Thứ ba 06/10/2026 07:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

So sánh quy định về biện pháp bảo đảm trong pháp luật Việt Nam và một số nước trên thế giới

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về biện pháp bảo đảm của Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam.

Tóm tắt: Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về biện pháp bảo đảm của Việt Nam và so sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm ở Việt Nam.

Abstract: The article focuses on some legal issues with respect to secured measures of Vietnam and comparision with the law of some countries in the world, from that point, puts forward proposals for completing law on secured measures in Vietnam.

1. Chủ thể tham gia biện pháp bảo đảm

Đa số các biện pháp bảo đảm (BPBĐ) đều được xác lập qua các hợp đồng bảo đảm (HĐBĐ)[1]. Các bên tham gia HĐBĐ bao gồm bên bảo đảm, bên nhận bảo đảm (chủ nợ có bảo đảm). Ngoài ra, thực tiễn ở các nước cho thấy, HĐBĐ còn xuất hiện bên thứ ba như bên quản lý tài sản bảo đảm, người đại diện của bên nhận bảo đảm, bên xử lý tài sản mà không phải là bên nhận bảo đảm. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về nội dung này. Theo Luật mẫu về giao dịch bảo đảm của Ngân hàng Tái thiết và phát triển Châu Âu (Luật mẫu EBRD), người quản lý là người đại diện của bên nhận bảo đảm, thay mặt bên nhận bảo đảm thực hiện các giao dịch với các bên thứ ba liên quan đến việc thực hiện giao dịch bảo đảm. Cũng theo luật này, người quản lý giao dịch bảo đảm do bên nhận bảo đảm chỉ định. Người này có quyền giám sát việc thanh toán nợ của con nợ, tiến hành các thủ tục xử lý tài sản theo quy định pháp luật, đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm đối với các bên thứ ba liên quan đến việc thực thi giao dịch bảo đảm (không phải là việc chuyển nhượng quyền đối với nghĩa vụ được bảo đảm)[2]. Việt Nam chỉ dừng lại ở quy định các bên có thể thỏa thuận giao cho người thứ ba giữ tài sản trong trường hợp thế chấp và người này có quyền, nghĩa vụ giữ gìn tài sản thế chấp mà không có quy định về việc có thể đại diện cho người nhận thế chấp (Điều 317, Điều 324 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quy định về người quản lý đáp ứng được thực tiễn là bên nhận bảo đảm vì lý do nào đó, chẳng hạn như cư trú ở nước ngoài không thể trực tiếp giải quyết các vấn đề liên quan đến tài sản bảo đảm, nhưng không muốn chuyển nhượng quyền đối với nghĩa vụ bảo đảm cho người khác, khi đó, họ muốn giao cho người tin cậy quản lý tài sản bảo đảm. Người này có thể đại diện cho họ khi thực hiện các quyền liên quan đến nghĩa vụ được bảo đảm, bảo vệ được quyền lợi chính đáng cho họ. Do vậy, tác giả cho rằng, đây là một quy định có thể xem xét để đưa vào pháp luật Việt Nam.

2. Hình thức của hợp đồng bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hình thức của HĐBĐ dựa trên BPBĐ thực hiện nghĩa vụ dân sự. Theo đó, các HĐBĐ phải lập thành văn bản bao gồm hợp đồng bảo lưu quyền sở hữu, hợp đồng tín chấp. Các BPBĐ còn lại không thể hiện rõ hình thức pháp lý nên về nguyên tắc các bên có thể áp dụng quy định về hình thức của giao dịch dân sự là hình thức của HĐBĐ, gồm: Hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng đặt cọc, ký cược, ký quỹ, hợp đồng bảo lãnh[3]. Và như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có những HĐBĐ được quy định phải lập bằng văn bản và có những HĐBĐ không nêu ra yêu cầu về hình thức[4], khi đó về nguyên tắc chúng ta áp dụng quy định về hình thức của giao dịch dân sự để xác định, tức là có thể giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi. Tất nhiên, hình thức của HĐBĐ còn phụ thuộc vào đối tượng của hợp đồng, đối với những tài sản bảo đảm thuộc đối tượng phải lập thành văn bản hoặc buộc công chứng, chứng thực thì phải theo quy định đó (khoản 2 Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ví dụ, tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, là nhà ở, khi xác lập BPBĐ phải lập thành văn bản. Trong pháp luật tín dụng ngân hàng, mặc dù không nêu trực tiếp BPBĐ phải lập thành văn bản, nhưng có yêu cầu lưu giữ hồ sơ gồm có hợp đồng tín dụng và hồ sơ về BPBĐ (Điều 96 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010), điều này gián tiếp buộc HĐBĐ phải được thể hiện dưới dạng văn bản[5]. Về hình thức của giao dịch bảo đảm, theo Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (Uncitral): “Luật nên quy định thỏa thuận bảo đảm có thể bằng miệng nếu bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm. Trong trường hợp khác, thỏa thuận bảo đảm phải được lập thành văn bản, hoặc phải được chứng minh bởi sự kết hợp giữa văn bản và hành vi của các bên xác định ý chí của bên bảo đảm là muốn xác lập một lợi ích bảo đảm”[6]. Ở Việt Nam, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định hầu hết các HĐBĐ phải được lập thành văn bản, còn đến Bộ luật Dân sự năm 2015 thì quy định mở hơn, loại HĐBĐ buộc lập thành văn bản ít hơn như đã nêu. Điều này có xu hướng thống nhất với Uncitral. Tuy nhiên, đối với những HĐBĐ có đối tượng bảo đảm là quyền tài sản, đa số là những tài sản vô hình thì việc cho phép thỏa thuận bằng lời nói sẽ không hợp lý, rất khó để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra. Vấn đề đặt ra là, trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có nên cho phép các bên có thể tự do chọn lựa hình thức của HĐBĐ không? Do vậy, tác giả cho rằng, pháp luật Việt Nam cần có hướng dẫn cụ thể về hình thức của HĐBĐ. Cụ thể:

- Đối với các loại tài sản, pháp luật chỉ cho phép áp dụng hình thức HĐBĐ bằng lời nói khi bên nhận bảo đảm chiếm hữu tài sản bảo đảm;

- Trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại, cần phải quy định “tường minh” HĐBĐ được lập thành văn bản (điều này có thể quy định trong luật chuyên ngành liên quan đến hoạt động ngân hàng);

- Cần xác định khi tài sản bảo đảm là quyền tài sản thì HĐBĐ cần phải lập thành văn bản ngay cả trong HĐBĐ không thuộc lĩnh vực tín dụng ngân hàng.

3. Hiệu lực của biện pháp bảo đảm

HĐBĐ phải tuân thủ các điều kiện của hợp đồng nói chung, bên cạnh đó còn phải tuân thủ các điều kiện riêng của HĐBĐ trong những trường hợp nhất định. Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cạnh các điều kiện về nội dung để một giao dịch có hiệu lực, điều luật này cũng xác định rõ hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp luật có quy định. Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Hiện nay, Bộ luật Dân sự đã tiếp cận vấn đề đăng ký BPBĐ theo hướng xem đó là quyền công dân, theo đó, việc đăng ký chủ yếu giúp xác lập hiệu lực đối kháng với bên thứ ba chứ không nhằm xác lập quyền đối với tài sản bảo đảm. Đây có thể nói là một điểm mới quan trọng trong quy định của pháp luật Việt Nam về giao dịch bảo đảm, điều này phù hợp với quan điểm của Uncitral[7]. Có thể thấy, cách tiếp cận này đã xuất hiện từ lâu ở nhiều nước trên thế giới[8]. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, hiệu lực của HĐBĐ vẫn phụ thuộc vào việc đăng ký BPBĐ. Theo đó, BPBĐ chỉ phát sinh hiệu lực giữa các bên khi đã được đăng ký, tức khi đó mới phát sinh quyền của chủ thể. Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 298) có quy định việc đăng ký là điều kiện có hiệu lực của BPBĐ chỉ trong trường hợp luật có quy định, điều này được hiểu là đối với những BPBĐ luật có quy định đăng ký nhưng không đăng ký sẽ là cơ sở để Tòa án tuyên vô hiệu. Tức là, khi đó không phát sinh quyền của chủ thể bảo đảm đối với tài sản và tất nhiên không phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Các trường hợp buộc đăng ký BPBĐ được thể hiện trong các luật hiện hành[9] và được rà soát, ghi nhận tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (Nghị định số 102/2017/NĐ-CP), Pháp luật Anh cũng có quy định về các trường hợp bắt buộc phải đăng ký BPBĐ và nếu rơi vào các trường hợp này mà không đăng ký thì BPBĐ sẽ vô hiệu, bên nhận bảo đảm sẽ không được hưởng quyền ưu tiên thanh toán so với các bên thứ ba khác. Ví dụ, giao dịch bảo đảm được xác lập trên chứng từ bán hàng phải được đăng ký, nếu không đăng ký giao dịch sẽ vô hiệu[10]. Hoặc Luật Công ty của Vương quốc Anh có quy định các trường hợp bắt buộc đăng ký đối với giao dịch bảo đảm của công ty (company charges), trong thời hạn 21 ngày kể từ ngày xác lập giao dịch mà không đăng ký sẽ bị vô hiệu, không làm phát sinh quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm[11]. Chẳng hạn, đặc quyền bảo đảm cho các chứng khoán nợ; đặc quyền trên vốn cổ phần chưa phát hành của công ty; đặc quyền trên sổ nợ của công ty; đặc quyền trên tàu biển hoặc máy bay hoặc phần giá trị của tàu biển; đặc quyền trên uy tín hoặc quyền sở hữu trí tuệ[12].

Thiết nghĩ, Việt Nam cũng nên có những quy định về đăng ký bắt buộc đối với các tài sản bảo đảm là phần vốn góp, trái phiếu, tài sản trí tuệ để đảm bảo việc được cung cấp thông tin của chủ thể thứ ba đối với các tài sản này. Hiện nay, các tài sản này chỉ được đăng ký bảo đảm khi có yêu cầu (Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP). Bên cạnh đó, Nghị định số 102/2017/NĐ-CP có khả năng gây nên sự ngộ nhận cho người đọc theo hướng cho rằng văn bản dưới luật có thể áp đặt các trường hợp bắt buộc đăng ký BPBĐ. Do vậy, nội dung này nếu được ghi nhận trong một văn bản ở cấp độ luật về đăng ký BPBĐ sẽ hợp lý hơn, trong đó tập hợp tất cả các trường hợp buộc đăng ký BPBĐ, cả những trường hợp chưa được quy định ở bất kỳ luật nào khác.

Có thể nhận thấy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã rất tiến bộ khi phân biệt rạch ròi hiệu lực của HĐBĐ ở hai khía cạnh: Một là, hiệu lực của HĐBĐ trong mối quan hệ giữa bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm; hai là, hiệu lực đối kháng của BPBĐ đối với bên thứ ba. Theo đó, với quy định hiện hành, có thể chia thành 03 trường hợp: (i) Đối với HĐBĐ luật không yêu cầu đăng ký BPBĐ và các bên cũng không tự nguyện đăng ký BPBĐ thì thời điểm BPBĐ phát sinh hiệu lực là thời điểm xác lập HĐBĐ và không làm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba[13]; (ii) Đối với những BPBĐ luật không buộc đăng ký nhưng được đăng ký tự nguyện theo yêu cầu của các bên thì thời điểm có hiệu lực của HĐBĐ phát sinh từ khi xác lập HĐBĐ, nhưng hiệu lực đối kháng với bên thứ ba phát sinh vào thời điểm đăng ký BPBĐ có hiệu lực[14] (khác với Việt Nam, theo Điều 2074, 2075 Bộ luật Dân sự Pháp năm 2005, đối với việc cầm cố động sản vô hình[15], văn bản công chứng hoặc chứng thư được đăng ký hợp lệ còn phải được tống đạt cho người có nghĩa vụ được đảm bảo bằng cầm cố hoặc được người đó chấp nhận bằng một văn bản công chứng); (iii) Đối với HĐBĐ có BPBĐ luật buộc phải đăng ký thì thời điểm HĐBĐ có hiệu lực phụ thuộc vào thời điểm có hiệu lực của việc đăng ký BPBĐ, khi đó, hiệu lực giữa các bên và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba phát sinh cùng lúc vào thời điểm việc đăng ký có hiệu lực. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 2 Điều 407) cũng xác định rõ, HĐBĐ là một dạng ngoại lệ của hợp đồng phụ ở khía cạnh hiệu lực của HĐBĐ không phụ thuộc vào hiệu lực của hợp đồng chính (hợp đồng vay, hợp đồng tín dụng). Nói cách khác, khi hợp đồng tín dụng vô hiệu không làm chấm dứt BPBĐ, tức không làm vô hiệu HĐBĐ.

4. Tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong biện pháp bảo đảm

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai; tài sản bảo đảm có thể được mô tả chung nhưng phải xác định; tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu (Điều 295 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, thực tiễn đặt ra là khi tài sản bảo đảm có sự sáp nhập vào tài sản khác, trộn lẫn hoặc chế biến thành tài sản mới thì liệu BPBĐ trên tài sản bảo đảm vẫn duy trì hiệu lực hay một BPBĐ mới được xác lập? Theo Uncitral (2016) lợi ích bảo đảm trên tài sản hữu hình được xác lập trước khi bị trộn lẫn hoặc chế biến thành sản phẩm mới vẫn tiếp tục có hiệu lực trên tài sản bị trộn lẫn (a mass) hoặc sản phẩm mới (a product). Giá trị của lợi ích bảo đảm được giới hạn trong phạm vi giá trị tài sản bảo đảm trước khi được trộn lẫn hoặc chế biến thành sản phẩm mới[16]. Giao dịch bảo đảm tự động có hiệu lực đối với bên thứ ba sau khi tài sản bảo đảm là tài sản hữu hình sáp nhập vào tài sản khác tạo thành hỗn hợp hay sản phẩm mới mà không phải thực hiện thêm bất kỳ thủ tục nào[17]. Trong trường hợp có nhiều tài sản bảo đảm bị trộn lẫn hoặc chế biến thành tài sản mới thì thứ tự ưu tiên của các lợi ích bảo đảm trên tài sản mới được xác định theo thứ tự phát sinh quyền lợi bảo đảm trước khi tài sản bị trộn lẫn hoặc chế biến[18]. Cho đến nay, dù với sự ra đời của Bộ luật Dân sự năm 2015, Việt Nam vẫn chưa đề cập đến vấn đề này. Thiết nghĩ, Việt Nam cần quy định cụ thể về vấn đề này trong văn bản hướng dẫn thi hành về giao dịch bảo đảm.

5. Quyền ưu tiên của chủ thể trong biện pháp bảo đảm

Quyền ưu tiên được hiểu là quyền được ưu tiên thanh toán trước chủ thể khác khi xử lý tài sản bảo đảm. Quyền ưu tiên cho phép thoát khỏi sự chi phối của pháp luật phá sản và được thanh toán trước tiên trên giá của tài sản.

Khoa học pháp lý trên thế giới đều thừa nhận một nguyên tắc chung trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán, đó là nguyên tắc “first in time rule” (thứ tự về thời gian). Thứ tự thời gian được xác định dựa vào thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm. Luật của Anh quy định trong trường hợp có xung đột quyền yêu cầu thanh toán giữa các chủ nợ có bảo đảm có lợi ích bảo đảm ngang nhau trên cùng một tài sản thì chủ nợ có lợi ích bảo đảm được xác lập trước hưởng quyền ưu tiên trừ trường hợp quyền ưu tiên bị mất bởi các quy tắc pháp lý khác. Luật của Mỹ cũng quy định bên nhận bảo đảm đăng ký trước được hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm đăng ký sau trên cùng một tài sản bảo đảm[19]. Luật mẫu EBRD cũng thừa nhận quy tắc thứ tự về thời gian, tức là thứ tự xác lập giao dịch bảo đảm về mặt thời gian được sử dụng để xác định quyền ưu tiên của các chủ nợ có bảo đảm trên cùng một tài sản bảo đảm. Việt Nam cũng không ngoại lệ, theo đó, pháp luật Việt Nam cũng áp dụng quy tắc thứ tự về thời gian để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhiều chủ nợ có bảo đảm trên cùng một tài sản bảo đảm dựa trên hiệu lực đối kháng với người thứ ba.

5.1. Thứ tự ưu tiên được xác lập dựa trên cơ sở đăng ký biện pháp bảo đảm

Hiệu lực đối kháng được xác lập dựa trên cơ sở đăng ký hoặc nắm giữ tài sản. Trường hợp luật buộc đăng ký thì BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký và thứ tự thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng. Trường hợp có BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba và có BPBĐ không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba thì nghĩa vụ có BPBĐ có hiệu lực đối kháng với người thứ ba được thanh toán trước (Điều 298, Điều 308 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều này cũng dẫn đến hệ quả, đối với cùng một tài sản bảo đảm không buộc đăng ký, nhưng có BPBĐ đăng ký, có BPBĐ không đăng ký thì BPBĐ có đăng ký được ưu tiên thanh toán (Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015), trừ trường hợp hiệu lực đối kháng được xác lập trên cơ sở nắm giữ tài sản (Điều 310, Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015). Điều 29.1 Công ước Cape Town[20] cũng quy định: “Lợi ích bảo đảm đăng ký trước hưởng quyền ưu tiên so với các lợi ích bảo đảm đăng ký sau và các lợi ích bảo đảm không đăng ký”.

5.2. Thứ tự ưu tiên được xác lập dựa trên cơ sở nắm giữ, kiểm soát tài sản bảo đảm

Bên cạnh xác định thứ tự về thời gian và quy tắc ưu tiên đăng ký, pháp luật các nước cũng quy định quy tắc chiếm hữu, kiểm soát tài sản bảo đảm để xác định thứ tự ưu tiên. Việt Nam cũng có những trường hợp quyền ưu tiên phát sinh trên cơ sở nắm giữ tài sản. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, đối với trường hợp biện pháp cầm cố động sản không buộc đăng ký thì thời điểm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản cầm cố; trường hợp biện pháp cầm giữ tài sản thì hiệu lực đối kháng với người thứ ba phát sinh kể từ thời điểm bên cầm giữ chiếm giữ tài sản (Khoản 2 Điều 347, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, pháp luật Việt Nam có vẻ còn thiếu những quy định cụ thể so với các nước. Theo phần 9.327(1) Bộ luật Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) thì: “Lợi ích bảo đảm của người kiểm soát tài khoản ký quỹ hưởng quyền ưu tiên so với lợi ích bảo đảm trên tài khoản ký quỹ của người không kiểm soát tài sản ký quỹ”. Uncitral cũng áp dụng quy tắc kiểm soát để xác định quyền ưu tiên đối với quyền yêu cầu thanh toán từ tài khoản ngân hàng. Lợi ích bảo đảm trên quyền yêu cầu thanh toán từ tài khoản ngân hàng được xác lập bằng kiểm soát thì chủ nợ có bảo đảm kiểm soát quyền này hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm khác. Nếu ngân hàng nơi mở tài khoản ký hợp đồng kiểm soát với nhiều bên nhận bảo đảm thì thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ xác định theo thứ tự giao kết hợp đồng kiểm soát. Nếu ngân hàng nơi mở tài khoản là bên nhận bảo đảm thì bên này hưởng quyền ưu tiên so với các bên nhận bảo đảm khác trừ trường hợp một bên nhận bảo đảm khác là chủ tài khoản[21]. Việt Nam cũng có quy định về BPBĐ ký quỹ, tuy nhiên, pháp luật Việt Nam chưa hướng dẫn cụ thể về thứ tự ưu tiên thanh toán trong trường hợp ngân hàng nơi mở tài khoản ký hợp đồng kiểm soát với nhiều bên nhận bảo đảm. Tác giả cho rằng, thời gian tới cần có quy định cụ thể vấn đề này trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.

5.3. Một số xung đột thứ tự ưu tiên trong các biện pháp bảo đảm

Bộ luật Dân sự năm 2015 có ghi nhận BPBĐ bảo lưu quyền sở hữu, theo đó, trong hợp đồng mua bán, quyền sở hữu tài sản có thể được bên bán bảo lưu cho đến khi nghĩa vụ thanh toán được thực hiện đầy đủ với điều kiện có sự thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hoặc lập thành văn bản riêng và nó chỉ phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Pháp luật Việt Nam chưa đề cập đến việc điều chỉnh xung đột lợi ích giữa người được bảo lưu quyền sở hữu với các chủ nợ có bảo đảm khác, đặc biệt là đối với đặc quyền cầm giữ tài sản (Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015). Ví dụ, trong trường hợp một người sửa chữa máy móc cầm giữ máy móc (đang là đối tượng bảo đảm của biện pháp bảo lưu quyền sở hữu), khi bên yêu cầu sửa chữa không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ về chi phí sửa chữa, ai được ưu tiên đối với tài sản bảo đảm này, bên bảo lưu hay bên sửa chữa. Hoặc xung đột giữa người nhận thế chấp với chủ thể có đặc quyền cầm giữ tài sản. Tương tự ví dụ trên, khi người sửa chữa tàu bay, tàu biển cầm giữ tài sản thì người nhận thế chấp hay người sửa chữa sẽ được ưu tiên thanh toán đối với tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển. Vấn đề này, Luật mẫu EBRD cho rằng lợi ích bảo đảm xác lập theo pháp luật cho khoản tiền công dịch vụ hưởng quyền ưu tiên so với các lợi ích bảo đảm khác trên cùng một tài sản, nói cách khác, người có đặc quyền này không phải quan tâm đến các BPBĐ khác[22]. Do vậy, theo tác giả, Việt Nam cần có quy định hướng dẫn rõ vấn đề này và nên theo xu hướng chung của các nước, điều này hoàn toàn hợp lý, lợi ích của người cung cấp dịch vụ cần được bảo vệ.

Hoặc một trường hợp khác, để bảo đảm lợi ích của các nhà tài trợ vốn, pháp luật Mỹ có quy định một BPBĐ, đó là lợi ích bảo đảm trên tài sản mua (purchase-money security interest)[23]. Lợi ích bảo đảm trên tài sản mua dành cho chủ nợ quyền ưu tiên so với các chủ nợ có bảo đảm khác và chủ nợ không có bảo đảm[24]. Ví dụ, bên mua mua sắm máy móc mà tiền mua máy móc được trả bằng tiền vay ngân hàng, lợi ích bảo đảm của ngân hàng trên máy móc này nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ được gọi là lợi ích bảo đảm trên tài sản mua. Việt Nam chưa quy định đặc quyền này cho bên tài trợ vốn, thiết nghĩ đây là một quy định hợp lý, người cấp vốn cần được ưu tiên. Vì thế, Việt Nam có thể xem xét bổ sung quy định này.

Huỳnh Anh

Đại học An Giang



[1]. Trừ BPBĐ “cầm giữ tài sản” được phát sinh không trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên mà trên cơ sở một đặc quyền do luật định.

[2]. Xem: European Bank for Reconstruction and Development, Model Law on Secured Transactions 2004, Điều 16 (phần giải nghĩa).

[3]. Xem từ Điều 309 đến Điều 345 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4]. Xem từ Điều 309 đến Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[5]. Trong thực tiễn, BPBĐ có thể lập thành văn bản riêng hoặc được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng.

[6]. United Nation Commission on International Trade Law (2009), Uncitral Legislative guide on secured Transaction - Terminology Recommendations, Vienna, điểm 15, tr. 10.

[7]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 18.

[8]. United Nation Commission on International Trade Law (2010), Uncitral Legislative guide on secured Transaction, New York , tr. 103.

[9]. Xem khoản 3 Điều 188 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 29 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); khoản 2 Điều 39 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[10]. Điều 8 Luật Bán hàng năm 1878 của Vương quốc Anh (sửa đổi năm 1882); xem thêm sách của Beale, H., Bridge, M., Gullifer, L., & Lomnicka, E. (2012). The law of security and title-based financing, OUP Oxford, tr. 627.

[11]. Điều 874 Luật Công ty năm 2006 của Vương Quốc Anh; xem thêm sách của Beale, H., Bridge, M., Gullifer, L., & Lomnicka, E. (2012). The law of security and title-based financing, OUP Oxford, tr. 627, 638.

[12]. Điều 860 Luật Công ty năm 2006 của Vương quốc Anh.

[13]. Trừ trường hợp cầm cố động sản hoặc đặc quyền cầm giữ tài sản.

[14]. Theo Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp được đăng ký thì BPBĐ phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký. Thời điểm đăng ký được hướng dẫn cụ thể trong Điều 5 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP.

[15]. Theo pháp luật Việt Nam, đây là biện pháp thế chấp động sản vô hình, vì cầm cố tài sản ở Việt Nam phải có sự chuyển giao (Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015), nhưng tài sản vô hình vốn không thể chuyển giao.

[16]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 11, tr. 11.

[17]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 20, tr. 14.

[18]. United Nations Commission on International Trade Law (2016), Uncitral Model Law On Secured Transactions, Vienna, Điều 33, tr. 42.

[19]. Donald B. King, Calvin A. Kuenzel, Bradford Stone, W.H. Knight, Jr. Commercial transactions under the Uniform Commercial Code and other laws, New York [etc.]: Mathew Bender, Cop. 1997, tr. 928.

[20]. Công ước về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng thiết bị di động ngày 16/11/2001 tại Cape Town đề cập đến vấn đề áp dụng các BPBĐ bằng thiết bị di động bao gồm “khung tàu bay, máy móc của tàu bay, máy bay trực thăng, các phương tiện, thiết bị chạy trên đường ray và các thiết bị không gian”.

[21]. Xem United Nation Commission on International Trade Law, Uncitral Legislative guide on secured Transaction - Terminology Recommendations - United Naitons, Uncitral Legislative guide, Vienna, 2009, điểm 103, tr. 40.

[22]. European Bank for Reconstruction and Development, Model Law on Secured Transactions 2004, Điều 17.6 (phần giải nghĩa).

[23]. Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary, West Group, A Thomson Company, 2001, tr. 630.

[24]. Xem phần 9-103, phần 9-304 UCC.



Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.

Theo dõi chúng tôi trên: