Thứ năm 16/04/2026 02:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự tham gia của Viện kiểm sát trong các phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Bản dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi được trình ra Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa XIII vừa qua diễn ra vào tháng 5/2015 . Một trong số những nội dung được xây dựng hoàn toàn mới trong dự thảo Bộ luật này chính là việc bổ sung chế định thủ tục rút gọn (TTRG) giải quyết vụ án dân sự. Hàng loại các vấn đề được đặt ra, đó là vai trò của Viện kiểm sát (VKS) trong các vụ án dân sự được áp dụng TTRG có gì khác so với các vụ án dân sự giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường, pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) sẽ quy định vấn đề này như thế nào, sự tham gia phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm của VKS trong các vụ án dân sự có cần thiết hay không...

Theo quan điểm của chúng tôi, dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới nên quy định cụ thể về vai trò kiểm sát trong TTDS. Theo đó, vai trò này có thể thông qua việc kiểm tra, giám sát các giai đoạn của quá trình tố tụng bằng nghiên cứu hồ sơ, thực hiện hành vi yêu cầu, kiến nghị và đặc biệt là kháng nghị theo quy định của pháp luật (quy định tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành) và chỉ tham gia giới hạn trong một số phiên tòa. Chính vì vậy, không cần có sự tham gia của đại diện VKS trong các phiên tòa sơ thẩm đối với vụ án được giải quyết theo TTRG và đại diện Viện kiểm sát chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát.

1. Nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự

Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013[1] quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Ở đại đa số các nước trên thế giới, cơ quan công tố không có vai trò trong các vụ án dân sự. Tuy nhiên ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp năm 2013 thì VKS có nhiệm vụ “thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”.

Đối với chức năng “kiểm sát hoạt động tư pháp” của VKS được quy định trong các đạo luật về tố tụng. Phạm vi pham gia của VKS trong hoạt động TTDS vẫn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Trong quá trình lấy ý kiến dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi, có ý kiến nêu rằng VKS thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án chỉ nên thông qua quyền năng kháng nghị. Nhưng có quan điểm khác cho rằng nên giữ nguyên quy định sự tham gia của VKS như tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, cụ thể: “Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.

Như vậy, dựa trên nền tảng nguyên tắc hiến định, nguyên tắc kiểm sát hoạt động xét xử trong TTDS nói chung và trong việc xét xử theo TTRG nói riêng là vấn đề phụ thuộc vào quy định của pháp luật TTDS.

2. Sự tham gia của Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm giải quyết theo thủ tục rút gọn

Vai trò, chức năng của VKS trong TTDS nói chung và tại phiên tòa sơ thẩm được quy định cụ thể tại Điều 21, Điều 207 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo đó, VKS tham gia hầu hết các phiên tòa sơ thẩm (khoản 2 Điều 21).

Phiên tòa sơ thẩm có thể bị hoãn nếu vắng mặt đại diện VKS trong các trường hợp VKS phải có mặt (quy định tại Điều 207 và Điều 208). Hoạt động của VKS tại phiên tòa sơ thẩm thể hiện qua bước “hỏi” của phiên tòa, tiếp theo đó tại bước “tranh luận”. VKS chỉ phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án mà không phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án (theo quy định tại Điều 234).

Như vậy, đối với các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự nói chung hiện nay (trong đó có các vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG), theo quy định tại khoản 2 Điều 21 có thể nhận thấy, hầu hết các phiên tòa này đều phải có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát (vì đối với vụ án mà Tòa án thu thập chứng cứ là khá phổ biến trong thực tiễn xét xử hiện nay). Vì vậy, lẽ dĩ nhiên, nếu đại diện VKS vắng mặt thì Tòa án phải hoãn phiên tòa.

Xung quanh vấn đề cần quy định về sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm dân sự hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, cần có sự tham gia của VKS trong tố tụng dân sự theo như quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện nay để cơ quan này kiểm sát tất cả các hành vi tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng trước, trong và sau khi tòa diễn ra. Vì theo yêu cầu của cải cách tư pháp, hoạt động xét xử tại phiên tòa, phiên họp là trọng tâm trong giải quyết các vụ việc dân sự. Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, phiên họp. Do đó, nếu VKS không tham gia phiên tòa, phiên họp sẽ không giải quyết tốt được quyền kiểm sát của mình. Có ý kiến chỉ rõ rằng: “Trong các phương thức kiểm sát thì hoạt động kiểm sát tại phiên tòa là phương thức hiệu quả nhất. Nếu chỉ tham gia nghiên cứu hồ sơ, quyết định, bản án thì VKS rất khó phát hiện vi phạm. Điều này đã được chứng minh qua thực tiễn”[2].

Quan điểm khác ngược lại cho rằng, việc quy định VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự như hiện nay là không cần thiết. Chính điều này trên thực tế đã làm cho nhiều phiên tòa sơ thẩm phải bị hoãn vì lý do vắng mặt của VKS. Ngoài ra, không quy định bắt buộc phải có đại diện VKS tham gia các phiên tòa sơ thẩm cũng không làm mất đi hoặc hạn chế quyền giám sát hoạt động tư pháp của VKS. Bởi lẽ, theo quy định hiện nay, VKS có thể thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21).

Như vậy, cần cân nhắc bản chất vụ việc dân sự cốt là ở hai bên đương sự tự định đoạt[3] khi xem xét vấn đề có cần thiết quy định sự tham gia của VKS ở mức độ nào. Nên chăng giới hạn sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm, đặc biệt đối với những vụ án áp dụng TTRG[4] nhằm tránh sự can thiệp quá sâu và không cần thiết của VKS và tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp. Đây là vấn đề cần phải được cân nhắc, xem xét và quy định cho phù hợp bởi lẽ “nếu có VKS tham gia là vi phạm nguyên tắc lợi ích tư đang được tố tụng thế giới tôn trọng. Nếu cho VKS tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm dân sự chỉ để nhận định về tố tụng xem tòa xử đúng hay sai thì không có ý nghĩa”[5].

Trong thực tiễn xét xử khá nhiều các vụ án dân sự nói chung đã có sự thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ từ phía bị đơn nhưng Tòa án vẫn phải gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và chỉ có thể tiến hành phiên tòa khi có mặt của VKS. Nhưng trên thực tế, qua nghiên cứu của chúng tôi, với tính chất của các vụ án như vậy thì “đóng góp” của VKS dường như rất hạn chế. Khi tham gia vụ án này tại phiên tòa sơ thẩm, ý kiến của VKS cũng chỉ giới hạn như sau: “Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án thấy rằng Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án về thẩmquyền thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng cũng như thời hạn gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu”.

Như vậy, việc gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu và sự tham gia của VKS tại phiên tòa cũng chỉ giới hạn ở việc kiểm tra các trình tự, tố tụng đã tuân thủ hay chưa chứ không có ý kiến gì về nội dung và đề xuất về phương án giải quyết vụ án vì bị đơn đã thừa nhận nghĩa vụ ngoài việc VKS có thể cho ý kiến về tính hợp pháp của các yêu cầu khởi kiện.

Thiết nghĩ, khi giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí áp dụng TTRG như khi bị đơn đã thừa nhận hoàn toàn nghĩa vụ nhưng vì nhiều lý do khác nhau bị đơn không thực hiện nghĩa vụ nhưng Tòa án vẫn phải tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật, vẫn phải bảo đảm việc hòa giải cho dù đa số trường hợp mang tính hình thức… Đặc biệt vẫn phải bảo đảm sự tham gia của VKS mà vai trò và sự đóng góp không thực sự là cần thiết trong những trường hợp này.

Dự thảo của Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hoàn toàn không đề cập đến sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm có áp dụng đặc thù của các vụ án áp dụng TTRG. Theo quy định tại Điều 22 của dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự về nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS vẫn ghi nhận hai phương án sửa đổi: Một phương án giữ nguyên như Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành[6] và một phương án khác thu hẹp sự tham gia của VKS trong các phiên tòa sơ thẩm[7]. Tuy nhiên, cả hai phương án đều không quy định đối với vụ án áp dụng TTRG thì VKS có tham gia phiên tòa sơ thẩm hay không.

Tác giả cho rằng để hài hòa giữa việc bảo đảm nguyên tắc hiến định là Viện kiểm sát thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử và hiệu quả công tác xét xử, nên xác định vai trò tham gia của VKS tại giai đoạn sơ thẩm đối với các vụ án được giải quyết theo TTRG ở mức đủ để bảo đảm việc thực hiện chức năng giám sát của VKS.

Như vậy, đối với các vụ án dân sự áp dụng TTRG, thì ở cấp sơ thẩm vai trò của VKS chỉ nên giới hạn trong việc thực hiện quyền kiểm sát của mình thông qua kiểm tra hồ sơ vụ án để thực hiện quyền kháng nghị, kiến nghị hoặc yêu cầu (theo quy định tại khoản 1 Điều 21). Bởi lẽ, các vụ án được giải quyết theo TTRG thì về cơ bản các tình tiết của vụ án đã rõ, cũng không phức tạp kể cả về mặt xác định sự thật khách quan của vụ án và áp dụng pháp luật nên VKS không cần thiết phải tham gia phiên tòa để giám sát trực tiếp hoạt động xét xử của Tòa án.

Như vậy, nếu lựa chọn phương án giữ nguyên như quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành, khi đó vụ án áp dụng TTRG mà đáp ứng một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 21 thì vẫn phải có sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm để giải quyết đối với vụ án đó. Chúng tôi cho rằng, quy định này là không phù hợp. Quan điểm của chúng tôi, dù có lựa chọn phương án nào cho sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự nói chung thì cũng không thể áp dụng tương tự cho những vụ án dân sự áp dụng TTRG.

3. Về vai trò và phạm vi tham gia của Viện kiểm sát tại cấp phúc thẩm

Theo quy định tại Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng với Điều 293 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi), kiểm sát viên VKS cùng cấp phải tham gia các phiên tòa phúc thẩm. Cũng tương tự như sự phân tích vai trò của VKS khi thực hiện chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTDS nói riêng. Theo tác giả, nếu theo hướng quy định hạn chế sự tham gia của VKS ở thủ tục sơ thẩm thì cần thiết ở phiên tòa phúc thẩm cũng cần phải có quy định hạn chế sự tham gia của VKS. Chúng tôi cho rằng, không nên quy định đại diện VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm trừ trường hợp việc xét xử phúc thẩm được thực hiện do có kháng nghị của VKS.

Khác với sự tham gia của VKS tại phiên tòa sơ thẩm không được quy định cụ thể, Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi hiện nay đã có ghi nhận rõ về việc VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm khi có kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với vụ án áp dụng TTRG. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với quy định này.

Kết luận

Khi xây dựng các quy định liên quan đến việc tham gia của VKS trong quá trình tố tụng giải quyết những vụ án dân sự áp dụng TTRG cần nghiên cứu và sửa đổi để làm sao vừa bảo đảm vai trò và chức năng kiểm sát của VKS trong TTDS nhưng đồng thời vẫn đảm bảo nguyên tắc tự do quyết định và định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung và đặc biệt làm sao để đảm bảo cho việc giải quyết những vụ án dân sự có tiêu chí để áp dụng TTRG được nhanh chóng, rút gọn thời gian mà vẫn hiệu quả và đảm bảo công lý.

Từ đây, chúng tôi nhận thấy cần xem xét và cân nhắc khi quy định sự tham gia của VKS tại các phiên tòa dân sự áp dụng TTRG tại Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi sắp tới, làm sao đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu công lý với quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; tránh việc kéo dài thời hạn giải quyết tranh chấp gây lãng phí thời gian, chi phí cho các đương sự và cho toàn xã hội. Cụ thể, tác giả đề xuất sửa đổi, bổ sung Điều 21 và khoản 2 Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự (tương ứng Điều 232, Điều 22 và khoản 5 Điều 321 dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi) về sự tham gia phiên tòa của VKS đối với những vụ án áp dụng TTRG theo hướng VKS chỉ tham gia phiên tòa phúc thẩm trong trường hợp có kháng nghị của VKS.

Đặng Thanh Hoa

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.
Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Pháp luật về hợp đồng tiếp thị liên kết - Thực tiễn và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Bài viết phân tích các vấn đề cốt lõi về hợp đồng tiếp thị liên kết, đánh giá thực tiễn áp dụng và chỉ ra những bất cập trong quy định pháp luật, đặc biệt liên quan đến khái niệm pháp lý, cơ chế giao kết và hiệu lực phụ lục hợp đồng. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hợp đồng tiếp thị liên kết, nhằm bảo đảm tính minh bạch, công bằng trong quan hệ hợp đồng và góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của hoạt động tiếp thị liên kết trong môi trường thương mại điện tử tại Việt Nam.
Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và sự gia tăng của quan hệ hôn nhân xuyên biên giới, vấn đề giải quyết xung đột pháp luật về điều kiện kết hôn ngày càng trở nên cấp thiết. Bài viết nghiên cứu, phân tích, đánh giá quy định hiện hành về xác định pháp luật áp dụng đối với điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài theo nguyên tắc luật quốc tịch (lex patriae). Qua đó, nhận diện một số bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc này tại Việt Nam hiện nay.
Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử tại Tòa án

Tóm tắt: Ở Việt Nam, chế định Hội thẩm nhân dân là phương thức thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy, chế định này tồn tại một số hạn chế, dẫn đến sự tham gia của Nhân dân trong nhiều trường hợp còn hình thức. Bài viết phân tích vai trò của Hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử, nhận diện những hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành về cơ chế lựa chọn, phân công, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm pháp lý; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội thẩm nhân dân, đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát nội dung quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo

Tóm tắt: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo, công nghệ đồ họa máy tính thúc đẩy sự xuất hiện phổ biến của người ảnh hưởng ảo như một công cụ quảng cáo mới trong môi trường số. Người ảnh hưởng ảo có khả năng tương tác cá nhân hóa, mô phỏng hành vi và cảm xúc con người, từ đó tác động đến nhận thức và quyết định tiêu dùng. Bài viết phân tích và chỉ ra các thách thức mới mà người ảnh hưởng ảo đặt ra cho hệ thống pháp luật Việt Nam trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, quyền bảo mật dữ liệu cá nhân và quản lý hoạt động quảng cáo; các hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý hoạt động quảng cáo số sử dụng người ảnh hưởng ảo.
Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Giá trị lịch sử của quyền phụ nữ trong pháp luật phong kiến Việt Nam

Tóm tắt: Quyền của phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam được hình thành trong bối cảnh quân chủ tập quyền, chịu ảnh hưởng của Nho giáo, kết cấu gia tộc - làng xã cùng phong tục, tín ngưỡng bản địa. Những yếu tố này vừa hạn chế, vừa thừa nhận địa vị phụ nữ. Bài viết phân tích bối cảnh lịch sử - xã hội và các quy định pháp luật về hôn nhân, gia đình, tài sản, xã hội, qua đó cho thấy, pháp luật phong kiến vừa mang tính ràng buộc, vừa nhân văn, đồng thời, gợi mở giá trị tham khảo để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền của phụ nữ của Việt Nam.
Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Thu hồi tài sản là công cụ quan trọng trong phòng, chống tham nhũng và tội phạm kinh tế. Trong bối cảnh nhiều vụ việc không thể hoặc không cần thiết xử lý hình sự, cơ chế thu hồi tài sản không qua thủ tục kết tội ngày càng được nhiều quốc gia áp dụng như một giải pháp hiệu quả nhằm thu hồi tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp. Trên cơ sở phân tích cơ sở lý luận, yêu cầu quốc tế và thực trạng pháp luật Việt Nam về phòng, chống tham nhũng, rửa tiền, hình sự và tố tụng hình sự, bài viết chỉ ra những bất cập pháp lý và thách thức đặt ra khi xây dựng cơ chế này ở Việt Nam, đặc biệt là nguy cơ xung đột với quyền sở hữu và nguyên tắc suy đoán vô tội. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật, trong đó nhấn mạnh sự cần thiết nghiên cứu xây dựng Luật Thu hồi tài sản bất minh trong bối cảnh Việt Nam đang tiếp tục đổi mới tư duy lập pháp theo các văn kiện của Đảng.
Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Luật học: Sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới

Tóm tắt: Trong kỷ nguyên phát triển mới, tri thức pháp luật không chỉ là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu học thuật, mà trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị quốc gia, phát triển bền vững và bảo đảm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành, bài viết phân tích quá trình sản xuất, tiêu thụ, lan tỏa và gia tăng tri thức pháp luật trong bối cảnh chuyển đổi số, toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của đời sống pháp lý - xã hội, qua đó, khẳng định vai trò trung tâm của việc phát triển hệ sinh thái tri thức pháp luật hiện đại, góp phần nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm, bảo vệ quyền con người và thúc đẩy phát triển xã hội bền vững.
Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng chính quyền địa phương hai cấp

Tóm tắt: Để thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 và sửa đổi, ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan. Bước đầu cho thấy việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật đã góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi mô hình tổ chức phục vụ cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Bài viết phân tích chủ trương, định hướng của Đảng, nhận diện các khó khăn, vướng mắc về thể chế và thực tiễn thi hành pháp luật, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm mô hình chính quyền địa phương hai cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Hoàn thiện tiêu chí, chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Tóm tắt: Hoạt động trợ giúp pháp lý giữ vai trò quan trọng trong hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt, thông qua việc bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình tiếp cận công lý. Vì vậy, Việt Nam luôn quan tâm tới chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý. Tuy nhiên, để đánh giá khách quan, toàn diện chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý đòi hỏi phải xây dựng hệ thống tiêu chí và chỉ số đánh giá phù hợp. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến xây dựng các chỉ số đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, từ đó, đề xuất một số tiêu chí, chỉ số cần được áp dụng.
Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Hoàn thiện pháp luật xử lý di sản văn hóa dưới nước theo Luật Di sản văn hóa năm 2024

Tóm tắt: Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa năm 2024 là bước cải cách quan trọng, thay thế cho khung pháp lý về di sản văn hóa dưới nước tồn tại gần 20 năm. Bài viết phân tích, so sánh các quy định pháp luật mới với pháp luật cũ và các nguyên tắc cốt lõi của Công ước về bảo vệ di sản văn hóa dưới nước năm 2001 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc. Trên cơ sở đó, chỉ ra những tiến bộ và làm rõ khoảng trống pháp lý nền tảng còn tồn tại, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam thông qua việc nội luật hóa các nguyên tắc quốc tế, đặc biệt là ưu tiên bảo tồn tại chỗ và cấm khai thác thương mại di sản.
Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Cải thiện chất lượng thông tư góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế đầu tư kinh doanh ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Trong tiến trình hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam, chất lượng của thông tư có vai trò đặc biệt quan trọng, vì đây là công cụ pháp lý trực tiếp cụ thể hóa và đưa luật, nghị định vào thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, nhiều thông tư hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, như quy định vượt thẩm quyền, ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh trái luật, thiếu tính thống nhất, minh bạch và khả thi, thậm chí chậm được ban hành. Những bất cập này không chỉ làm giảm hiệu quả thực thi chính sách, mà còn tạo điểm nghẽn đối với cải cách thể chế nhằm thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Bài viết tập trung phân tích vai trò và chất lượng của thông tư trong hệ thống thể chế, pháp luật đầu tư, kinh doanh; đánh giá những hạn chế, nguyên nhân chủ yếu trong xây dựng và ban hành thông tư, từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tư, góp phần tháo gỡ điểm nghẽn thể chế và thúc đẩy cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

Theo dõi chúng tôi trên: