Thứ năm 25/06/2026 01:45
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Tóm tắt: Bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, tính khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Qua bài viết này, tác giả đã làm rõ những vấn đề còn bất cập hiện nay và đưa ra kiến nghị nhằm phát huy vai trò của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Abstract: Ensuring the public participation in setting up programme of making legal normative documents has a crucial meaning in improving rationality, feasibility of legal normative documents. Through this article, the author brings out the inadequate issues at present and proposals for promoting role of the public in the setting up programme of making legal normative documents.

Lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bản chất là hoạt động xây dựng nội dung chính sách trong văn bản quy phạm pháp luật và có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc phản ánh ý chí, nguyện vọng của công chúng vào nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, là cơ sở để đảm bảo cho việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có chất lượng, bảo đảm tính hợp lý và khả thi. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và Điều 6, Điều 36, Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

1. Quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và những vấn đề đặt ra

Công chúng là khái niệm mang nghĩa rộng, hàm chứa trong đó nhiều đối tượng chủ thể. Công chúng có thể hiểu là “bất kỳ bên nào có quyền lợi, bị ảnh hưởng hoặc liên quan đến quyết định được đưa ra mà không phải là bên ra quyết định”[1]. Mặc dù Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 không sử dụng thuật ngữ công chúng, nhưng các nhóm đối tượng cần lấy ý kiến trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật chính là thuộc phạm vi khái niệm công chúng. Các đối tượng công chúng tham gia vào quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gồm 05 nhóm sau: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học, viện nghiên cứu, trường, hiệp hội, hội; đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản; cơ quan nhà nước hữu quan.

Thông qua việc nghiên cứu các quy định về sự tham gia của công chúng trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác cho thấy, công chúng có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia vào các hoạt động tư vấn, thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, quyền tham gia trong quá trình thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Mặc dù quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được pháp luật ghi nhận, tuy nhiên để đảm bảo việc thực hiện quyền này trên thực tế vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Một số bất cập trong quá trình triển khai thực hiện quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật như:

Trước hết, đối với quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 đã ghi nhận về nguyên tắc mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân (mọi đối tượng công chúng) đều có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, thông qua việc đóng góp ý kiến khi cơ quan, tổ chức có trách nhiệm lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật tổ chức lấy ý kiến. Tuy nhiên, quy định trên mới chỉ là nguyên tắc, việc đảm bảo quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng trong giai đoạn lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật vẫn chưa đảm bảo. Hiện nay, chưa có thống kê về số lượng công chúng tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng pháp luật, nhưng qua các số liệu về “tỉ lệ công chúng góp ý trực tiếp vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật trên cổng thông tin điện tử các cơ quan có thẩm quyền là rất hiếm”[2], thì cũng có thể cảm nhận được thực tế hoạt động tham gia đề xuất ý tưởng chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng. Do vậy, vấn đề đặt ra là cần có cơ chế để bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của công chúng.

Thứ hai, đối với quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Điều 32 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định: “Cơ quan nào có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thì có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật”. Do vậy, từ phía công chúng, chỉ có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Còn các đối tượng công chúng khác như: Các tổ chức xã hội không phải là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; các chuyên gia, nhà khoa học và đối tượng chịu tác động trực tiếp của văn bản, đều không có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Với quy định trên, trước hết phải thừa nhận rằng, việc cho phép Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo sự tham gia của công chúng. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trên thực tế là rất hiếm. Hiện nay, hệ thống các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có đến 44 tổ chức, nhưng các tổ chức này rất ít khi thực hiện quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế. Một trong các nguyên nhân là do trình tự, thủ tục thực hiện quyền lập đề nghị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng chưa được đảm bảo. Cụ thể, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chưa quy định việc thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, mà chỉ mới có quy định là “Chính phủ phải cho ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tổ chức này trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét”[3]. Tuy nhiên, việc cho ý kiến được thực hiện như thế nào, ý kiến đó có nội dung gì và giá trị của ý kiến của Chính phủ ra sao, hay trách nhiệm của Chính phủ với ý kiến của mình như thế nào thì chưa có quy định cụ thể. Trong khi thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là một công việc rất quan trọng, là công đoạn bắt buộc phải có trong quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, giúp cho việc đánh giá một cách toàn diện về nội dung chính sách từ sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh cho đến các vấn đề về tính hợp pháp, hợp hiến, tính thống nhất và tính khả thi của chính sách… từ góc nhìn của chuyên gia và những người có thẩm quyền. Việc thiếu quy định về hoạt động thẩm định đối với đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã tạo nên tâm lý e ngại của các tổ chức này, bởi lẽ họ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn với đề nghị của mình.

Thứ ba, đối với quyền tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn: Trong hoạt động lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đối tượng công chúng như viện nghiên cứu, hội, hiệp hội, chuyên gia, nhà khoa học còn có thể tham gia ở vai trò tư vấn đối với các hoạt động như: (i) Tổng kết, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; (ii) Khảo sát, điều tra xã hội học; đánh giá thực trạng quan hệ xã hội có liên quan đến các chính sách; (iii) Tập hợp, nghiên cứu, so sánh tài liệu, điều ước quốc tế có liên quan đến các chính sách; (iv) Đánh giá tác động của chính sách[4]. Việc quy định sự tham gia của công chúng vào các hoạt động tư vấn như trên là rất cần thiết, xuất phát từ xu hướng xây dựng mô hình “nhà nước nhỏ, xã hội lớn” và sự chuyên môn hoá trong hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, quyền tham gia này còn mang tính chất tuỳ nghi và chưa có quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; trách nhiệm, cơ chế tài chính... cho nên việc thực hiện quyền này trên thực tế cũng chưa hiệu quả.

Thứ tư, quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Quyền này hiện nay chỉ dành cho nhóm công chúng là chuyên gia, nhà khoa học và có thể được tham gia với tư cách thành viên hội đồng thẩm định, còn các đối tượng công chúng khác không có quyền tham gia. Tuy nhiên, quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học cũng là tùy nghi, phụ thuộc vào cơ quan chủ trì tiến hành hoạt động thẩm định. Trường hợp cần thiết thì tổ chức họp tư vấn thẩm định hoặc thành lập hội đồng thẩm định có sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học[5].

Mặt khác, việc thực hiện quyền tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định cũng còn có những vấn đề như: Việc xác định thế nào là chuyên gia (phải là người nghiên cứu ở các viện, trường về lĩnh vực chuyên môn nhất định hay là những người hoạt động thực tiễn có am hiểu sâu về vấn đề của dự thảo văn bản); tính đại diện của các chuyên gia, nhà khoa học còn thấp, những chuyên gia, nhà khoa học được mời tham gia chủ yếu là thông qua quan hệ quen biết, do vậy có tình trạng vẫn “gương mặt thân quen”…

Thứ năm, đối với quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Việc quy định quyền tham gia của công chúng trong hoạt động thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có một ý nghĩa lớn trong việc bảo đảm chức năng lập pháp của Quốc hội. Bởi vì, đây là cơ hội để cơ quan lập pháp lắng nghe trực tiếp ý kiến của công chúng, mà không phải thông qua bộ lọc là cơ quan hành pháp (với hơn 90% đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là do Chính phủ trình[6]). Qua đó, một lần nữa khẳng định sự cần thiết, tính hợp lý, tính khách quan của đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 vẫn không quy định sự tham gia của công chúng vào hoạt động này. Do đó, hoạt động thẩm tra được tiến hành khép kín trong phạm vi của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội với các Ủy ban khác của Quốc hội và Hội đồng Dân tộc, công chúng không được tham gia.

2. Một số kiến nghị nhằm đảm bảo sự tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

Để thu hút sự tham gia của công chúng vào hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, ngoài các biện pháp cơ bản như: Tuyên truyền phổ biến cho công chúng hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc tham gia, lợi ích của việc tham gia, nâng cao năng lực tổ chức tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, hoàn thiện việc xây dựng chính phủ điện tử, triển khai Luật Tiếp cận thông tin nhằm tạo điều kiện để công chúng tham gia…thì cần có những quy định cụ thể sau:

Một là, bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật là quyền trình bày các ý tưởng về chính sách đối với các vấn đề mà công chúng quan tâm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là một loại quyền quan trọng, phản ánh sự tham gia của công chúng vào giai đoạn sớm của quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Điều này cũng là phổ biến ở các quốc gia trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã ghi nhận nguồn sáng kiến xây dựng pháp luật từ rất nhiều các chủ thể như: Nhân dân, cử tri, đại biểu quốc hội, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, các công ty được pháp luật chỉ định…[7].

Nhà nước cần xây dựng cơ chế bảo đảm quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của các đối tượng công chúng (chỉ có quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mà không có quyền trình dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật). Cơ chế đó phải chỉ rõ: Trình tự, thủ tục thực hiện quyền đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; hình thức tiếp nhận đề xuất sáng kiến, địa chỉ tiếp nhận; nội dung cần có của sáng kiến; trách nhiệm của chủ thể đề xuất sáng kiến; quyền của chủ thể đề xuất sáng kiến; trách nhiệm tiếp nhận, giải trình, tiếp thu đề xuất sáng kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể tham khảo mô hình do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam gợi ý[8]. Đó là website tiếp nhận ý tưởng/sáng kiến chính sách xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Website đó vận hành như sau:

- Các đối tượng công chúng sẽ có thể gửi kiến nghị chính sách theo mẫu có sẵn.

- Mẫu kiến nghị gồm các nội dung sau: Tên kiến nghị (không quá 100 ký tự), mô tả cụ thể về kiến nghị và lý do nêu kiến nghị. Ngoài ra, người nêu kiến nghị phải nêu rõ các thông tin nhân thân của mình như: Tên, ngày sinh, số chứng minh thư, số hộ chiếu, mã số đăng ký kinh doanh (nếu là doanh nghiệp) và các thông tin liên lạc như địa chỉ, nơi công tác, số điện thoại, email.

- Kiến nghị có thể được gửi về theo đường bưu chính, gửi trực tiếp hoặc trên website đến cho đơn vị quản lý website.

- Ngay khi nhận được kiến nghị, đơn vị quản lý website phải đăng kiến nghị đó lên website và cho phép cá nhân, tổ chức khác truy cập để ủng hộ hoặc bình luận.

- Nếu số lượng ủng hộ một kiến nghị chính sách vượt quá một lượng nhất định, cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ trả lời chính thức với kiến nghị đó.

Hai là, xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng. Nhằm mục đích đảm bảo sự tham gia sớm của công chúng vào quy trình xây dựng chính sách cần xem xét việc mở rộng quyền lập đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật cho các đối tượng công chúng khác. Ví dụ, có thể tham khảo quy định của pháp luật Italia, theo đó Điều 71 Hiến pháp Italia ghi nhận quyền của các công dân trong việc trình dự án luật (dưới dạng các văn bản với các điều luật cụ thể) ra trước Nghị viện khi có đủ chữ ký của 50.000 cử tri[9].

Ba là, quy định nội dung thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó xác định rõ: Việc bắt buộc phải thẩm định đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; cơ quan chịu trách nhiệm thẩm định; nội dung thẩm định; giá trị pháp lý của ý kiến thẩm định; trách nhiệm của cơ quan tổ chức thẩm định; trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên đối với việc thẩm định.

Bốn là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học trong hoạt động thẩm định đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó làm rõ các vấn đề về tư cách chuyên gia, tính đại diện của các chuyên gia.

Năm là, quy định việc bắt buộc có sự tham gia của công chúng trong giai đoạn thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó cần đảm bảo sự tham gia của các đối tượng công chúng, để cơ quan thẩm tra có thể xem xét toàn diện các vấn đề về chính sách, trước khi chính thức trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội xem xét thông qua chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Tóm lại, bảo đảm sự tham gia của công chúng vào giai đoạn lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao tính hợp lý, khả thi của văn bản quy phạm pháp luật. Muốn vậy, Nhà nước phải trao quyền và có cơ chế bảo đảm quyền tham gia của công chúng trong hoạt động lập chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Đồng thời, cần xem xét bổ sung các cơ chế đảm bảo việc thực hiện quyền tham gia của công chúng trong từng giai đoạn: Đề xuất sáng kiến, lập đề nghị, thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

ThS. Trần Thị Hương Quế

Học viện Hành chính Quốc gia

Tài liệu tham khảo:

[1]. Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Thị Kỳ, Nguyễn Đức Lam (2015), Giới thiệu về quá trình tham vấn ý kiến nhân dân trong quá trình ban hành chính sách của cơ quan dân cử, tr. 2.

[2]. Báo cáo đánh giá quá trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, tr. 23.

[3]. Điều 44 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[4]. Điều 11 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[5]. Điều 13 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

[6]. Báo cáo đánh giá quy trình tham vấn trong lập pháp, lập quy ở Việt Nam, Dự án Tăng cường năng lực lập pháp của Quốc hội, tr. 57.

[7]. Quyền sáng kiến lập pháp của nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

[8]. VCCI (2015), Báo cáo đề xuất thiết lập cơ chế tham vấn thích hợp và hiệu quả đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, tr. 6, http://www.paraff.org/images/Other_documents/C2-053_Bao_cao_de_xuat_co_che_tham_van.pdf.

[9]. Quyền sáng kiến lập pháp của Nghị viện một số nước, http://vnclp.gov.vn/ct/cms/Lists/DeTaiNghienCuu/View_ Detail.aspx?ItemID=58.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: