Chủ nhật 15/03/2026 08:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của Viện kiểm sát trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Bản dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi được trình ra Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII vừa qua diễn ra vào tháng 5/2015 . Một trong số những nội dung được xây dựng hoàn toàn mới trong dự thảo Bộ luật này chính là việc bổ sung chế định thủ tục rút gọn (TTRG) giải quyết vụ án dân sự. Hàng loại các vấn đề được đặt ra, đó là vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong các vụ án dân sự được áp dụng TTRG có gì khác so với các vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) sẽ quy định vấn đề này như thế nào, sự tham gia phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm của VKS trong các vụ án dân sự có cần thiết hay không...

Theo quan điểm của chúng tôi, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới nên quy định cụ thể về vai trò kiểm sát trong TTDS. Theo đó, vai trò này có thể thông qua việc kiểm tra, giám sát các giai đoạn của quá trình tố tụng bằng nghiên cứu hồ sơ, thực hiện hành vi yêu cầu, kiến nghị và đặc biệt là kháng nghị theo quy định của pháp luật (quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành) và chỉ tham gia giới hạn trong một số phiên tòa. Chính vì vậy, không cần có sự tham gia của đại diện VKS trong các phiên tòa sơ thẩm đối với vụ án được giải quyết theo TTRG và đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.

1. Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013[1] quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Ở đại đa số các nước trên thế giới, cơ quan công tố không có vai trò trong các vụ án dân sự. Tuy nhiên ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKS có nhiệm vụ “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”.

Đối với chức năng “kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKS được quy định trong các đạo luật về tố tụng. Phạm vi pham gia của VKS trong hoạt động TTDS vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Trong quá trình lấy ý kiến dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, có ý kiến nêu rằng VKS thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án chỉ nên thông qua quyền năng kháng nghị. Nhưng có quan điểm khác cho rằng nên giữ nguyên quy định sự tham gia của VKS như tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, cụ thể: “Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.

Như vậy, dựa trên nền tảng nguyên tắc hiến định, nguyên tắc kiểm sát hoạt động xét xử trong TTDS nói chung và trong việc xét xử theo TTRG nói riêng là vấn đề phụ thuộc vào quy định của pháp luật TTDS.

2. Sự tham gia của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn

Vai trò, chức năng của VKS trong TTDS nói chung và tại phiên tòa sơ thẩm được quy định cụ thể tại Điều 21, Điều 207 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, VKS tham gia hầu hết các phiên tòa sơ thẩm (khoản 2 Điều 21).

Phiên tòa sơ thẩm có thể bị hoãn nếu vắng mặt đại diện VKS trong các trường hợp VKS phải có mặt (quy định tại Điều 207 và Điều 208). Hoạt động của VKS tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện qua bước “hỏi” của phiên tòa, tiếp theo đó tại bước “tranh luận”. VKS chỉ phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án mà không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án (theo quy định tại Điều 234).

Như vậy, đối với các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói chung hiện nay (trong đó có các vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG), theo quy định tại khoản 2 Điều 21 có thể nhận thấy, hầu hết các phiên tòa này đều phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát (vì đối với vụ án mà Tòa án thu thập chứng cứ là khá phổ biến trong thực tiễn xét xử hiện nay). Vì vậy, lẽ dĩ nhiên, nếu đại diện VKS vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa.

Xung quanh vấn đề cần quy định về sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm dân sự hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, cần có sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự theo như quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay để cơ quan này kiểm sát tất cả các hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng trước, trong và sau khi tòa diễn ra. Vì theo yêu cầu của cải cách tư pháp, hoạt động xét xử tại phiên tòa, phiên họp là trọng tâm trong giải quyết các vụ việc dân sự. Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phiên họp. Do đó, nếu VKS không tham gia phiên tòa, phiên họp sẽ không giải quyết tốt được quyền kiểm sát của mình. Có ý kiến chỉ rõ rằng: “Trong các phương thức kiểm sát thì hoạt động kiểm sát tại phiên tòa là phương thức hiệu quả nhất. Nếu chỉ tham gia nghiên cứu hồ sơ, quyết định, bản án thì VKS rất khó phát hiện vi phạm. Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn”[2].

Quan điểm khác ngược lại cho rằng, việc quy định VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự như hiện nay là không cần thiết. Chính điều này trên thực tế đã làm cho nhiều phiên tòa sơ thẩm phải bị hoãn vì lý do vắng mặt của VKS. Ngoài ra, không quy định bắt buộc phải có đại diện VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm cũng không làm mất đi hoặc hạn chế quyền giám sát hoạt động tư pháp của VKS. Bởi lẽ, theo quy định hiện nay, VKS có thể thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21).

Như vậy, cần cân nhắc bản chất vụ việc dân sự cốt là ở hai bên đương sự tự định đoạt[3] khi xem xét vấn đề có cần thiết quy định sự tham gia của VKS ở mức độ nào. Nên chăng giới hạn sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt đối với những vụ án áp dụng TTRG[4] nhằm tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của VKS và tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp. Đây là vấn đề cần phải được cân nhắc, xem xét và quy định cho phù hợp bởi lẽ “nếu có VKS tham gia là vi phạm nguyên tắc lợi ích tư đang được tố tụng thế giới tôn trọng. Nếu cho VKS tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ để nhận định về tố tụng xem tòa xử đúng hay sai thì không có ý nghĩa”[5].

Trong thực tiễn xét xử khá nhiều các vụ án dân sự nói chung đã có sự thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ từ phía bị đơn nhưng Tòa án vẫn phải gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và chỉ có thể tiến hành phiên tòa khi có mặt của VKS. Nhưng trên thực tế, qua nghiên cứu của chúng tôi, với tính chất của các vụ án như vậy thì “đóng góp” của VKS dường như rất hạn chế. Khi tham gia vụ án này tại phiên tòa sơ thẩm, ý kiến của VKS cũng chỉ giới hạn như sau: “Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩmquyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu”.

Như vậy, việc gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và sự tham gia của VKS tại phiên tòa cũng chỉ giới hạn ở việc kiểm tra các trình tự, tố tụng đã tuân thủ hay chưa chứ không có ý kiến gì về nội dung và đề xuất về phương án giải quyết vụ án vì bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ ngoài việc VKS có thể cho ý kiến về tính hợp pháp của các yêu cầu khởi kiện.

Thiết nghĩ, khi giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí áp dụng TTRG như khi bị đơn đã thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ nhưng vì nhiều lý do khác nhau bị đơn không thực hiện nghĩa vụ nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, vẫn phải bảo đảm việc hòa giải cho dù đa số trường hợp mang tính hình thức… Đặc biệt vẫn phải bảo đảm sự tham gia của VKS mà vai trò và sự đóng góp không thực sự là cần thiết trong những trường hợp này.

Dự thảo của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hoàn toàn không đề cập đến sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm có áp dụng đặc thù của các vụ án áp dụng TTRG. Theo quy định tại Điều 22 của dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS vẫn ghi nhận hai phương án sửa đổi: Một phương án giữ nguyên như Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành[6] và một phương án khác thu hẹp sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm[7]. Tuy nhiên, cả hai phương án đều không quy định đối với vụ án áp dụng TTRG thì VKS có tham gia phiên tòa sơ thẩm hay không.

Tác giả cho rằng để hài hòa giữa việc bảo đảm nguyên tắc hiến định là Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử và hiệu quả công tác xét xử, nên xác định vai trò tham gia của VKS tại giai đoạn sơ thẩm đối với các vụ án được giải quyết theo TTRG ở mức đủ để bảo đảm việc thực hiện chức năng giám sát của VKS.

Như vậy, đối với các vụ án dân sự áp dụng TTRG, thì ở cấp sơ thẩm vai trò của VKS chỉ nên giới hạn trong việc thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21). Bởi lẽ, các vụ án được giải quyết theo TTRG thì về cơ bản các tình tiết của vụ án đã rõ, cũng không phức tạp kể cả về mặt xác định sự thật khách quan của vụ án và áp dụng pháp luật nên VKS không cần thiết phải tham gia phiên tòa để giám sát trực tiếp hoạt động xét xử của Tòa án.

Như vậy, nếu lựa chọn phương án giữ nguyên như quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, khi đó vụ án áp dụng TTRG mà đáp ứng một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 thì vẫn phải có sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm để giải quyết đối với vụ án đó. Chúng tôi cho rằng, quy định này là không phù hợp. Quan điểm của chúng tôi, dù có lựa chọn phương án nào cho sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự nói chung thì cũng không thể áp dụng tương tự cho những vụ án dân sự áp dụng TTRG.

3. Về vai trò và phạm vi tham gia của Viện kiểm sát tại cấp phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng với Điều 293 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi), kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia các phiên tòa phúc thẩm. Cũng tương tự như sự phân tích vai trò của VKS khi thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTDS nói riêng. Theo tác giả, nếu theo hướng quy định hạn chế sự tham gia của VKS ở thủ tục sơ thẩm thì cần thiết ở phiên tòa phúc thẩm cũng cần phải có quy định hạn chế sự tham gia của VKS. Chúng tôi cho rằng, không nên quy định đại diện VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm trừ trường hợp việc xét xử phúc thẩm được thực hiện do có kháng nghị của VKS.

Khác với sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm không được quy định cụ thể, Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hiện nay đã có ghi nhận rõ về việc VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm khi có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án áp dụng TTRG. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quy định này.

Kết luận

Khi xây dựng các quy định liên quan đến việc tham gia của VKS trong quá trình tố tụng giải quyết những vụ án dân sự áp dụng TTRG cần nghiên cứu và sửa đổi để làm sao vừa bảo đảm vai trò và chức năng kiểm sát của VKS trong TTDS nhưng đồng thời vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do quyết định và định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung và đặc biệt làm sao để đảm bảo cho việc giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG được nhanh chóng, rút gọn thời gian mà vẫn hiệu quả và đảm bảo công lý.

Từ đây, chúng tôi nhận thấy cần xem xét và cân nhắc khi quy định sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự áp dụng TTRG tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới, làm sao đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu công lý với quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp gây lãng phí thời gian, chi phí cho các đương sự và cho toàn xã hội. Cụ thể, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 21 và khoản 2 Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng Điều 232, Điều 22 và khoản 5 Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi) về sự tham gia phiên tòa của VKS đối với những vụ án áp dụng TTRG theo hướng VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị của VKS.

Đặng Thanh Hoa

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tài sản số và yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và tiến trình chuyển đổi số đã hình thành một loại tài sản mới (tài sản số) được tạo lập, lưu trữ, định danh và giao dịch trong môi trường điện tử. Đây là xu thế tất yếu, đồng thời, đặt ra thách thức lớn đối với hệ thống pháp luật truyền thống, được thiết kế cho tài sản hữu hình. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã chính thức thừa nhận tính hợp pháp của tài sản số, bước đầu tạo nền tảng pháp lý cho việc đăng ký, định giá, quản lý, bảo hộ và giải quyết tranh chấp liên quan. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành chưa theo kịp thực tiễn phát triển năng động của loại hình tài sản này. Bài viết phân tích khái niệm, phân loại, vai trò của tài sản số; đánh giá khung pháp luật hiện hành; chỉ ra những hạn chế trong quản lý, xử lý vi phạm và cơ chế bảo vệ quyền sở hữu; từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn, minh bạch và phát triển bền vững thị trường tài sản số ở Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Một số vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển

Tóm tắt: Trong kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ là yếu tố then chốt góp phần quan trọng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển tư nhân. Bài viết nghiên cứu một số bất cập về pháp luật sở hữu trí tuệ, từ đó, đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời, đưa ra giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp trong việc khai thác hiệu quả giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số - thách thức và giải pháp

Tóm tắt: Kỷ nguyên số đã và đang tạo nhiều cơ hội để tiếp cận các tác phẩm ngày càng dễ dàng hơn với nhiều phương thức khác nhau. Tuy nhiên, thời đại kỷ nguyên số cũng đặt ra không ít thách thức trong việc bảo hộ quyền tác giả như sự xuất hiện của những loại hình tác phẩm mới, sự ra đời của những tác phẩm do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi xâm phạm với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet cùng các công nghệ mới… Bài viết phân tích những thách thức về bảo hộ quyền tác giả trong kỷ nguyên số, đồng thời đề xuất một số giải pháp cho Việt Nam về vấn đề này.
Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc và một số kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Quấy rối tình dục tại nơi làm việc ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần và tâm lý của người lao động, khiến cho hiệu quả công việc của họ bị giảm sút và môi trường làm việc trở nên thiếu an toàn. Do vậy, pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia đều có quy định để bảo đảm môi trường làm việc lành mạnh cũng như bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Pháp luật Việt Nam cũng đã đặt ra các quy định để ngăn ngừa, hạn chế quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Bài viết tập trung làm rõ những vấn đề pháp lý về phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc trên phương diện pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, qua đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này ở Việt Nam.
Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Bàn về trách nhiệm pháp lý trong khám, chữa bệnh từ xa và y tế số ở Việt Nam

Tóm tắt: Bối cảnh chuyển đổi số ngành y tế đặt ra yêu cầu cần phân định rõ trách nhiệm giữa bác sĩ, cơ sở y tế, nhà cung cấp nền tảng và nhà phát triển phần mềm. Để thực hiện điều này, bài viết phân tích, làm rõ các dạng trách nhiệm pháp lý phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh từ xa và ứng dụng công nghệ số, những khoảng trống pháp lý đáng chú ý, đặc biệt, về tiêu chuẩn kỹ thuật, nghĩa vụ minh bạch và cơ chế bảo vệ người bệnh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng xây dựng khung pháp lý phù hợp, nhằm kiểm soát rủi ro mà vẫn thúc đẩy đổi mới trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam.
Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Hoàn thiện quy định pháp luật về thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp gắn với bảo vệ hoạt động kinh doanh

Tóm tắt: Thi hành án dân sự nhanh, hiệu quả góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng cho các bên có liên quan, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng. Để bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động kinh doanh lành mạnh, bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành về trình tự, thủ tục thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp, chỉ ra những hạn chế, bất cập có thể cản trở hoạt động kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự theo hướng vừa bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, vừa tạo điều kiện để doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của khu vực kinh tế tư nhân trong bối cảnh hiện nay.
Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Định giá tài sản kê biên trong thi hành án dân sự - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Định giá tài sản kê biên có vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công tác thi hành án dân sự. Vì vậy, để góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và công bằng trong hoạt động thi hành án dân sự, bài viết phân tích các quy định hiện hành của Luật Thi hành án dân sự về định giá tài sản kê biên, chỉ ra những hạn chế, bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.

Theo dõi chúng tôi trên: