Thứ năm 22/01/2026 11:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Qua bài viết này, tác giả đã làm rõ những vấn đề còn bất cập hiện nay và đưa ra kiến nghị nhằm phát huy vai trò của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Abstract: Ensuring the public participation in setting up programme of making legal normative documents has a crucial meaning in improving rationality, feasibility of legal normative documents. Through this article, the author brings out the inadequate issues at present and proposals for promoting role of the public in the setting up programme of making legal normative documents.

Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bản chất là hoạt động xây dựng nội dung chính sách trong văn bản quy phạm pháp luật và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh ý chí, nguyện vọng của công chúng vào nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để đảm bảo cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, bảo đảm tính hợp lý và khả thi. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, Điều 36, Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

1. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và những vấn đề đặt ra

Công chúng là khái niệm mang nghĩa rộng, hàm chứa trong đó nhiều đối tượng chủ thể. Công chúng có thể hiểu là “bất kỳ bên nào có quyền lợi, bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định được đưa ra mà không phải là bên ra quyết định”[1]. Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không sử dụng thuật ngữ công chúng, nhưng các nhóm đối tượng cần lấy ý kiến trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chính là thuộc phạm vi khái niệm công chúng. Các đối tượng công chúng tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 05 nhóm sau: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường, hiệp hội, hội; đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; cơ quan nhà nước hữu quan.

Thông qua việc nghiên cứu các quy định về sự tham gia của công chúng trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác cho thấy, công chúng có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia vào các hoạt động tư vấn, thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia trong quá trình thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được pháp luật ghi nhận, tuy nhiên để đảm bảo việc thực hiện quyền này trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Một số bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như:

Trước hết, đối với quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã ghi nhận về nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân (mọi đối tượng công chúng) đều có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thông qua việc đóng góp ý kiến khi cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tổ chức lấy ý kiến. Tuy nhiên, quy định trên mới chỉ là nguyên tắc, việc đảm bảo quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa đảm bảo. Hiện nay, chưa có thống kê về số lượng công chúng tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng pháp luật, nhưng qua các số liệu về “tỉ lệ công chúng góp ý trực tiếp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên cổng thông tin điện tử các cơ quan có thẩm quyền là rất hiếm”[2], thì cũng có thể cảm nhận được thực tế hoạt động tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có cơ chế để bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng.

Thứ hai, đối với quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Cơ quan nào có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật”. Do vậy, từ phía công chúng, chỉ có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Còn các đối tượng công chúng khác như: Các tổ chức xã hội không phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản, đều không có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Với quy định trên, trước hết phải thừa nhận rằng, việc cho phép Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo sự tham gia của công chúng. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trên thực tế là rất hiếm. Hiện nay, hệ thống các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đến 44 tổ chức, nhưng các tổ chức này rất ít khi thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế. Một trong các nguyên nhân là do trình tự, thủ tục thực hiện quyền lập đề nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chưa được đảm bảo. Cụ thể, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa quy định việc thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, mà chỉ mới có quy định là “Chính phủ phải cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tổ chức này trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét”[3]. Tuy nhiên, việc cho ý kiến được thực hiện như thế nào, ý kiến đó có nội dung gì và giá trị của ý kiến của Chính phủ ra sao, hay trách nhiệm của Chính phủ với ý kiến của mình như thế nào thì chưa có quy định cụ thể. Trong khi thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một công việc rất quan trọng, là công đoạn bắt buộc phải có trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, giúp cho việc đánh giá một cách toàn diện về nội dung chính sách từ sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh cho đến các vấn đề về tính hợp pháp, hợp hiến, tính thống nhất và tính khả thi của chính sách… từ góc nhìn của chuyên gia và những người có thẩm quyền. Việc thiếu quy định về hoạt động thẩm định đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tạo nên tâm lý e ngại của các tổ chức này, bởi lẽ họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với đề nghị của mình.

Thứ ba, đối với quyền tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn: Trong hoạt động lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đối tượng công chúng như viện nghiên cứu, hội, hiệp hội, chuyên gia, nhà khoa học còn có thể tham gia ở vai trò tư vấn đối với các hoạt động như: (i) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (ii) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách; (iii) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quan đến các chính sách; (iv) Đánh giá tác động của chính sách[4]. Việc quy định sự tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn như trên là rất cần thiết, xuất phát từ xu hướng xây dựng mô hình “nhà nước nhỏ, xã hội lớn” và sự chuyên môn hoá trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, quyền tham gia này còn mang tính chất tuỳ nghi và chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; trách nhiệm, cơ chế tài chính... cho nên việc thực hiện quyền này trên thực tế cũng chưa hiệu quả.

Thứ tư, quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Quyền này hiện nay chỉ dành cho nhóm công chúng là chuyên gia, nhà khoa học và có thể được tham gia với tư cách thành viên hội đồng thẩm định, còn các đối tượng công chúng khác không có quyền tham gia. Tuy nhiên, quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học cũng là tùy nghi, phụ thuộc vào cơ quan chủ trì tiến hành hoạt động thẩm định. Trường hợp cần thiết thì tổ chức họp tư vấn thẩm định hoặc thành lập hội đồng thẩm định có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học[5].

Mặt khác, việc thực hiện quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định cũng còn có những vấn đề như: Việc xác định thế nào là chuyên gia (phải là người nghiên cứu ở các viện, trường về lĩnh vực chuyên môn nhất định hay là những người hoạt động thực tiễn có am hiểu sâu về vấn đề của dự thảo văn bản); tính đại diện của các chuyên gia, nhà khoa học còn thấp, những chuyên gia, nhà khoa học được mời tham gia chủ yếu là thông qua quan hệ quen biết, do vậy có tình trạng vẫn “gương mặt thân quen”…

Thứ năm, đối với quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Việc quy định quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có một ý nghĩa lớn trong việc bảo đảm chức năng lập pháp của Quốc hội. Bởi vì, đây là cơ hội để cơ quan lập pháp lắng nghe trực tiếp ý kiến của công chúng, mà không phải thông qua bộ lọc là cơ quan hành pháp (với hơn 90% đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là do Chính phủ trình[6]). Qua đó, một lần nữa khẳng định sự cần thiết, tính hợp lý, tính khách quan của đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 vẫn không quy định sự tham gia của công chúng vào hoạt động này. Do đó, hoạt động thẩm tra được tiến hành khép kín trong phạm vi của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội với các Ủy ban khác của Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, công chúng không được tham gia.

2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để thu hút sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ngoài các biện pháp cơ bản như: Tuyên truyền phổ biến cho công chúng hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc tham gia, lợi ích của việc tham gia, nâng cao năng lực tổ chức tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoàn thiện việc xây dựng chính phủ điện tử, triển khai Luật Tiếp cận thông tin nhằm tạo điều kiện để công chúng tham gia…thì cần có những quy định cụ thể sau:

Một là, bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quyền trình bày các ý tưởng về chính sách đối với các vấn đề mà công chúng quan tâm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một loại quyền quan trọng, phản ánh sự tham gia của công chúng vào giai đoạn sớm của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Điều này cũng là phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã ghi nhận nguồn sáng kiến xây dựng pháp luật từ rất nhiều các chủ thể như: Nhân dân, cử tri, đại biểu quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các công ty được pháp luật chỉ định…[7].

Nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đối tượng công chúng (chỉ có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà không có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật). Cơ chế đó phải chỉ rõ: Trình tự, thủ tục thực hiện quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; hình thức tiếp nhận đề xuất sáng kiến, địa chỉ tiếp nhận; nội dung cần có của sáng kiến; trách nhiệm của chủ thể đề xuất sáng kiến; quyền của chủ thể đề xuất sáng kiến; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình, tiếp thu đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể tham khảo mô hình do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam gợi ý[8]. Đó là website tiếp nhận ý tưởng/sáng kiến chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Website đó vận hành như sau:

- Các đối tượng công chúng sẽ có thể gửi kiến nghị chính sách theo mẫu có sẵn.

- Mẫu kiến nghị gồm các nội dung sau: Tên kiến nghị (không quá 100 ký tự), mô tả cụ thể về kiến nghị và lý do nêu kiến nghị. Ngoài ra, người nêu kiến nghị phải nêu rõ các thông tin nhân thân của mình như: Tên, ngày sinh, số chứng minh thư, số hộ chiếu, mã số đăng ký kinh doanh (nếu là doanh nghiệp) và các thông tin liên lạc như địa chỉ, nơi công tác, số điện thoại, email.

- Kiến nghị có thể được gửi về theo đường bưu chính, gửi trực tiếp hoặc trên website đến cho đơn vị quản lý website.

- Ngay khi nhận được kiến nghị, đơn vị quản lý website phải đăng kiến nghị đó lên website và cho phép cá nhân, tổ chức khác truy cập để ủng hộ hoặc bình luận.

- Nếu số lượng ủng hộ một kiến nghị chính sách vượt quá một lượng nhất định, cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ trả lời chính thức với kiến nghị đó.

Hai là, xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng. Nhằm mục đích đảm bảo sự tham gia sớm của công chúng vào quy trình xây dựng chính sách cần xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng khác. Ví dụ, có thể tham khảo quy định của pháp luật Italia, theo đó Điều 71 Hiến pháp Italia ghi nhận quyền của các công dân trong việc trình dự án luật (dưới dạng các văn bản với các điều luật cụ thể) ra trước Nghị viện khi có đủ chữ ký của 50.000 cử tri[9].

Ba là, quy định nội dung thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó xác định rõ: Việc bắt buộc phải thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định; nội dung thẩm định; giá trị pháp lý của ý kiến thẩm định; trách nhiệm của cơ quan tổ chức thẩm định; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đối với việc thẩm định.

Bốn là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó làm rõ các vấn đề về tư cách chuyên gia, tính đại diện của các chuyên gia.

Năm là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của công chúng trong giai đoạn thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó cần đảm bảo sự tham gia của các đối tượng công chúng, để cơ quan thẩm tra có thể xem xét toàn diện các vấn đề về chính sách, trước khi chính thức trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét thông qua chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Tóm lại, bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Muốn vậy, Nhà nước phải trao quyền và có cơ chế bảo đảm quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cần xem xét bổ sung các cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền tham gia của công chúng trong từng giai đoạn: Đề xuất sáng kiến, lập đề nghị, thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

ThS. Trần Thị Hương Quế

Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Đức Lam (2015), Giới thiệu về quá trình tham vấn ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành chính sách của cơ quan dân cử, tr. 2.

[2]. Báo cáo đánh giá quá trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, tr. 23.

[3]. Điều 44 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]. Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[5]. Điều 13 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[6]. Báo cáo đánh giá quy trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, Dự án Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, tr. 57.

[7]. Quyền sáng kiến lập pháp của nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

[8]. VCCI (2015), Báo cáo đề xuất thiết lập cơ chế tham vấn thích hợp và hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, tr. 6, http://www.paraff.org/images/Other_documents/C2-053_Bao_cao_de_xuat_co_che_tham_van.pdf.

[9]. Quyền sáng kiến lập pháp của Nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tổ chức, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh và kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt: Vương quốc Anh là quốc gia theo hệ thống Common Law, có tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự khá khác biệt so với các nước theo truyền thống Civil Law, trong đó đề cao tính xã hội hóa trong hoạt động thi hành án dân sự. Trong quá trình phát triển, hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh có một số cải cách, giúp cho hoạt động này ngày càng hiệu quả, phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội. Do đó, việc nghiên cứu làm rõ một số cải cách trong hoạt động thi hành án dân sự tại Vương quốc Anh, từ đó, đưa ra một số đề xuất, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự tại Việt Nam là cần thiết.
Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Hoàn thiện pháp luật về thông báo thi hành án từ góc độ quyền và nghĩa vụ của đương sự

Tóm tắt: Thông báo thi hành án là thủ tục không thể thiếu trong từng giai đoạn của quá trình tổ chức thi hành án dân sự. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về thông báo thi hành án còn tồn tại một số bất cập, hạn chế như chưa tương xứng giữa quyền với nghĩa vụ của đương sự, giữa trách nhiệm với quyền hạn của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và chủ yếu được thực hiện theo hình thức thông báo trực tiếp… Bài viết phân tích pháp luật thực định và thực tiễn thi hành, từ đó, đề xuất hoàn thiện quy định pháp luật liên quan đến thông báo thi hành án để phù hợp thực tiễn, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Hoàn thiện pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích những bất cập trong quy định của pháp luật về nghĩa vụ và quyền giáo dục của cha mẹ đối với con, từ đó, đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy quyền được giáo dục của con trong gia đình được thực hiện hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ em và xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Bàn về một số học thuyết pháp lý và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết tập trung nghiên cứu một số học thuyết và phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật, chỉ ra những bất cập tồn tại trong quy định pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng ở Việt Nam chưa phù hợp với các học thuyết này. Từ đó, nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đại diện giữa vợ và chồng trong thời gian tới.
Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Cải cách thủ tục hành chính thúc đẩy đổi mới sáng tạo

Tóm tắt: Cải cách thủ tục hành chính là yếu tố quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính, thúc đẩy cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đặc biệt là tạo động lực cho đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu này phân tích sự cần thiết của cải cách thủ tục hành chính và thực trạng cải cách thủ tục hành chính ở Việt Nam trong việc khơi thông động lực đổi mới sáng tạo, từ đó, đề xuất giải pháp cải cách.
Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tiếp cận góc độ kinh tế học pháp luật trong hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển tư tưởng về mối quan hệ giữa luật pháp và kinh tế học, tập trung vào trường phái kinh tế học pháp luật với phương pháp phân tích chi phí - lợi ích làm nổi bật vai trò quan trọng của việc cân nhắc các tác động hành vi cùng hiệu quả phân bổ nguồn lực trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Trên cơ sở đó, đề xuất áp dụng phương pháp kinh tế học pháp luật vào quy trình lập pháp tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả, tính minh bạch, sự công bằng xã hội và góp phần thúc đẩy cải cách pháp luật bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp phổ biến nhất trong quan hệ lao động và ngày càng diễn biến phức tạp, cùng với đó, nhu cầu về cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả, linh hoạt và bảo đảm quyền lợi cho các bên cũng ngày càng tăng trong lĩnh vực lao động. Trọng tài lao động với tính chất độc lập và được thiết kế theo cơ chế ba bên, có tiềm năng trở thành phương thức giải quyết tranh chấp lao động cá nhân hiệu quả. Bài viết phân tích thực trạng pháp luật hiện hành về thẩm quyền của trọng tài lao động đối với tranh chấp lao động cá nhân, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số tại Việt Nam

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, phân tích các dấu hiệu nhận diện đặc trưng của tài sản số, những khó khăn, bất cập khi thiếu khung pháp lý về tài sản số và quyền sở hữu tài sản số, kinh nghiệm của Hoa Kỳ và giá trị tham khảo cho Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng khung pháp lý vững chắc giúp Việt Nam có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực công nghệ, bảo vệ quyền lợi của người sở hữu tài sản số, tận dụng tối đa tiềm năng từ tài sản số và tiếp tục vững bước trên con đường phát triển kinh tế số.

Theo dõi chúng tôi trên: