Thứ năm 18/06/2026 02:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của Viện kiểm sát trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Bản dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi được trình ra Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII vừa qua diễn ra vào tháng 5/2015 . Một trong số những nội dung được xây dựng hoàn toàn mới trong dự thảo Bộ luật này chính là việc bổ sung chế định thủ tục rút gọn (TTRG) giải quyết vụ án dân sự. Hàng loại các vấn đề được đặt ra, đó là vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong các vụ án dân sự được áp dụng TTRG có gì khác so với các vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) sẽ quy định vấn đề này như thế nào, sự tham gia phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm của VKS trong các vụ án dân sự có cần thiết hay không...

Theo quan điểm của chúng tôi, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới nên quy định cụ thể về vai trò kiểm sát trong TTDS. Theo đó, vai trò này có thể thông qua việc kiểm tra, giám sát các giai đoạn của quá trình tố tụng bằng nghiên cứu hồ sơ, thực hiện hành vi yêu cầu, kiến nghị và đặc biệt là kháng nghị theo quy định của pháp luật (quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành) và chỉ tham gia giới hạn trong một số phiên tòa. Chính vì vậy, không cần có sự tham gia của đại diện VKS trong các phiên tòa sơ thẩm đối với vụ án được giải quyết theo TTRG và đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.

1. Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013[1] quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Ở đại đa số các nước trên thế giới, cơ quan công tố không có vai trò trong các vụ án dân sự. Tuy nhiên ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKS có nhiệm vụ “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”.

Đối với chức năng “kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKS được quy định trong các đạo luật về tố tụng. Phạm vi pham gia của VKS trong hoạt động TTDS vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Trong quá trình lấy ý kiến dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, có ý kiến nêu rằng VKS thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án chỉ nên thông qua quyền năng kháng nghị. Nhưng có quan điểm khác cho rằng nên giữ nguyên quy định sự tham gia của VKS như tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, cụ thể: “Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.

Như vậy, dựa trên nền tảng nguyên tắc hiến định, nguyên tắc kiểm sát hoạt động xét xử trong TTDS nói chung và trong việc xét xử theo TTRG nói riêng là vấn đề phụ thuộc vào quy định của pháp luật TTDS.

2. Sự tham gia của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn

Vai trò, chức năng của VKS trong TTDS nói chung và tại phiên tòa sơ thẩm được quy định cụ thể tại Điều 21, Điều 207 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, VKS tham gia hầu hết các phiên tòa sơ thẩm (khoản 2 Điều 21).

Phiên tòa sơ thẩm có thể bị hoãn nếu vắng mặt đại diện VKS trong các trường hợp VKS phải có mặt (quy định tại Điều 207 và Điều 208). Hoạt động của VKS tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện qua bước “hỏi” của phiên tòa, tiếp theo đó tại bước “tranh luận”. VKS chỉ phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án mà không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án (theo quy định tại Điều 234).

Như vậy, đối với các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói chung hiện nay (trong đó có các vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG), theo quy định tại khoản 2 Điều 21 có thể nhận thấy, hầu hết các phiên tòa này đều phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát (vì đối với vụ án mà Tòa án thu thập chứng cứ là khá phổ biến trong thực tiễn xét xử hiện nay). Vì vậy, lẽ dĩ nhiên, nếu đại diện VKS vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa.

Xung quanh vấn đề cần quy định về sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm dân sự hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, cần có sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự theo như quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay để cơ quan này kiểm sát tất cả các hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng trước, trong và sau khi tòa diễn ra. Vì theo yêu cầu của cải cách tư pháp, hoạt động xét xử tại phiên tòa, phiên họp là trọng tâm trong giải quyết các vụ việc dân sự. Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phiên họp. Do đó, nếu VKS không tham gia phiên tòa, phiên họp sẽ không giải quyết tốt được quyền kiểm sát của mình. Có ý kiến chỉ rõ rằng: “Trong các phương thức kiểm sát thì hoạt động kiểm sát tại phiên tòa là phương thức hiệu quả nhất. Nếu chỉ tham gia nghiên cứu hồ sơ, quyết định, bản án thì VKS rất khó phát hiện vi phạm. Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn”[2].

Quan điểm khác ngược lại cho rằng, việc quy định VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự như hiện nay là không cần thiết. Chính điều này trên thực tế đã làm cho nhiều phiên tòa sơ thẩm phải bị hoãn vì lý do vắng mặt của VKS. Ngoài ra, không quy định bắt buộc phải có đại diện VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm cũng không làm mất đi hoặc hạn chế quyền giám sát hoạt động tư pháp của VKS. Bởi lẽ, theo quy định hiện nay, VKS có thể thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21).

Như vậy, cần cân nhắc bản chất vụ việc dân sự cốt là ở hai bên đương sự tự định đoạt[3] khi xem xét vấn đề có cần thiết quy định sự tham gia của VKS ở mức độ nào. Nên chăng giới hạn sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt đối với những vụ án áp dụng TTRG[4] nhằm tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của VKS và tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp. Đây là vấn đề cần phải được cân nhắc, xem xét và quy định cho phù hợp bởi lẽ “nếu có VKS tham gia là vi phạm nguyên tắc lợi ích tư đang được tố tụng thế giới tôn trọng. Nếu cho VKS tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ để nhận định về tố tụng xem tòa xử đúng hay sai thì không có ý nghĩa”[5].

Trong thực tiễn xét xử khá nhiều các vụ án dân sự nói chung đã có sự thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ từ phía bị đơn nhưng Tòa án vẫn phải gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và chỉ có thể tiến hành phiên tòa khi có mặt của VKS. Nhưng trên thực tế, qua nghiên cứu của chúng tôi, với tính chất của các vụ án như vậy thì “đóng góp” của VKS dường như rất hạn chế. Khi tham gia vụ án này tại phiên tòa sơ thẩm, ý kiến của VKS cũng chỉ giới hạn như sau: “Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩmquyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu”.

Như vậy, việc gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và sự tham gia của VKS tại phiên tòa cũng chỉ giới hạn ở việc kiểm tra các trình tự, tố tụng đã tuân thủ hay chưa chứ không có ý kiến gì về nội dung và đề xuất về phương án giải quyết vụ án vì bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ ngoài việc VKS có thể cho ý kiến về tính hợp pháp của các yêu cầu khởi kiện.

Thiết nghĩ, khi giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí áp dụng TTRG như khi bị đơn đã thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ nhưng vì nhiều lý do khác nhau bị đơn không thực hiện nghĩa vụ nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, vẫn phải bảo đảm việc hòa giải cho dù đa số trường hợp mang tính hình thức… Đặc biệt vẫn phải bảo đảm sự tham gia của VKS mà vai trò và sự đóng góp không thực sự là cần thiết trong những trường hợp này.

Dự thảo của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hoàn toàn không đề cập đến sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm có áp dụng đặc thù của các vụ án áp dụng TTRG. Theo quy định tại Điều 22 của dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS vẫn ghi nhận hai phương án sửa đổi: Một phương án giữ nguyên như Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành[6] và một phương án khác thu hẹp sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm[7]. Tuy nhiên, cả hai phương án đều không quy định đối với vụ án áp dụng TTRG thì VKS có tham gia phiên tòa sơ thẩm hay không.

Tác giả cho rằng để hài hòa giữa việc bảo đảm nguyên tắc hiến định là Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử và hiệu quả công tác xét xử, nên xác định vai trò tham gia của VKS tại giai đoạn sơ thẩm đối với các vụ án được giải quyết theo TTRG ở mức đủ để bảo đảm việc thực hiện chức năng giám sát của VKS.

Như vậy, đối với các vụ án dân sự áp dụng TTRG, thì ở cấp sơ thẩm vai trò của VKS chỉ nên giới hạn trong việc thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21). Bởi lẽ, các vụ án được giải quyết theo TTRG thì về cơ bản các tình tiết của vụ án đã rõ, cũng không phức tạp kể cả về mặt xác định sự thật khách quan của vụ án và áp dụng pháp luật nên VKS không cần thiết phải tham gia phiên tòa để giám sát trực tiếp hoạt động xét xử của Tòa án.

Như vậy, nếu lựa chọn phương án giữ nguyên như quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, khi đó vụ án áp dụng TTRG mà đáp ứng một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 thì vẫn phải có sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm để giải quyết đối với vụ án đó. Chúng tôi cho rằng, quy định này là không phù hợp. Quan điểm của chúng tôi, dù có lựa chọn phương án nào cho sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự nói chung thì cũng không thể áp dụng tương tự cho những vụ án dân sự áp dụng TTRG.

3. Về vai trò và phạm vi tham gia của Viện kiểm sát tại cấp phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng với Điều 293 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi), kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia các phiên tòa phúc thẩm. Cũng tương tự như sự phân tích vai trò của VKS khi thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTDS nói riêng. Theo tác giả, nếu theo hướng quy định hạn chế sự tham gia của VKS ở thủ tục sơ thẩm thì cần thiết ở phiên tòa phúc thẩm cũng cần phải có quy định hạn chế sự tham gia của VKS. Chúng tôi cho rằng, không nên quy định đại diện VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm trừ trường hợp việc xét xử phúc thẩm được thực hiện do có kháng nghị của VKS.

Khác với sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm không được quy định cụ thể, Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hiện nay đã có ghi nhận rõ về việc VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm khi có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án áp dụng TTRG. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quy định này.

Kết luận

Khi xây dựng các quy định liên quan đến việc tham gia của VKS trong quá trình tố tụng giải quyết những vụ án dân sự áp dụng TTRG cần nghiên cứu và sửa đổi để làm sao vừa bảo đảm vai trò và chức năng kiểm sát của VKS trong TTDS nhưng đồng thời vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do quyết định và định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung và đặc biệt làm sao để đảm bảo cho việc giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG được nhanh chóng, rút gọn thời gian mà vẫn hiệu quả và đảm bảo công lý.

Từ đây, chúng tôi nhận thấy cần xem xét và cân nhắc khi quy định sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự áp dụng TTRG tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới, làm sao đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu công lý với quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp gây lãng phí thời gian, chi phí cho các đương sự và cho toàn xã hội. Cụ thể, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 21 và khoản 2 Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng Điều 232, Điều 22 và khoản 5 Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi) về sự tham gia phiên tòa của VKS đối với những vụ án áp dụng TTRG theo hướng VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị của VKS.

Đặng Thanh Hoa

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Theo dõi chúng tôi trên: