bệnh viện có tình trạng sử dụng thuốc không có trong danh mục được BHYT chi trả để chi cho bệnh nhân, chỉ định thuốc không phù hợp với chẩn đoán, lạm dụng thuốc, cho thuốc một cách rộng rãi, tốn kém. Ở nhiều bệnh viện, các bác sỹ chỉ định sử dụng kháng sinh đắt tiền điều trị dự phòng rộng rãi, chỉ định sử dụng các thuốc hỗ trợ điều trị (không phải thuốc điều trị) rất “thoáng”. Không ít trường hợp bác sĩ còn cấp thuốc BHYT ngoại trú cho bệnh nhân không có thẻ BHYT hoặc ưu tiên ghi đơn cấp nhiều loại thuốc quý, hiếm (có cả những loại thuốc chưa được Bộ Y tế cho phép lưu hành); cấp thuốc nội cho bệnh nhân, nhưng lại xin chi tiền thuốc ngoại có giá thành cao hơn. Bên cạnh đó, một số bệnh viện còn tồn tại sai phạm nghiêm trọng trong việc lạm dụng kê khai nhằm bòn rút quỹ BHYT, như thống kê trùng lặp, thống kê khống làm chi phí khám chữa bệnh BHYT tăng lên so với thực tế, thống kê ngoài định suất và đặc biệt là lập hồ sơ khám chữa bệnh ngoại trú không có chữ ký bệnh nhân, chữ ký cơ sở khám chữa bệnh, người lập bảng kê; chỉ định thuốc không có biên bản hội chẩn… Sự lạm dụng quỹ BHYT xuất hiện ngay cả từ phía đơn vị bảo hiểm, thể hiện ở việc cấp thẻ khống cho người thân. Có không ít trường hợp, cán bộ BHYT thông đồng với cơ sở y tế bỏ qua việc kiểm soát hồ sơ bệnh án, xác định suất phí, trần thanh toán tuyến 2 không đúng, thậm chí là lập hồ sơ bệnh án khống để tham ô. Về phía người có thẻ BHYT, sự lạm dụng phổ biến là thường xuyên đến cơ sở y tế xin được cấp phát thuốc dù không bị bệnh, hoặc tìm mọi cách để được sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao dù điều đó là không cần thiết.

Nguyên nhân của tình trạng lạm dụng này có nhiều, nhưng tiêu biểu nhất đó là do cơ quan BHXH không được pháp luật giao cho chức năng thanh tra, xử lý những hành vi vi phạm. Theo quy định tại Điều 46 Luật Bảo hiểm y tế, việc thanh tra BHYT do thanh tra y tế thực hiện. Tuy nhiên, có một thực tế đáng ngại hiện nay là tương quan giữa số lượng thanh tra y tế và số lượng cơ sở khám chữa bệnh, cấp phát thuốc có sự chênh lệch vô cùng lớn. Theo thống kê của Bộ Y tế, tính đến thời điểm cuối năm 2013, cả nước có 1.200 bệnh viện công và 171 bệnh viện tư nhân, 30.000 phòng khám tư nhân, trong khi đó chỉ có 290 thanh tra y tế[3]. Sự thiếu hụt lực lượng cộng thêm khối lượng công việc lớn đã dẫn đến số vụ việc được thanh tra, xử lý còn ít, có nhiều trường hợp bỏ sót sai phạm hoặc không được thực hiện.

Có thể thấy, những tồn tại hạn chế trên đây phần nào đã làm giảm đi ý nghĩa cũng như lợi ích của BHYT, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tham gia BHYT. Thực tế đang đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, các nhà làm luật cần phải quan tâm, đề ra các giải pháp hợp lý nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, hướng tới mục tiêu BHYT toàn dân mà Việt Nam đặt ra.

2.2. Về việc khám bệnh, chữa bệnh

Luật Khám bệnh, chữa bệnh ra đời năm 2009 với những quy định cụ thể, đã góp phần to lớn trong việc bảo đảm quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân. Những quy định của luật là tiền đề để những người hành nghề y thực hiện đúng nguyên tắc, đạo đức nghề nghiệp của mình, đồng thời giúp cho người bệnh được khám chữa bệnh hiệu quả, được tiếp cận với dịch vụ y tế hiện đại. Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực hiện Luật Khám bệnh, chữa bệnh còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải được bàn bạc, giải quyết như:

Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật về chất lượng, dịch vụ y tế chưa hoàn thiện, thiếu các tiêu chí đánh giá chất lượng hiệu quả hay hoạt động kiểm tra giám sát còn hạn chế, thiếu hệ thống giám sát mang tính chất dự phòng.

Thứ hai, trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận y, bác sỹ chưa tốt, khiến cho người bệnh và thân nhân thiếu tin tưởng, không hài lòng. Thực tế cho thấy có rất nhiều sai sót trong quá trình khám chữa bệnh cho bệnh nhân, từ thăm khám, chẩn đoán đến điều trị. Đặc biệt là sự cẩu thả, tắc trách của đội ngũ nhân viên y tế. Mặc dù, Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã có những quy định cụ thể về trách nhiệm của đội ngũ y, bác sỹ trong việc khám chữa bệnh (Điều 35, 37, 39, 40) cũng như đưa ra cơ chế bảo vệ quyền của người khám bệnh, chữa bệnh thông qua khiếu nại, khởi kiện (Điều 79 và Điều 80), tuy nhiên trên thực tế, những quy định này chưa thực sự mang lại hiệu quả.

Thứ ba, chất lượng khám chữa bệnh còn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, nhất là ở những tuyến y tế cơ sở và các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên và gây khó khăn, phiền hà cho người bệnh. Không ít trường hợp, do hạn chế về trang thiết bị, kỹ thuật và trình độ chuyên môn của y bác sĩ, bệnh nhân phải kéo dài thời gian điều trị vừa tốn kém vừa vất vả, lãng phí thời gian, tiền bạc, vừa nguy hại đến tính mạng. Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều người bệnh lựa chọn phương án ra nước ngoài điều trị. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Ngành Y tế, gây thất thoát nguồn thu cho Nhà nước và đặc biệt đã phản ánh rõ thực trạng quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân không được đảm bảo.

Thứ tư, kết quả chăm sóc sức khỏe toàn dân chưa đồng đều, có sự chênh lệch lớn về tình trạng sức khỏe giữa các vùng miền. Công tác y tế dự phòng còn nhiều thách thức. Công tác tuyên truyền chưa đến được với mọi người dân, dịch vụ khám chữa bệnh còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các vùng khó khăn, chưa triển khai việc kiểm định chất lượng khám chữa bệnh.

2.3. Một số kiến nghị

Nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe của người dân, thực hiện BHYT toàn dân, mở rộng tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng, theo chúng tôi, cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

2.3.1. Trong việc thực hiện các quy định về bảo hiểm y tế

- Cần tăng cường phối hợp thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHYT; chủ động trao cho cơ quan BHXH chức năng thanh tra, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về BHYT nhằm giảm thiểu gánh nặng cho thanh tra y tế, các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chức năng; nâng cao năng lực hệ thống quản lý nhà nước về BHYT từ trung ương đến địa phương trong đó chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước phải được phân định rõ ràng; thành lập và phát huy vai trò của các hội đồng chuyên môn trong hệ thống BHYT, phục vụ cho quá trình xây dựng, hoàn thiện và sửa đổi bổ sung gói quyền lợi BHYT, danh mục thuốc BHYT, danh mục kỹ thuật BHYT...

- Cần cải cách thủ tục hành chính trong tổ chức khám chữa bệnh với BHYT theo hướng tinh gọn, đơn giản hóa thủ tục, quy trình khám chữa bệnh, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý các thủ tục hành chính ở các cơ sở y tế, để giảm phiền hà, rút ngắn thời gian, tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT được thụ hưởng tốt nhất các dịch vụ y tế; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn thực hiện pháp luật về BHYT, xác định vai trò quan trọng của Ngành Y tế và Bảo hiểm xã hội trong việc tuyên truyền để mỗi người dân hiểu và tự giác tham gia BHYT.

2.3.2. Trong việc thực hiện các quy định về khám bệnh, chữa bệnh

- Cần tăng cường công tác quản lý, thanh tra, giám sát việc thực hiện các quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh; bổ sung các quy định về tiêu chí đánh giá chất lượng y tế vào Luật Khám bệnh, chữa bệnh, tạo căn cứ rõ ràng, cụ thể cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát. Chú trọng tính hợp lý trong việc phân cấp quản lý y tế, về phía Bộ Y tế, cần tiếp tục phân cấp, phân quyền, phát huy tính năng động, sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp trong quá trình giải quyết các công việc có liên quan. Đối với Sở Y tế, cần nâng cao vai trò, trách nhiệm trong công tác tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát hoạt động y tế tại địa phương.

- Cần tạo cơ chế thuận lợi và khuyến khích phát triển mạnh mẽ hơn mạng lưới y tế tư nhân nhằm tạo ra môi trường cạnh tranh cần thiết giữa y tế công và y tế tư, thúc đẩy việc nâng cao chất lượng công tác y tế nói chung. Tuy nhiên, đối với mạng lưới y tế tư nhân cần xây dựng được những quy định pháp lý cụ thể như quy định về đăng ký, cấp phép hoạt động cho cơ sở hành nghề; quy định về kiểm định chất lượng dịch vụ; quy định kiểm soát tài chính thông qua hệ thống chi trả… Đồng thời, phải có cơ chế giám sát chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân.

- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho những người hành nghề y, nhất là đối với các cơ sở y tế tuyến dưới, nhằm tạo dựng niềm tin cho người dân, hạn chế tình trạng bệnh nhân đổ dồn về các bệnh viện tuyến trung ương, gây ra tình trạng quá tải. Từ đó, góp phần giảm áp lực trong việc điều trị vượt tuyến, trái tuyến của BHYT.

- Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sỹ, đảm bảo cho người bệnh được hưởng chế độ dịch vụ y tế tốt nhất phù hợp với điều kiện thực tế, để họ yên tâm điều trị bệnh.

Nguyễn Vân Trang
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

[1]. Giáo trình Lý luận và Pháp luật về quyền con người, Khoa Luật - ĐHQGHN, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2009, tr. 272 - 277.

[3]. Báo cáo của Bộ y tế trong Hội nghị trực tuyến toàn quốc về tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hành nghề y dược ngoài công lập ngày 04/11/2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.

Theo dõi chúng tôi trên: