Thứ bảy 04/04/2026 20:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

So sánh quy định về biện pháp bảo đảm trong pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về biện pháp bảo đảm của Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam.

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về biện pháp bảo đảm của Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam.

Abstract: The article focuses on some legal issues with respect to secured measures of Vietnam and comparision with the law of some countries in the world, from that point, puts forward proposals for completing law on secured measures in Vietnam.

1. Chủ thể tham gia biện pháp bảo đảm

Đa số các biện pháp bảo đảm (BPBĐ) đều được xác lập qua các hợp đồng bảo đảm (HĐBĐ)[1]. Các bên tham gia HĐBĐ bao gồm bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm (chủ nợ có bảo đảm). Ngoài ra, thực tiễn ở các nước cho thấy, HĐBĐ còn xuất hiện bên thứ ba như bên quản lý tài sản bảo đảm, người đại diện của bên nhận bảo đảm, bên xử lý tài sản mà không phải là bên nhận bảo đảm. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nội dung này. Theo Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của Ngân hàng Tái thiết và phát triển Châu Âu (Luật mẫu EBRD), người quản lý là người đại diện của bên nhận bảo đảm, thay mặt bên nhận bảo đảm thực hiện các giao dịch với các bên thứ ba liên quan đến việc thực hiện giao dịch bảo đảm. Cũng theo luật này, người quản lý giao dịch bảo đảm do bên nhận bảo đảm chỉ định. Người này có quyền giám sát việc thanh toán nợ của con nợ, tiến hành các thủ tục xử lý tài sản theo quy định pháp luật, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm đối với các bên thứ ba liên quan đến việc thực thi giao dịch bảo đảm (không phải là việc chuyển nhượng quyền đối với nghĩa vụ được bảo đảm)[2]. Việt Nam chỉ dừng lại ở quy định các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản trong trường hợp thế chấp và người này có quyền, nghĩa vụ giữ gìn tài sản thế chấp mà không có quy định về việc có thể đại diện cho người nhận thế chấp (Điều 317, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quy định về người quản lý đáp ứng được thực tiễn là bên nhận bảo đảm vì lý do nào đó, chẳng hạn như cư trú ở nước ngoài không thể trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm, nhưng không muốn chuyển nhượng quyền đối với nghĩa vụ bảo đảm cho người khác, khi đó, họ muốn giao cho người tin cậy quản lý tài sản bảo đảm. Người này có thể đại diện cho họ khi thực hiện các quyền liên quan đến nghĩa vụ được bảo đảm, bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho họ. Do vậy, tác giả cho rằng, đây là một quy định có thể xem xét để đưa vào pháp luật Việt Nam.

2. Hình thức của hợp đồng bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hình thức của HĐBĐ dựa trên BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó, các HĐBĐ phải lập thành văn bản bao gồm hợp đồng bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng tín chấp. Các BPBĐ còn lại không thể hiện rõ hình thức pháp lý nên về nguyên tắc các bên có thể áp dụng quy định về hình thức của giao dịch dân sự là hình thức của HĐBĐ, gồm: Hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng đặt cọc, ký cược, ký quỹ, hợp đồng bảo lãnh[3]. Và như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có những HĐBĐ được quy định phải lập bằng văn bản và có những HĐBĐ không nêu ra yêu cầu về hình thức[4], khi đó về nguyên tắc chúng ta áp dụng quy định về hình thức của giao dịch dân sự để xác định, tức là có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi. Tất nhiên, hình thức của HĐBĐ còn phụ thuộc vào đối tượng của hợp đồng, đối với những tài sản bảo đảm thuộc đối tượng phải lập thành văn bản hoặc buộc công chứng, chứng thực thì phải theo quy định đó (khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ví dụ, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, là nhà ở, khi xác lập BPBĐ phải lập thành văn bản. Trong pháp luật tín dụng ngân hàng, mặc dù không nêu trực tiếp BPBĐ phải lập thành văn bản, nhưng có yêu cầu lưu giữ hồ sơ gồm có hợp đồng tín dụng và hồ sơ về BPBĐ (Điều 96 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010), điều này gián tiếp buộc HĐBĐ phải được thể hiện dưới dạng văn bản[5]. Về hình thức của giao dịch bảo đảm, theo Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (Uncitral): “Luật nên quy định thỏa thuận bảo đảm có thể bằng miệng nếu bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm. Trong trường hợp khác, thỏa thuận bảo đảm phải được lập thành văn bản, hoặc phải được chứng minh bởi sự kết hợp giữa văn bản và hành vi của các bên xác định ý chí của bên bảo đảm là muốn xác lập một lợi ích bảo đảm”[6]. Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định hầu hết các HĐBĐ phải được lập thành văn bản, còn đến Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quy định mở hơn, loại HĐBĐ buộc lập thành văn bản ít hơn như đã nêu. Điều này có xu hướng thống nhất với Uncitral. Tuy nhiên, đối với những HĐBĐ có đối tượng bảo đảm là quyền tài sản, đa số là những tài sản vô hình thì việc cho phép thỏa thuận bằng lời nói sẽ không hợp lý, rất khó để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Vấn đề đặt ra là, trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có nên cho phép các bên có thể tự do chọn lựa hình thức của HĐBĐ không? Do vậy, tác giả cho rằng, pháp luật Việt Nam cần có hướng dẫn cụ thể về hình thức của HĐBĐ. Cụ thể:

- Đối với các loại tài sản, pháp luật chỉ cho phép áp dụng hình thức HĐBĐ bằng lời nói khi bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm;

- Trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, cần phải quy định “tường minh” HĐBĐ được lập thành văn bản (điều này có thể quy định trong luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động ngân hàng);

- Cần xác định khi tài sản bảo đảm là quyền tài sản thì HĐBĐ cần phải lập thành văn bản ngay cả trong HĐBĐ không thuộc lĩnh vực tín dụng ngân hàng.

3. Hiệu lực của biện pháp bảo đảm

HĐBĐ phải tuân thủ các điều kiện của hợp đồng nói chung, bên cạnh đó còn phải tuân thủ các điều kiện riêng của HĐBĐ trong những trường hợp nhất định. Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cạnh các điều kiện về nội dung để một giao dịch có hiệu lực, điều luật này cũng xác định rõ hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Hiện nay, Bộ luật Dân sự đã tiếp cận vấn đề đăng ký BPBĐ theo hướng xem đó là quyền công dân, theo đó, việc đăng ký chủ yếu giúp xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba chứ không nhằm xác lập quyền đối với tài sản bảo đảm. Đây có thể nói là một điểm mới quan trọng trong quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm, điều này phù hợp với quan điểm của Uncitral[7]. Có thể thấy, cách tiếp cận này đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới[8]. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, hiệu lực của HĐBĐ vẫn phụ thuộc vào việc đăng ký BPBĐ. Theo đó, BPBĐ chỉ phát sinh hiệu lực giữa các bên khi đã được đăng ký, tức khi đó mới phát sinh quyền của chủ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 298) có quy định việc đăng ký là điều kiện có hiệu lực của BPBĐ chỉ trong trường hợp luật có quy định, điều này được hiểu là đối với những BPBĐ luật có quy định đăng ký nhưng không đăng ký sẽ là cơ sở để Tòa án tuyên vô hiệu. Tức là, khi đó không phát sinh quyền của chủ thể bảo đảm đối với tài sản và tất nhiên không phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Các trường hợp buộc đăng ký BPBĐ được thể hiện trong các luật hiện hành[9] và được rà soát, ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (Nghị định số 102/2017/NĐ-CP), Pháp luật Anh cũng có quy định về các trường hợp bắt buộc phải đăng ký BPBĐ và nếu rơi vào các trường hợp này mà không đăng ký thì BPBĐ sẽ vô hiệu, bên nhận bảo đảm sẽ không được hưởng quyền ưu tiên thanh toán so với các bên thứ ba khác. Ví dụ, giao dịch bảo đảm được xác lập trên chứng từ bán hàng phải được đăng ký, nếu không đăng ký giao dịch sẽ vô hiệu[10]. Hoặc Luật Công ty của Vương quốc Anh có quy định các trường hợp bắt buộc đăng ký đối với giao dịch bảo đảm của công ty (company charges), trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày xác lập giao dịch mà không đăng ký sẽ bị vô hiệu, không làm phát sinh quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm[11]. Chẳng hạn, đặc quyền bảo đảm cho các chứng khoán nợ; đặc quyền trên vốn cổ phần chưa phát hành của công ty; đặc quyền trên sổ nợ của công ty; đặc quyền trên tàu biển hoặc máy bay hoặc phần giá trị của tàu biển; đặc quyền trên uy tín hoặc quyền sở hữu trí tuệ[12].

Thiết nghĩ, Việt Nam cũng nên có những quy định về đăng ký bắt buộc đối với các tài sản bảo đảm là phần vốn góp, trái phiếu, tài sản trí tuệ để đảm bảo việc được cung cấp thông tin của chủ thể thứ ba đối với các tài sản này. Hiện nay, các tài sản này chỉ được đăng ký bảo đảm khi có yêu cầu (Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP). Bên cạnh đó, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP có khả năng gây nên sự ngộ nhận cho người đọc theo hướng cho rằng văn bản dưới luật có thể áp đặt các trường hợp bắt buộc đăng ký BPBĐ. Do vậy, nội dung này nếu được ghi nhận trong một văn bản ở cấp độ luật về đăng ký BPBĐ sẽ hợp lý hơn, trong đó tập hợp tất cả các trường hợp buộc đăng ký BPBĐ, cả những trường hợp chưa được quy định ở bất kỳ luật nào khác.

Có thể nhận thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã rất tiến bộ khi phân biệt rạch ròi hiệu lực của HĐBĐ ở hai khía cạnh: Một là, hiệu lực của HĐBĐ trong mối quan hệ giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; hai là, hiệu lực đối kháng của BPBĐ đối với bên thứ ba. Theo đó, với quy định hiện hành, có thể chia thành 03 trường hợp: (i) Đối với HĐBĐ luật không yêu cầu đăng ký BPBĐ và các bên cũng không tự nguyện đăng ký BPBĐ thì thời điểm BPBĐ phát sinh hiệu lực là thời điểm xác lập HĐBĐ và không làm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba[13]; (ii) Đối với những BPBĐ luật không buộc đăng ký nhưng được đăng ký tự nguyện theo yêu cầu của các bên thì thời điểm có hiệu lực của HĐBĐ phát sinh từ khi xác lập HĐBĐ, nhưng hiệu lực đối kháng với bên thứ ba phát sinh vào thời điểm đăng ký BPBĐ có hiệu lực[14] (khác với Việt Nam, theo Điều 2074, 2075 Bộ luật Dân sự Pháp năm 2005, đối với việc cầm cố động sản vô hình[15], văn bản công chứng hoặc chứng thư được đăng ký hợp lệ còn phải được tống đạt cho người có nghĩa vụ được đảm bảo bằng cầm cố hoặc được người đó chấp nhận bằng một văn bản công chứng); (iii) Đối với HĐBĐ có BPBĐ luật buộc phải đăng ký thì thời điểm HĐBĐ có hiệu lực phụ thuộc vào thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký BPBĐ, khi đó, hiệu lực giữa các bên và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba phát sinh cùng lúc vào thời điểm việc đăng ký có hiệu lực. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 407) cũng xác định rõ, HĐBĐ là một dạng ngoại lệ của hợp đồng phụ ở khía cạnh hiệu lực của HĐBĐ không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính (hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng). Nói cách khác, khi hợp đồng tín dụng vô hiệu không làm chấm dứt BPBĐ, tức không làm vô hiệu HĐBĐ.

4. Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp bảo đảm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai; tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung nhưng phải xác định; tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu (Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra là khi tài sản bảo đảm có sự sáp nhập vào tài sản khác, trộn lẫn hoặc chế biến thành tài sản mới thì liệu BPBĐ trên tài sản bảo đảm vẫn duy trì hiệu lực hay một BPBĐ mới được xác lập? Theo Uncitral (2016) lợi ích bảo đảm trên tài sản hữu hình được xác lập trước khi bị trộn lẫn hoặc chế biến thành sản phẩm mới vẫn tiếp tục có hiệu lực trên tài sản bị trộn lẫn (a mass) hoặc sản phẩm mới (a product). Giá trị của lợi ích bảo đảm được giới hạn trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm trước khi được trộn lẫn hoặc chế biến thành sản phẩm mới[16]. Giao dịch bảo đảm tự động có hiệu lực đối với bên thứ ba sau khi tài sản bảo đảm là tài sản hữu hình sáp nhập vào tài sản khác tạo thành hỗn hợp hay sản phẩm mới mà không phải thực hiện thêm bất kỳ thủ tục nào[17]. Trong trường hợp có nhiều tài sản bảo đảm bị trộn lẫn hoặc chế biến thành tài sản mới thì thứ tự ưu tiên của các lợi ích bảo đảm trên tài sản mới được xác định theo thứ tự phát sinh quyền lợi bảo đảm trước khi tài sản bị trộn lẫn hoặc chế biến[18]. Cho đến nay, dù với sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2015, Việt Nam vẫn chưa đề cập đến vấn đề này. Thiết nghĩ, Việt Nam cần quy định cụ thể về vấn đề này trong văn bản hướng dẫn thi hành về giao dịch bảo đảm.

5. Quyền ưu tiên của chủ thể trong biện pháp bảo đảm

Quyền ưu tiên được hiểu là quyền được ưu tiên thanh toán trước chủ thể khác khi xử lý tài sản bảo đảm. Quyền ưu tiên cho phép thoát khỏi sự chi phối của pháp luật phá sản và được thanh toán trước tiên trên giá của tài sản.

Khoa học pháp lý trên thế giới đều thừa nhận một nguyên tắc chung trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, đó là nguyên tắc “first in time rule” (thứ tự về thời gian). Thứ tự thời gian được xác định dựa vào thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm. Luật của Anh quy định trong trường hợp có xung đột quyền yêu cầu thanh toán giữa các chủ nợ có bảo đảm có lợi ích bảo đảm ngang nhau trên cùng một tài sản thì chủ nợ có lợi ích bảo đảm được xác lập trước hưởng quyền ưu tiên trừ trường hợp quyền ưu tiên bị mất bởi các quy tắc pháp lý khác. Luật của Mỹ cũng quy định bên nhận bảo đảm đăng ký trước được hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm đăng ký sau trên cùng một tài sản bảo đảm[19]. Luật mẫu EBRD cũng thừa nhận quy tắc thứ tự về thời gian, tức là thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm về mặt thời gian được sử dụng để xác định quyền ưu tiên của các chủ nợ có bảo đảm trên cùng một tài sản bảo đảm. Việt Nam cũng không ngoại lệ, theo đó, pháp luật Việt Nam cũng áp dụng quy tắc thứ tự về thời gian để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhiều chủ nợ có bảo đảm trên cùng một tài sản bảo đảm dựa trên hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

5.1. Thứ tự ưu tiên được xác lập dựa trên cơ sở đăng ký biện pháp bảo đảm

Hiệu lực đối kháng được xác lập dựa trên cơ sở đăng ký hoặc nắm giữ tài sản. Trường hợp luật buộc đăng ký thì BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký và thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng. Trường hợp có BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có BPBĐ không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có BPBĐ có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước (Điều 298, Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều này cũng dẫn đến hệ quả, đối với cùng một tài sản bảo đảm không buộc đăng ký, nhưng có BPBĐ đăng ký, có BPBĐ không đăng ký thì BPBĐ có đăng ký được ưu tiên thanh toán (Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015), trừ trường hợp hiệu lực đối kháng được xác lập trên cơ sở nắm giữ tài sản (Điều 310, Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều 29.1 Công ước Cape Town[20] cũng quy định: “Lợi ích bảo đảm đăng ký trước hưởng quyền ưu tiên so với các lợi ích bảo đảm đăng ký sau và các lợi ích bảo đảm không đăng ký”.

5.2. Thứ tự ưu tiên được xác lập dựa trên cơ sở nắm giữ, kiểm soát tài sản bảo đảm

Bên cạnh xác định thứ tự về thời gian và quy tắc ưu tiên đăng ký, pháp luật các nước cũng quy định quy tắc chiếm hữu, kiểm soát tài sản bảo đảm để xác định thứ tự ưu tiên. Việt Nam cũng có những trường hợp quyền ưu tiên phát sinh trên cơ sở nắm giữ tài sản. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với trường hợp biện pháp cầm cố động sản không buộc đăng ký thì thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố; trường hợp biện pháp cầm giữ tài sản thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản (Khoản 2 Điều 347, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, pháp luật Việt Nam có vẻ còn thiếu những quy định cụ thể so với các nước. Theo phần 9.327(1) Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) thì: “Lợi ích bảo đảm của người kiểm soát tài khoản ký quỹ hưởng quyền ưu tiên so với lợi ích bảo đảm trên tài khoản ký quỹ của người không kiểm soát tài sản ký quỹ”. Uncitral cũng áp dụng quy tắc kiểm soát để xác định quyền ưu tiên đối với quyền yêu cầu thanh toán từ tài khoản ngân hàng. Lợi ích bảo đảm trên quyền yêu cầu thanh toán từ tài khoản ngân hàng được xác lập bằng kiểm soát thì chủ nợ có bảo đảm kiểm soát quyền này hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm khác. Nếu ngân hàng nơi mở tài khoản ký hợp đồng kiểm soát với nhiều bên nhận bảo đảm thì thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ xác định theo thứ tự giao kết hợp đồng kiểm soát. Nếu ngân hàng nơi mở tài khoản là bên nhận bảo đảm thì bên này hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm khác trừ trường hợp một bên nhận bảo đảm khác là chủ tài khoản[21]. Việt Nam cũng có quy định về BPBĐ ký quỹ, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa hướng dẫn cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp ngân hàng nơi mở tài khoản ký hợp đồng kiểm soát với nhiều bên nhận bảo đảm. Tác giả cho rằng, thời gian tới cần có quy định cụ thể vấn đề này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

5.3. Một số xung đột thứ tự ưu tiên trong các biện pháp bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 có ghi nhận BPBĐ bảo lưu quyền sở hữu, theo đó, trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ với điều kiện có sự thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hoặc lập thành văn bản riêng và nó chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Pháp luật Việt Nam chưa đề cập đến việc điều chỉnh xung đột lợi ích giữa người được bảo lưu quyền sở hữu với các chủ nợ có bảo đảm khác, đặc biệt là đối với đặc quyền cầm giữ tài sản (Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ví dụ, trong trường hợp một người sửa chữa máy móc cầm giữ máy móc (đang là đối tượng bảo đảm của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu), khi bên yêu cầu sửa chữa không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ về chi phí sửa chữa, ai được ưu tiên đối với tài sản bảo đảm này, bên bảo lưu hay bên sửa chữa. Hoặc xung đột giữa người nhận thế chấp với chủ thể có đặc quyền cầm giữ tài sản. Tương tự ví dụ trên, khi người sửa chữa tàu bay, tàu biển cầm giữ tài sản thì người nhận thế chấp hay người sửa chữa sẽ được ưu tiên thanh toán đối với tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển. Vấn đề này, Luật mẫu EBRD cho rằng lợi ích bảo đảm xác lập theo pháp luật cho khoản tiền công dịch vụ hưởng quyền ưu tiên so với các lợi ích bảo đảm khác trên cùng một tài sản, nói cách khác, người có đặc quyền này không phải quan tâm đến các BPBĐ khác[22]. Do vậy, theo tác giả, Việt Nam cần có quy định hướng dẫn rõ vấn đề này và nên theo xu hướng chung của các nước, điều này hoàn toàn hợp lý, lợi ích của người cung cấp dịch vụ cần được bảo vệ.

Hoặc một trường hợp khác, để bảo đảm lợi ích của các nhà tài trợ vốn, pháp luật Mỹ có quy định một BPBĐ, đó là lợi ích bảo đảm trên tài sản mua (purchase-money security interest)[23]. Lợi ích bảo đảm trên tài sản mua dành cho chủ nợ quyền ưu tiên so với các chủ nợ có bảo đảm khác và chủ nợ không có bảo đảm[24]. Ví dụ, bên mua mua sắm máy móc mà tiền mua máy móc được trả bằng tiền vay ngân hàng, lợi ích bảo đảm của ngân hàng trên máy móc này nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ được gọi là lợi ích bảo đảm trên tài sản mua. Việt Nam chưa quy định đặc quyền này cho bên tài trợ vốn, thiết nghĩ đây là một quy định hợp lý, người cấp vốn cần được ưu tiên. Vì thế, Việt Nam có thể xem xét bổ sung quy định này.

Huỳnh Anh

Đại học An Giang



[1]. Trừ BPBĐ “cầm giữ tài sản” được phát sinh không trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên mà trên cơ sở một đặc quyền do luật định.

[2]. Xem: European Bank for Reconstruction and Development, Model Law on Secured Transactions 2004, Điều 16 (phần giải nghĩa).

[3]. Xem từ Điều 309 đến Điều 345 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Xem từ Điều 309 đến Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Trong thực tiễn, BPBĐ có thể lập thành văn bản riêng hoặc được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng.

[6]. United Nation Commission on International Trade Law (2009), Uncitral Legislative guide on secured Transaction - Terminology Recommendations, Vienna, điểm 15, tr. 10.

[7]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 18.

[8]. United Nation Commission on International Trade Law (2010), Uncitral Legislative guide on secured Transaction, New York , tr. 103.

[9]. Xem khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 29 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 2 Điều 39 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[10]. Điều 8 Luật Bán hàng năm 1878 của Vương quốc Anh (sửa đổi năm 1882); xem thêm sách của Beale, H., Bridge, M., Gullifer, L., & Lomnicka, E. (2012). The law of security and title-based financing, OUP Oxford, tr. 627.

[11]. Điều 874 Luật Công ty năm 2006 của Vương Quốc Anh; xem thêm sách của Beale, H., Bridge, M., Gullifer, L., & Lomnicka, E. (2012). The law of security and title-based financing, OUP Oxford, tr. 627, 638.

[12]. Điều 860 Luật Công ty năm 2006 của Vương quốc Anh.

[13]. Trừ trường hợp cầm cố động sản hoặc đặc quyền cầm giữ tài sản.

[14]. Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp được đăng ký thì BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Thời điểm đăng ký được hướng dẫn cụ thể trong Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP.

[15]. Theo pháp luật Việt Nam, đây là biện pháp thế chấp động sản vô hình, vì cầm cố tài sản ở Việt Nam phải có sự chuyển giao (Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015), nhưng tài sản vô hình vốn không thể chuyển giao.

[16]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 11, tr. 11.

[17]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 20, tr. 14.

[18]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 33, tr. 42.

[19]. Donald B. King, Calvin A. Kuenzel, Bradford Stone, W.H. Knight, Jr. Commercial transactions under the Uniform Commercial Code and other laws, New York [etc.]: Mathew Bender, Cop. 1997, tr. 928.

[20]. Công ước về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng thiết bị di động ngày 16/11/2001 tại Cape Town đề cập đến vấn đề áp dụng các BPBĐ bằng thiết bị di động bao gồm “khung tàu bay, máy móc của tàu bay, máy bay trực thăng, các phương tiện, thiết bị chạy trên đường ray và các thiết bị không gian”.

[21]. Xem United Nation Commission on International Trade Law, Uncitral Legislative guide on secured Transaction - Terminology Recommendations - United Naitons, Uncitral Legislative guide, Vienna, 2009, điểm 103, tr. 40.

[22]. European Bank for Reconstruction and Development, Model Law on Secured Transactions 2004, Điều 17.6 (phần giải nghĩa).

[23]. Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, West Group, A Thomson Company, 2001, tr. 630.

[24]. Xem phần 9-103, phần 9-304 UCC.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.

Theo dõi chúng tôi trên: