Thứ tư 29/07/2026 04:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu cấp dưỡng trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Tóm tắt: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành với nhiều điểm tiến bộ, phù hợp hơn với thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề mà Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa giải quyết một cách triệt để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người dân. Trong khuôn khổ của bài viết, tác giả tập trung phân tích và bình luận về quy định quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với vấn đề cấp dưỡng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

Quyền khởi kiện lại trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng giống như trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) không được quy định một cách riêng rẽ tại một điều luật độc lập, mà được thiết kế nằm chung với điều luật về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo cách thức là một ngoại lệ của việc trả lại đơn khởi kiện (điểm c khoản 1 Điều 192) và là một khoản riêng về quyền nộp đơn khởi kiện lại (khoản 3 Điều 192).

Theo đó, khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể các trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện như sau: Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; chưa có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật; hết thời hạn được thông báo theo quy định mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng; vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án; người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của thẩm phán liên quan đến các nội dung chính của đơn khởi kiện; người khởi kiện rút đơn khởi kiện; sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại.

Những trường hợp ngoại lệ về việc trả lại đơn khởi kiện như trên lại một lần nữa được khẳng định bởi quyền nộp đơn khởi kiện lại quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại khi người khởi kiện đã có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại; đã có đủ điều kiện khởi kiện; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, theo quy định trên, trong số các trường hợp bị Tòa án trả lại đơn khởi kiện, chỉ có một vài quan hệ pháp luật được liệt kê là không bị Toà án trả lại đơn khởi kiện, mặc dù đã từng được yêu cầu giải quyết trước đó. Nói cách khác, chỉ những trường hợp được liệt kê tại Khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đương sự mới được quyền nộp đơn khởi kiện lại.

Trong số các trường hợp được quyền nộp đơn khởi kiện lại được BLTTDS 2015 quy định chỉ có một yêu cầu liên quan đến cấp dưỡng, đó chính là yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng. Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu (khoản 24 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Khi nhắc đến cấp dưỡng, không thể không nhắc đến các khái niệm liên quan như nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng hay phương thức cấp dưỡng được quy định chi tiết trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và các văn bản pháp luật liên quan.

Trong bài viết, vấn đề tác giả muốn đề cập là phương thức cấp dưỡng. Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã phân loại phương thức cấp dưỡng thành hai phương thức, đó là cấp dưỡng định kỳ và một lần. Việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần. Ở mỗi phương thức đều có những ưu điểm riêng, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như hoàn cảnh, điều kiện sống và cơ sở vật chất cũng như những biến chuyển của xã hội mà các bên sẽ chọn phương thức cấp dưỡng phù hợp.

Đối với phương thức cấp dưỡng định kỳ, phương thức này có những ưu điểm riêng, ngoài việc giúp cho người có nghĩa vụ cấp dưỡng tránh được gánh nặng tài chính một lần, nó còn góp phần đảm bảo cho người được cấp dưỡng có cuộc sống vật chất ổn định định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm hay hàng năm. Về mặt tình cảm, phương thức này góp phần duy trì sợi dây tình cảm liên kết giữa những người có quan hệ huyết thống hay đã từng có quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, phương thức này lại có nhược điểm là phụ thuộc thuộc rất nhiều vào tinh thần tự nguyện của người phải cấp dưỡng.

Còn đối với phương thức cấp dưỡng một lần, phương thức này giúp giảm thiểu đáng kể sự trốn tránh trách nhiệm của người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo định kỳ, góp phần bảo vệ quyền lợi của người được cấp dưỡng, đảm bảo cho người được cấp dưỡng có cuộc sống vật chất ổn định trong điều kiện tối thiểu xuyên suốt thời kỳ được cấp dưỡng mà không phải lo lắng về việc người có nghĩa vụ trốn tránh việc cấp dưỡng. Tuy nhiên, phương thức này cũng có nhược điểm riêng của nó là người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải chịu gánh nặng về mặt tài chính trong một lần và không giúp duy trì tốt mối quan hệ tình cảm… Trên thực tế xét xử, tác giả nhận thấy rằng, chỉ khi các bên đồng thuận về vấn đề cấp dưỡng một lần thì Toà án mới ra quyết định cấp dưỡng một lần, còn nếu không thì áp dụng phương thức cấp dưỡng định kỳ.

Một vấn đề đặt ra là, đương sự có được quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với yêu cầu về thay đổi phương thức cấp dưỡng hay không, khi mà trước đó Toà án đã ra quyết định về cấp dưỡng định kỳ (hoặc ngược lại).

Để giải quyết vấn đề này, có thể thấy, Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã đưa ra một số trường hợp về những tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng. Khi xảy ra tranh chấp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy, tranh chấp về cấp dưỡng là một quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án và theo khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại khi đã từng bị Toà án trả lại đơn khởi kiện hoặc để yêu cầu giải quyết cùng một sự việc đã được Toà án ra phán quyết trước đó, trong đó có yêu cầu về thay đổi mức cấp dưỡng.

Như vậy, có thể thấy rằng, nếu giải thích luật theo hướng chỉ những vấn đề được luật liệt kê thì mới có thể khởi kiện lại, thì rõ ràng, yêu cầu thay đổi phương thức cấp dưỡng không nằm trong phạm vi này, do luật chỉ liệt kê trường hợp yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng (khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Nếu không xem yêu cầu thay đổi phương thức cấp dưỡng nằm trong phạm vi được khởi kiện lại được luật liệt kê, thì liệu yêu cầu này có được xem là một quan hệ tranh chấp mới không, bởi lẽ theo một số quan điểm thì thay đổi phương thức cấp dưỡng là một yêu cầu mới so với kết quả phán quyết trước đó của Toà án. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến cho rằng, đây là một sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nên không thể nộp đơn khởi kiện lại (điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Ở đây, tác giả không đồng thuận về vấn đề này, vì rõ ràng, nếu cho rằng sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án thì lý giải như thế nào cho việc nộp đơn khởi kiện lại cho những trường hợp xin thay đổi nuôi con, xin thay đổi mức cấp dưỡng, hay thay đổi người quản lý di sản... Phải chăng, những trường hợp nêu trên đều xuất phát từ nguyên nhân chung, đó là vì lợi ích của đương sự nên mặc dù trước đó sự việc đã được Toà án giải quyết nhưng luật vẫn cho phép đương sự được khởi kiện lại để bảo vệ lợi ích chính đáng cho mình. Nói cách khác, có những trường hợp mà sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của Toà án nhưng vì để bảo vệ cho những lợi ích của đương sự, Luật đã mở rộng “đường đi” cho đương sự bằng cách quy định cho đương sự quyền nộp đơn khởi kiện lại trong một số trường hợp. Vì vậy, theo tác giả, vấn đề cốt lõi ở đây là yêu cầu về thay đổi phương thức cấp dưỡng có thể bị bỏ quên, mặc dù trên thực tế, việc thiếu vắng quy định như vậy đã gây khá nhiều khó khăn, vất vả cho đương sự, gây ảnh hưởng nhiều đến đời sống vật chất và tinh thần của họ.

Thực tế, việc cấp dưỡng định kỳ phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và sự tự nguyện thi hành của người có nghĩa vụ cấp dưỡng. Đã có rất nhiều trường hợp khi Toà án tuyên cấp dưỡng định kỳ hàng tháng, nhưng khi đến hạn nghĩa vụ, người có nghĩa vụ cấp dưỡng lại không tự nguyện thi hành. Trong một vụ án ly hôn trên thực tế, anh H.V.Đ được Toà án tuyên phải cấp dưỡng cho hai con chung mà người vợ là chị N.T.H đang nuôi dưỡng, mỗi tháng là 575.000đ/mỗi con, cho đến khi hai con chung tròn 18 tuổi. Ít lâu sau, anh H.V.Đ kết hôn với người vợ mới. Số tiền cấp dưỡng định kỳ mỗi tháng không nhiều, người có nghĩa vụ cấp dưỡng (anh H.V.Đ) lại là lao động tự do, không có tài khoản thu nhập nhưng có các tài sản khác là nhà cửa, ruộng vườn. Vì lý do đó, nên khi hết thời hạn tự nguyện thi hành án nhưng anh H.V.Đ vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng định kỳ[1], chị N.T.H đã yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, cơ quan thi hành án lại không thể cưỡng chế thi hành án được, với lý do số tiền cấp dưỡng đến hạn theo từng tháng quá ít, nên không thể cưỡng chế tài sản có giá trị lớn hơn (ví dụ như nhà cửa, ruộng vườn của người có nghĩa vụ)[2]. Trước sự việc như vậy, cơ quan thi hành án đã hướng dẫn chị N.T.H định kỳ mỗi tháng làm đơn yêu cầu thi hành án cho khoản cấp dưỡng đến hạn, cho đến khi số tiền cộng dồn đủ nhiều để có thể tiến hành cưỡng chế tài sản. Yêu cầu này hoàn toàn hợp lý, do khoản 1 Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn”. Có thể thấy rằng, quy định này vô hình trung khiến cho người yêu cầu thi hành án tiêu tốn rất nhiều thời gian và công sức khi cứ định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm hay hàng năm, lại phải thực hiện các thủ tục yêu cầu thi hành án về đòi tiền cấp dưỡng, mặc dù số tiền không nhiều.

Trong tình huống thực tế nêu trên, chị N.T.H là người nuôi hai con chưa thành niên và hoàn toàn không có tài sản để đảm bảo nuôi con, chỉ sống nhờ vào gia đình bên ngoại và làm công việc tự do. Nếu tuân theo luật thi hành án và cách hướng dẫn của cơ quan thi hành án trong tình huống trên, đợi đến khi tổng số tiền để thi hành án đã đủ nhiều để tiến hành cưỡng chế tài sản là nhà cửa, ruộng vườn hay gia súc của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, thì liệu lúc này những tài sản trên có còn tồn tại để thực hiện việc cưỡng chế hay không. Mặc dù vẫn có thể áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án quy định tại Điều 66 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 nhưng những việc này đòi hỏi sự theo dõi sát sao hành vi và tài sản của người có nghĩa vụ thi hành để kịp thời áp dụng những biện pháp trên.

Hiện nay, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã có điều luật cho phép người thân thích của người được cấp dưỡng được quyền yêu cầu Toà án buộc người không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng phải thực hiện nghĩa vụ đó (khoản 3 Điều 119), tuy nhiên, luật cũng không nêu rõ cách thức mà Toà án buộc người không tự nguyện phải thực hiện nghĩa vụ đó như thế nào. Như vậy, theo nguyên tắc chung, bản án do Toà án tuyên sẽ mang tính chất cưỡng chế và buộc người không tự nguyện thi hành phải thi hành nhờ vào hoạt động cưỡng chế của cơ quan thi hành án. Trong trường hợp này, chúng ta lại trở lại câu chuyện bế tắc trong việc thi hành án như đã nói trên, nếu như phương thức cấp dưỡng không được thay đổi.

Có thể thấy rằng, với quy định không cho phép khởi kiện lại đối với yêu cầu xin thay đổi phương thức cấp dưỡng, cùng với những quy định về thủ tục thi hành án nêu trên, một mặt, làm kéo dài thời gian thi hành án, gây tồn đọng án phải thi hành, tạo gánh nặng cho cơ quan thi hành án, mặt khác, không giúp cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, mà thiết nghĩ đây mới là mục tiêu chính của pháp luật dân sự. Phần lớn người được cấp dưỡng là con chưa thành niên, do một bên cha hoặc mẹ nuôi dưỡng, nếu tài chính không đảm bảo thì sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống vật chất và tinh thần của họ. Do vậy, việc mở rộng quy định về quyền nộp đơn khởi kiện lại đối với trường hợp xin thay đổi phương thức cấp dưỡng là điều hết sức cần thiết nhằm đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đương sự, mà cụ thể ở đây là con chưa thành niên, chủ thể được bảo vệ bởi Luật Trẻ em năm 2016.

Tóm lại, với việc mở rộng quy định về quyền khởi kiện lại như theo đề xuất của tác giả, vấn đề nêu trên hoàn toàn có thể được giải quyết. Cụ thể, trong trường hợp Toà án đã ra phán quyết áp dụng phương thức cấp dưỡng định kỳ, nhưng nếu khi đương sự có nghĩa vụ không tự nguyện thi hành và cơ quan thi hành án không có điều kiện cưỡng chế thì đương sự có quyền có thể yêu cầu Toà án thay đổi phương thức cấp dưỡng (áp dụng phương thức cấp dưỡng một lần) khi nhận thấy đương sự có nghĩa vụ có đủ tài sản để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này một lần.

TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật

Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh


[1] Thời hạn tự nguyện thi hành án là10 ngày, kể từ ngày người có nghĩa vụ cấp dưỡng nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án, được quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

[2] Khoản 1 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự quy định: “…việc áp dụng biện pháp bảo đảm, cưỡng chế thi hành án phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải thi hành án và các chi phí cần thiết”.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.

Theo dõi chúng tôi trên: