Thứ sáu 20/03/2026 02:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu cấp dưỡng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành với nhiều điểm tiến bộ, phù hợp hơn với thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa giải quyết một cách triệt để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả tập trung phân tích và bình luận về quy định quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với vấn đề cấp dưỡng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Quyền khởi kiện lại trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng giống như trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) không được quy định một cách riêng rẽ tại một điều luật độc lập, mà được thiết kế nằm chung với điều luật về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo cách thức là một ngoại lệ của việc trả lại đơn khởi kiện (điểm c khoản 1 Điều 192) và là một khoản riêng về quyền nộp đơn khởi kiện lại (khoản 3 Điều 192).

Theo đó, khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện như sau: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật; hết thời hạn được thông báo theo quy định mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của thẩm phán liên quan đến các nội dung chính của đơn khởi kiện; người khởi kiện rút đơn khởi kiện; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.

Những trường hợp ngoại lệ về việc trả lại đơn khởi kiện như trên lại một lần nữa được khẳng định bởi quyền nộp đơn khởi kiện lại quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại khi người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại; đã có đủ điều kiện khởi kiện; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định trên, trong số các trường hợp bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện, chỉ có một vài quan hệ pháp luật được liệt kê là không bị Toà án trả lại đơn khởi kiện, mặc dù đã từng được yêu cầu giải quyết trước đó. Nói cách khác, chỉ những trường hợp được liệt kê tại Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự mới được quyền nộp đơn khởi kiện lại.

Trong số các trường hợp được quyền nộp đơn khởi kiện lại được BLTTDS 2015 quy định chỉ có một yêu cầu liên quan đến cấp dưỡng, đó chính là yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng. Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu (khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Khi nhắc đến cấp dưỡng, không thể không nhắc đến các khái niệm liên quan như nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng hay phương thức cấp dưỡng được quy định chi tiết trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan.

Trong bài viết, vấn đề tác giả muốn đề cập là phương thức cấp dưỡng. Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã phân loại phương thức cấp dưỡng thành hai phương thức, đó là cấp dưỡng định kỳ và một lần. Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Ở mỗi phương thức đều có những ưu điểm riêng, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như hoàn cảnh, điều kiện sống và cơ sở vật chất cũng như những biến chuyển của xã hội mà các bên sẽ chọn phương thức cấp dưỡng phù hợp.

Đối với phương thức cấp dưỡng định kỳ, phương thức này có những ưu điểm riêng, ngoài việc giúp cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng tránh được gánh nặng tài chính một lần, nó còn góp phần đảm bảo cho người được cấp dưỡng có cuộc sống vật chất ổn định định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm hay hàng năm. Về mặt tình cảm, phương thức này góp phần duy trì sợi dây tình cảm liên kết giữa những người có quan hệ huyết thống hay đã từng có quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc thuộc rất nhiều vào tinh thần tự nguyện của người phải cấp dưỡng.

Còn đối với phương thức cấp dưỡng một lần, phương thức này giúp giảm thiểu đáng kể sự trốn tránh trách nhiệm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ, góp phần bảo vệ quyền lợi của người được cấp dưỡng, đảm bảo cho người được cấp dưỡng có cuộc sống vật chất ổn định trong điều kiện tối thiểu xuyên suốt thời kỳ được cấp dưỡng mà không phải lo lắng về việc người có nghĩa vụ trốn tránh việc cấp dưỡng. Tuy nhiên, phương thức này cũng có nhược điểm riêng của nó là người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu gánh nặng về mặt tài chính trong một lần và không giúp duy trì tốt mối quan hệ tình cảm… Trên thực tế xét xử, tác giả nhận thấy rằng, chỉ khi các bên đồng thuận về vấn đề cấp dưỡng một lần thì Toà án mới ra quyết định cấp dưỡng một lần, còn nếu không thì áp dụng phương thức cấp dưỡng định kỳ.

Một vấn đề đặt ra là, đương sự có được quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với yêu cầu về thay đổi phương thức cấp dưỡng hay không, khi mà trước đó Toà án đã ra quyết định về cấp dưỡng định kỳ (hoặc ngược lại).

Để giải quyết vấn đề này, có thể thấy, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã đưa ra một số trường hợp về những tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng. Khi xảy ra tranh chấp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, tranh chấp về cấp dưỡng là một quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án và theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại khi đã từng bị Toà án trả lại đơn khởi kiện hoặc để yêu cầu giải quyết cùng một sự việc đã được Toà án ra phán quyết trước đó, trong đó có yêu cầu về thay đổi mức cấp dưỡng.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu giải thích luật theo hướng chỉ những vấn đề được luật liệt kê thì mới có thể khởi kiện lại, thì rõ ràng, yêu cầu thay đổi phương thức cấp dưỡng không nằm trong phạm vi này, do luật chỉ liệt kê trường hợp yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng (khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Nếu không xem yêu cầu thay đổi phương thức cấp dưỡng nằm trong phạm vi được khởi kiện lại được luật liệt kê, thì liệu yêu cầu này có được xem là một quan hệ tranh chấp mới không, bởi lẽ theo một số quan điểm thì thay đổi phương thức cấp dưỡng là một yêu cầu mới so với kết quả phán quyết trước đó của Toà án. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, đây là một sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nên không thể nộp đơn khởi kiện lại (điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Ở đây, tác giả không đồng thuận về vấn đề này, vì rõ ràng, nếu cho rằng sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án thì lý giải như thế nào cho việc nộp đơn khởi kiện lại cho những trường hợp xin thay đổi nuôi con, xin thay đổi mức cấp dưỡng, hay thay đổi người quản lý di sản... Phải chăng, những trường hợp nêu trên đều xuất phát từ nguyên nhân chung, đó là vì lợi ích của đương sự nên mặc dù trước đó sự việc đã được Toà án giải quyết nhưng luật vẫn cho phép đương sự được khởi kiện lại để bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình. Nói cách khác, có những trường hợp mà sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án nhưng vì để bảo vệ cho những lợi ích của đương sự, Luật đã mở rộng “đường đi” cho đương sự bằng cách quy định cho đương sự quyền nộp đơn khởi kiện lại trong một số trường hợp. Vì vậy, theo tác giả, vấn đề cốt lõi ở đây là yêu cầu về thay đổi phương thức cấp dưỡng có thể bị bỏ quên, mặc dù trên thực tế, việc thiếu vắng quy định như vậy đã gây khá nhiều khó khăn, vất vả cho đương sự, gây ảnh hưởng nhiều đến đời sống vật chất và tinh thần của họ.

Thực tế, việc cấp dưỡng định kỳ phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Đã có rất nhiều trường hợp khi Toà án tuyên cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, nhưng khi đến hạn nghĩa vụ, người có nghĩa vụ cấp dưỡng lại không tự nguyện thi hành. Trong một vụ án ly hôn trên thực tế, anh H.V.Đ được Toà án tuyên phải cấp dưỡng cho hai con chung mà người vợ là chị N.T.H đang nuôi dưỡng, mỗi tháng là 575.000đ/mỗi con, cho đến khi hai con chung tròn 18 tuổi. Ít lâu sau, anh H.V.Đ kết hôn với người vợ mới. Số tiền cấp dưỡng định kỳ mỗi tháng không nhiều, người có nghĩa vụ cấp dưỡng (anh H.V.Đ) lại là lao động tự do, không có tài khoản thu nhập nhưng có các tài sản khác là nhà cửa, ruộng vườn. Vì lý do đó, nên khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng anh H.V.Đ vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ[1], chị N.T.H đã yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án lại không thể cưỡng chế thi hành án được, với lý do số tiền cấp dưỡng đến hạn theo từng tháng quá ít, nên không thể cưỡng chế tài sản có giá trị lớn hơn (ví dụ như nhà cửa, ruộng vườn của người có nghĩa vụ)[2]. Trước sự việc như vậy, cơ quan thi hành án đã hướng dẫn chị N.T.H định kỳ mỗi tháng làm đơn yêu cầu thi hành án cho khoản cấp dưỡng đến hạn, cho đến khi số tiền cộng dồn đủ nhiều để có thể tiến hành cưỡng chế tài sản. Yêu cầu này hoàn toàn hợp lý, do khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn”. Có thể thấy rằng, quy định này vô hình trung khiến cho người yêu cầu thi hành án tiêu tốn rất nhiều thời gian và công sức khi cứ định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm hay hàng năm, lại phải thực hiện các thủ tục yêu cầu thi hành án về đòi tiền cấp dưỡng, mặc dù số tiền không nhiều.

Trong tình huống thực tế nêu trên, chị N.T.H là người nuôi hai con chưa thành niên và hoàn toàn không có tài sản để đảm bảo nuôi con, chỉ sống nhờ vào gia đình bên ngoại và làm công việc tự do. Nếu tuân theo luật thi hành án và cách hướng dẫn của cơ quan thi hành án trong tình huống trên, đợi đến khi tổng số tiền để thi hành án đã đủ nhiều để tiến hành cưỡng chế tài sản là nhà cửa, ruộng vườn hay gia súc của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, thì liệu lúc này những tài sản trên có còn tồn tại để thực hiện việc cưỡng chế hay không. Mặc dù vẫn có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 nhưng những việc này đòi hỏi sự theo dõi sát sao hành vi và tài sản của người có nghĩa vụ thi hành để kịp thời áp dụng những biện pháp trên.

Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có điều luật cho phép người thân thích của người được cấp dưỡng được quyền yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó (khoản 3 Điều 119), tuy nhiên, luật cũng không nêu rõ cách thức mà Toà án buộc người không tự nguyện phải thực hiện nghĩa vụ đó như thế nào. Như vậy, theo nguyên tắc chung, bản án do Toà án tuyên sẽ mang tính chất cưỡng chế và buộc người không tự nguyện thi hành phải thi hành nhờ vào hoạt động cưỡng chế của cơ quan thi hành án. Trong trường hợp này, chúng ta lại trở lại câu chuyện bế tắc trong việc thi hành án như đã nói trên, nếu như phương thức cấp dưỡng không được thay đổi.

Có thể thấy rằng, với quy định không cho phép khởi kiện lại đối với yêu cầu xin thay đổi phương thức cấp dưỡng, cùng với những quy định về thủ tục thi hành án nêu trên, một mặt, làm kéo dài thời gian thi hành án, gây tồn đọng án phải thi hành, tạo gánh nặng cho cơ quan thi hành án, mặt khác, không giúp cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, mà thiết nghĩ đây mới là mục tiêu chính của pháp luật dân sự. Phần lớn người được cấp dưỡng là con chưa thành niên, do một bên cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, nếu tài chính không đảm bảo thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống vật chất và tinh thần của họ. Do vậy, việc mở rộng quy định về quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với trường hợp xin thay đổi phương thức cấp dưỡng là điều hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự, mà cụ thể ở đây là con chưa thành niên, chủ thể được bảo vệ bởi Luật Trẻ em năm 2016.

Tóm lại, với việc mở rộng quy định về quyền khởi kiện lại như theo đề xuất của tác giả, vấn đề nêu trên hoàn toàn có thể được giải quyết. Cụ thể, trong trường hợp Toà án đã ra phán quyết áp dụng phương thức cấp dưỡng định kỳ, nhưng nếu khi đương sự có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành và cơ quan thi hành án không có điều kiện cưỡng chế thì đương sự có quyền có thể yêu cầu Toà án thay đổi phương thức cấp dưỡng (áp dụng phương thức cấp dưỡng một lần) khi nhận thấy đương sự có nghĩa vụ có đủ tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này một lần.

TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật

Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh


[1] Thời hạn tự nguyện thi hành án là10 ngày, kể từ ngày người có nghĩa vụ cấp dưỡng nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, được quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

[2] Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định: “…việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: