Chủ nhật 11/10/2026 06:34
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Qua bài viết này, tác giả đã làm rõ những vấn đề còn bất cập hiện nay và đưa ra kiến nghị nhằm phát huy vai trò của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Abstract: Ensuring the public participation in setting up programme of making legal normative documents has a crucial meaning in improving rationality, feasibility of legal normative documents. Through this article, the author brings out the inadequate issues at present and proposals for promoting role of the public in the setting up programme of making legal normative documents.

Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bản chất là hoạt động xây dựng nội dung chính sách trong văn bản quy phạm pháp luật và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh ý chí, nguyện vọng của công chúng vào nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để đảm bảo cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, bảo đảm tính hợp lý và khả thi. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, Điều 36, Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

1. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và những vấn đề đặt ra

Công chúng là khái niệm mang nghĩa rộng, hàm chứa trong đó nhiều đối tượng chủ thể. Công chúng có thể hiểu là “bất kỳ bên nào có quyền lợi, bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định được đưa ra mà không phải là bên ra quyết định”[1]. Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không sử dụng thuật ngữ công chúng, nhưng các nhóm đối tượng cần lấy ý kiến trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chính là thuộc phạm vi khái niệm công chúng. Các đối tượng công chúng tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 05 nhóm sau: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường, hiệp hội, hội; đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; cơ quan nhà nước hữu quan.

Thông qua việc nghiên cứu các quy định về sự tham gia của công chúng trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác cho thấy, công chúng có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia vào các hoạt động tư vấn, thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia trong quá trình thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được pháp luật ghi nhận, tuy nhiên để đảm bảo việc thực hiện quyền này trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Một số bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như:

Trước hết, đối với quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã ghi nhận về nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân (mọi đối tượng công chúng) đều có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thông qua việc đóng góp ý kiến khi cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tổ chức lấy ý kiến. Tuy nhiên, quy định trên mới chỉ là nguyên tắc, việc đảm bảo quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa đảm bảo. Hiện nay, chưa có thống kê về số lượng công chúng tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng pháp luật, nhưng qua các số liệu về “tỉ lệ công chúng góp ý trực tiếp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên cổng thông tin điện tử các cơ quan có thẩm quyền là rất hiếm”[2], thì cũng có thể cảm nhận được thực tế hoạt động tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có cơ chế để bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng.

Thứ hai, đối với quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Cơ quan nào có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật”. Do vậy, từ phía công chúng, chỉ có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Còn các đối tượng công chúng khác như: Các tổ chức xã hội không phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản, đều không có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Với quy định trên, trước hết phải thừa nhận rằng, việc cho phép Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo sự tham gia của công chúng. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trên thực tế là rất hiếm. Hiện nay, hệ thống các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đến 44 tổ chức, nhưng các tổ chức này rất ít khi thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế. Một trong các nguyên nhân là do trình tự, thủ tục thực hiện quyền lập đề nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chưa được đảm bảo. Cụ thể, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa quy định việc thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, mà chỉ mới có quy định là “Chính phủ phải cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tổ chức này trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét”[3]. Tuy nhiên, việc cho ý kiến được thực hiện như thế nào, ý kiến đó có nội dung gì và giá trị của ý kiến của Chính phủ ra sao, hay trách nhiệm của Chính phủ với ý kiến của mình như thế nào thì chưa có quy định cụ thể. Trong khi thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một công việc rất quan trọng, là công đoạn bắt buộc phải có trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, giúp cho việc đánh giá một cách toàn diện về nội dung chính sách từ sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh cho đến các vấn đề về tính hợp pháp, hợp hiến, tính thống nhất và tính khả thi của chính sách… từ góc nhìn của chuyên gia và những người có thẩm quyền. Việc thiếu quy định về hoạt động thẩm định đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tạo nên tâm lý e ngại của các tổ chức này, bởi lẽ họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với đề nghị của mình.

Thứ ba, đối với quyền tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn: Trong hoạt động lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đối tượng công chúng như viện nghiên cứu, hội, hiệp hội, chuyên gia, nhà khoa học còn có thể tham gia ở vai trò tư vấn đối với các hoạt động như: (i) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (ii) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách; (iii) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quan đến các chính sách; (iv) Đánh giá tác động của chính sách[4]. Việc quy định sự tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn như trên là rất cần thiết, xuất phát từ xu hướng xây dựng mô hình “nhà nước nhỏ, xã hội lớn” và sự chuyên môn hoá trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, quyền tham gia này còn mang tính chất tuỳ nghi và chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; trách nhiệm, cơ chế tài chính... cho nên việc thực hiện quyền này trên thực tế cũng chưa hiệu quả.

Thứ tư, quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Quyền này hiện nay chỉ dành cho nhóm công chúng là chuyên gia, nhà khoa học và có thể được tham gia với tư cách thành viên hội đồng thẩm định, còn các đối tượng công chúng khác không có quyền tham gia. Tuy nhiên, quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học cũng là tùy nghi, phụ thuộc vào cơ quan chủ trì tiến hành hoạt động thẩm định. Trường hợp cần thiết thì tổ chức họp tư vấn thẩm định hoặc thành lập hội đồng thẩm định có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học[5].

Mặt khác, việc thực hiện quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định cũng còn có những vấn đề như: Việc xác định thế nào là chuyên gia (phải là người nghiên cứu ở các viện, trường về lĩnh vực chuyên môn nhất định hay là những người hoạt động thực tiễn có am hiểu sâu về vấn đề của dự thảo văn bản); tính đại diện của các chuyên gia, nhà khoa học còn thấp, những chuyên gia, nhà khoa học được mời tham gia chủ yếu là thông qua quan hệ quen biết, do vậy có tình trạng vẫn “gương mặt thân quen”…

Thứ năm, đối với quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Việc quy định quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có một ý nghĩa lớn trong việc bảo đảm chức năng lập pháp của Quốc hội. Bởi vì, đây là cơ hội để cơ quan lập pháp lắng nghe trực tiếp ý kiến của công chúng, mà không phải thông qua bộ lọc là cơ quan hành pháp (với hơn 90% đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là do Chính phủ trình[6]). Qua đó, một lần nữa khẳng định sự cần thiết, tính hợp lý, tính khách quan của đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 vẫn không quy định sự tham gia của công chúng vào hoạt động này. Do đó, hoạt động thẩm tra được tiến hành khép kín trong phạm vi của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội với các Ủy ban khác của Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, công chúng không được tham gia.

2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để thu hút sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ngoài các biện pháp cơ bản như: Tuyên truyền phổ biến cho công chúng hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc tham gia, lợi ích của việc tham gia, nâng cao năng lực tổ chức tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoàn thiện việc xây dựng chính phủ điện tử, triển khai Luật Tiếp cận thông tin nhằm tạo điều kiện để công chúng tham gia…thì cần có những quy định cụ thể sau:

Một là, bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quyền trình bày các ý tưởng về chính sách đối với các vấn đề mà công chúng quan tâm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một loại quyền quan trọng, phản ánh sự tham gia của công chúng vào giai đoạn sớm của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Điều này cũng là phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã ghi nhận nguồn sáng kiến xây dựng pháp luật từ rất nhiều các chủ thể như: Nhân dân, cử tri, đại biểu quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các công ty được pháp luật chỉ định…[7].

Nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đối tượng công chúng (chỉ có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà không có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật). Cơ chế đó phải chỉ rõ: Trình tự, thủ tục thực hiện quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; hình thức tiếp nhận đề xuất sáng kiến, địa chỉ tiếp nhận; nội dung cần có của sáng kiến; trách nhiệm của chủ thể đề xuất sáng kiến; quyền của chủ thể đề xuất sáng kiến; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình, tiếp thu đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể tham khảo mô hình do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam gợi ý[8]. Đó là website tiếp nhận ý tưởng/sáng kiến chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Website đó vận hành như sau:

- Các đối tượng công chúng sẽ có thể gửi kiến nghị chính sách theo mẫu có sẵn.

- Mẫu kiến nghị gồm các nội dung sau: Tên kiến nghị (không quá 100 ký tự), mô tả cụ thể về kiến nghị và lý do nêu kiến nghị. Ngoài ra, người nêu kiến nghị phải nêu rõ các thông tin nhân thân của mình như: Tên, ngày sinh, số chứng minh thư, số hộ chiếu, mã số đăng ký kinh doanh (nếu là doanh nghiệp) và các thông tin liên lạc như địa chỉ, nơi công tác, số điện thoại, email.

- Kiến nghị có thể được gửi về theo đường bưu chính, gửi trực tiếp hoặc trên website đến cho đơn vị quản lý website.

- Ngay khi nhận được kiến nghị, đơn vị quản lý website phải đăng kiến nghị đó lên website và cho phép cá nhân, tổ chức khác truy cập để ủng hộ hoặc bình luận.

- Nếu số lượng ủng hộ một kiến nghị chính sách vượt quá một lượng nhất định, cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ trả lời chính thức với kiến nghị đó.

Hai là, xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng. Nhằm mục đích đảm bảo sự tham gia sớm của công chúng vào quy trình xây dựng chính sách cần xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng khác. Ví dụ, có thể tham khảo quy định của pháp luật Italia, theo đó Điều 71 Hiến pháp Italia ghi nhận quyền của các công dân trong việc trình dự án luật (dưới dạng các văn bản với các điều luật cụ thể) ra trước Nghị viện khi có đủ chữ ký của 50.000 cử tri[9].

Ba là, quy định nội dung thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó xác định rõ: Việc bắt buộc phải thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định; nội dung thẩm định; giá trị pháp lý của ý kiến thẩm định; trách nhiệm của cơ quan tổ chức thẩm định; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đối với việc thẩm định.

Bốn là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó làm rõ các vấn đề về tư cách chuyên gia, tính đại diện của các chuyên gia.

Năm là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của công chúng trong giai đoạn thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó cần đảm bảo sự tham gia của các đối tượng công chúng, để cơ quan thẩm tra có thể xem xét toàn diện các vấn đề về chính sách, trước khi chính thức trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét thông qua chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Tóm lại, bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Muốn vậy, Nhà nước phải trao quyền và có cơ chế bảo đảm quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cần xem xét bổ sung các cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền tham gia của công chúng trong từng giai đoạn: Đề xuất sáng kiến, lập đề nghị, thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

ThS. Trần Thị Hương Quế

Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Đức Lam (2015), Giới thiệu về quá trình tham vấn ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành chính sách của cơ quan dân cử, tr. 2.

[2]. Báo cáo đánh giá quá trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, tr. 23.

[3]. Điều 44 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]. Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[5]. Điều 13 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[6]. Báo cáo đánh giá quy trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, Dự án Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, tr. 57.

[7]. Quyền sáng kiến lập pháp của nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

[8]. VCCI (2015), Báo cáo đề xuất thiết lập cơ chế tham vấn thích hợp và hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, tr. 6, http://www.paraff.org/images/Other_documents/C2-053_Bao_cao_de_xuat_co_che_tham_van.pdf.

[9]. Quyền sáng kiến lập pháp của Nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: