Chủ nhật 16/08/2026 04:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sự thể hiện của lý thuyết vật quyền trong quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Pháp luật của nhiều nước trên thế giới khi xây dựng các quy định liên quan đến tài sản, thường dựa vào lý thuyết vật quyền và trái quyền. Trong quan hệ bảo đảm nghĩa vụ cũng được xây dựng dựng dựa trên lý thuyết này.


Trong bài viết này, tác giả quan tâm đến các biện pháp bảo đảm bằng tài sản, phân tích nội dung và mức độ về khả năng tác động vào tài sản bảo đảm của chủ thể có quyền theo Bộ luật Dân sự năm 2015, nói các khác là sự vận dụng lý thuyết vật quyền trong quan hệ bảo đảm này. Tuy nhiên, trong bản thân mối quan hệ này, chúng ta sẽ thấy yếu tố trái quyền của quan hệ, bởi vốn dĩ vật quyền và trái quyền là hai mặt đối lập của sự việc. Khi xây dựng quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan đến vật (tài sản), nếu đặt nặng yếu tố trái quyền thì yếu tố vật quyền sẽ mờ nhạt và ngược lại. Đối chiếu với những quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể thấy rằng, bên cạnh những mặt tích cực, hiện đại, Bộ luật này chưa thể hiện mạnh mẽ tính chất vật quyền đối với một số quy định liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng lý thuyết vật quyền trong các quy định liên quan đến giao dịch bảo đảm cần tiếp tục thực hiện nhằm tận dụng ưu điểm của học thuyết, bảo vệ tốt hơn quyền của các bên trong quan hệ bảo đảm.

1. Vật quyền trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Trong quan niệm Latinh, vật quyền (jus in re) được hiểu là quyền được chủ thể (người có quyền) thực hiện trực tiếp và tức thì trên một vật mà không cần vai trò trung gian của một người khác[1]. Tính chất trực tiếp và tức thì của việc thực hiện vật quyền được thể hiện ngay trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất (và cả hành vi pháp lý) của chủ thể lên đối tượng của quyền. Quan hệ vật quyền được xác lập trên nguyên tắc giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu tố: Chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (tài sản).

Quan hệ vật quyền trong quan hệ bảo đảm cho phép chủ thể có quyền “áp đặt” quyền của mình lên tài sản, mà không cần đến sự đồng ý hoặc không đồng ý của chủ thể khác. Đây chính là sự khác biệt cơ bản giữa vật quyền với quan hệ trái quyền (trong quan hệ trái quyền thì quyền của chủ thế này đồng thời là nghĩa vụ của chủ thể khác).

Trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, quyền ưu tiên và quyền truy đòi (quyền theo đuổi) là hai vật quyền tiêu biểu của bên nhận bảo đảm đối với vật bảo đảm (tài sản bảo đảm). Quyền theo đuổi là quyền của chủ thể có thể tác động vào tài sản bảo đảm ngay cả khi tài sản không còn nằm trong tay bên bảo đảm. Chẳng hạn, đối với vật quyền là quyền theo đuổi, chủ sở hữu tài sản thế chấp (ngay cả chủ sở hữu này không phải là bên thế chấp) phải tôn trọng quyền kê biên tài sản của chủ nợ nhận thế chấp[2]. Quyền ưu tiên là quyền được thanh toán trước các chủ nợ khác, ví dụ, chủ nợ nhận thế chấp có quyền nhận tiền thu được từ việc bán tài sản thế chấp để trừ nợ trước các chủ nợ thường… Đây là một dạng quyền năng hạn chế đối với vật, các quyền năng này chỉ phát huy tác dụng trong những trường hợp được ghi nhận trong luật và được thực hiện theo những thể thức nghiêm ngặt.

Vật quyền trong quan hệ bảo đảm nghĩa vụ có những đặc điểm cụ thể sau đây:

Thứ nhất, vật quyền trong quan hệ bảo đảm luôn xuất hiện song song với quan hệ nghĩa vụ bởi mục đích của vật quyền được đặt ra là nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Do đó, chủ thể của vật quyền trong quan hệ bảo đảm cũng chính là bên có quyền trong quan hệ bảo đảm. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng là điều kiện bên có vật quyền có quyền tác động vào tài sản bảo đảm để thỏa mãn lợi ích cho mình.

Thứ hai, khi xác lập vật quyền đối với tài sản, mục đích chính của chủ thể có quyền không phải hướng tới thực hiện nội dung của vật quyền mà là sự an toàn lợi ích của chính mình trong quan hệ với chủ thể có nghĩa vụ khi bị vi phạm. Đối tượng của vật quyền trong quan hệ bảo đảm là các tài sản được pháp luật cho phép là đối tượng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Đối với các vật quyền khác, sự quan tâm chính yếu của chủ thể mang quyền là đối với tài sản, đối với chủ thể có vật quyền đối với tài sản bảo đảm thì sự quan tâm chính yếu là giá trị kinh tế của tài sản.

Thứ ba, vật quyền đối với tài sản bảo đảm chỉ được thực hiện khi thỏa mãn những điều kiện nhất định. Bởi vật quyền đối với tài sản bảo đảm được sử dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ nên việc tác động trực tiếp vào tài sản (xử lý) chỉ được thực hiện khi thỏa mãn những điều kiện nhất định như: Bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ như đã thỏa thuận… Do đó, quy định về bảo đảm quyền của chủ thể có vật quyền cũng như chủ sở hữu tài sản này được ghi nhận cụ thể và nghiêm ngặt như phải thông qua bán đấu giá tài sản chẳng hạn.

Thứ tư, vật quyền đối với tài sản bảo đảm cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với tài sản ngay cả khi tài sản đó đang thuộc chủ thể khác chiếm hữu (gọi là quyền theo đuổi), theo Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền này được gọi là quyền truy đòi. Ví dụ, bên nhận thế chấp có quyền đối với tài sản thế chấp nhưng người giữ tài sản thế chấp lại chính là chủ sở hữu tài sản thế chấp. Chủ nợ được phép thực hiện quyền đối với giá trị tiền tệ của tài sản bảo đảm, chứ không phải đối với quyền sở hữu tài sản đó. Chủ thể có vật quyền được phép thực hiện quyền của mình trên vật bất kể vật nằm trong tay ai.

Thứ năm, vật quyền đối với tài sản bảo đảm cho phép bên có quyền “chống lại” các chủ thể khác có liên quan đến tài sản bảo đảm (gọi là quyền đối kháng). Điều này có nghĩa, khi vật quyền đối với tài sản bảo đảm đã được công khai với bên thứ ba (thông qua cơ chế đăng ký hoặc chiếm giữ, nắm giữ tài sản) thì quyền ưu tiên chính thức được xác lập lên tài sản mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể nhận bảo đảm sau[3].

2. Đánh giá một số quy định về bảo đảm nghĩa vụ dưới góc độ vật quyền

Vật quyền được xác lập trên tài sản bảo đảm dựa theo ý chí của các bên hoặc theo quy định của pháp luật. Trong số các biện pháp bảo đảm đối vật như thế chấp, cầm cố, cầm giữ tài sản thì vật quyền đối với tài sản bảo đảm được xác lập là do sự thỏa thuận của các bên thông qua hợp đồng bảo đảm. Khác hơn thế chấp, cầm cố là những biện pháp bảo đảm được xác lập trên cơ sở thỏa thuận, biện pháp cầm giữ tài sản thì vật quyền được xác lập cho bên cầm giữ tài sản trên cơ sở là một dạng đặc quyền do luật định. Đồng thời, trong nội dung của mỗi biện pháp bảo đảm đối vật, quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm có sự khác nhau. Chẳng hạn, đối với biện pháp cầm cố, hoặc cầm giữ tài sản, tài sản bảo đảm do bên nhận bảo đảm nắm giữ, tuy nhiên, đối với biện pháp thế chấp, tài sản thế chấp vẫn thuộc sự chiếm giữ và khai thác của bên bảo đảm, bởi đây là biện pháp bảo đảm không chuyển giao tài sản từ bên bảo đảm cho bên nhận bảo đảm.

2.1. Nội dung vật quyền trong biện pháp cầm cố

Vật quyền đối với tài sản cầm cố được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận của các bên trong hợp đồng cầm cố tài sản. Theo Điều 309 Bộ luật Dân sự năm 2015, thì cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Bên nhận cầm cố là bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính và biện pháp cầm cố là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính này. Khi thực hiện việc cầm cố, bên cầm cố phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận cầm cố hoặc cho người thứ ba theo thỏa thuận của các bên. Do đó, biện pháp cầm cố tài sản là biện pháp tạo ra vật quyền trọn vẹn cho bên nhận cầm cố, bởi bên nhận cầm cố được trực tiếp nắm giữ tài sản cầm cố và được quyền chi phối trực tiếp đối với tài sản cầm cố đó. Vật quyền trong cầm cố có thể được xác lập trên cả tài sản phải đăng ký và tài sản không phải đăng ký, trên cả động sản và bất động sản. Thời điểm phát sinh vật quyền của bên nhận cầm cố phụ thuộc vào thời điểm có hiệu lực của hợp đồng và hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Khi hợp đồng cầm cố có hiệu lực sẽ phát sinh vật quyền đối với tài sản cầm cố với bên cầm cố, hoặc phát sinh hiệu lực đối với mọi chủ thể khi hợp đồng cầm cố phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Trong quan hệ cầm cố, hiệu lực đối kháng với bên thứ ba phát sinh khi từ thời điểm bên nhận cầm cố nắm giữ tài sản, trong trường hợp tài sản cầm cố là bất động sản thì hiệu lực đối kháng phát sinh từ thời điểm đăng ký (Điều 310 Bộ luật Dân sự năm 2015). Nắm giữ tài sản ở đây cần hiểu là nắm giữ thực tế vật, không phải nắm giữ về mặt pháp lý. Bởi lẽ, khi chuyển giao tài sản cầm cố là động sản chính là việc chuyển giao trực tiếp tài sản, nên sẽ hợp lý để làm cơ sở cho việc xác định hiệu lực đối kháng. Sự phân định giữa thời điểm giao dịch có hiệu lực giữa các bên và thời điểm có hiệu lực đối kháng với bên thứ ba là một điểm rất tiến bộ của Bộ luật Dân sự năm 2015, điều này cho phép xác định vật rõ vật quyền đối với tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm trong những trường hợp cụ thể.

Xét về vật quyền là quyền quản lý và sử dụng đối với tài sản cầm cố, trong quan hệ cầm cố, khi hợp đồng cầm cố có hiệu lực, bên nhận cầm cố có quyền quản lý tài sản cầm cố, đồng thời nếu được bên cầm cố đồng ý, bên nhận cầm cố có quyền sử dụng tài sản cầm cố. Có thể thấy, vật quyền quản lý được xác lập cho bên nhận cầm cố, nhưng quyền sử dụng tài sản lại mang yếu tố trái quyền, bởi bên nhận bảo đảm chỉ được thực hiện quyền này khi có sự đồng ý của bên bảo đảm.

2.2. Nội dung vật quyền trong biện pháp thế chấp

Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Thế chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận thế chấp). Cũng như biện pháp cầm cố tài sản, thế chấp tài sản nhằm bảo đảm cho bên có nghĩa vụ trong nghĩa vụ chính phải thực hiện nghĩa vụ. Điểm khác biệt giữa thế chấp tài sản với cầm cố tài sản chính là không có hành vi giao tài sản bảo đảm từ bên thế chấp sang bên nhận thế chấp.

Trong biện pháp thế chấp, tài sản vẫn do bên thế chấp nắm giữ và khai thác mà không chuyển giao cho bên nhận thế chấp. Với quy định hiện hành, khi nghĩa vụ chính bị vi phạm (nghĩa vụ được bảo đảm bởi tài sản), bên nhận thế chấp cũng không được phép tác động trực tiếp lên tài sản, không thể thu giữ tài sản mà chỉ có quyền yêu cầu bên thế chấp hoặc bên thứ ba đang giữ tài sản giao tài sản cho mình xử lý. Tức là nếu bên thế chấp hoặc bên thứ ba không giao tài sản cho mình xử lý thì chủ thể này chỉ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ mà không thể thực hiện các quyền đương nhiên của họ đối với tài sản bảo đảm (xem Điều 323 Bộ luật Dân sự năm 2015). Nói cách khác, bên nhận thế chấp không được phép tự cưỡng đoạt tài sản thế chấp nếu bên thế chấp hoặc người thứ ba không giao tài sản. Trước đó, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm (Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) đã từng cho phép bên nhận thế chấp có quyền thu giữ tài sản sau khi thông báo trước cho người giữ tài sản trong khoản thời gian hợp lý. Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cũng đưa ra giải pháp về quyền yêu cầu Ủy ban nhân dân xã và cơ quan công an hỗ trợ cho việc thu giữ an toàn và trật tự. Tuy nhiên, cơ chế này cũng chưa được thực thi trên thực tế, bộ máy chính quyền và an ninh địa phương chưa thể được huy động để can thiệp vào quan hệ dân sự mang tính bình đẳng, tự thỏa thuận và định đoạt giữa các bên. Chính vì thế, để trực tiếp thu giữ tài sản, rõ ràng bên nhận bảo đảm rất khó để tự mình thu giữ tài sản bởi tự họ không thể cưỡng chế để thu giữ, vì vậy, nếu cần dùng sức mạnh cưỡng chế có khả năng dẫn đến sự lạm dụng dùng xã hội đen để thu giữ tài sản, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Có lẽ vì thế mà Bộ luật Dân sự năm 2015 đã không còn ghi nhận quyền thu giữ tài sản của bên nhận bảo đảm, theo đó, Điều 301 quy định: Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Tuy nhiên, với tình hình nợ xấu gia tăng, cộng thêm sự chây ỳ của bên bảo đảm trong việc giao tài sản cho bên nhận bảo đảm để xử lý đã gây rất nhiều khó khăn cho các ngân hàng thương mại trong thời gian qua, với việc không ghi nhận quyền thu giữ tài sản thì khả năng thực hiện xử lý tài sản đối với các khoản nợ xấu càng khó khăn hơn. Gần đây, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn về vấn đề thực hiện thu giữ tài sản thế chấp để xử lý, theo đó Tòa án sẽ thực hiện thủ tục xét xử rút gọn đối với những tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm với bên nắm giữ tài sản bảo đảm, qua đó phần nào giảm được thời gian cho bên nhận thế chấp thay vì xét xử theo thủ tục thông thường. Qua phán quyết của Tòa án, bên nhận thế chấp thông qua cơ chế thi hành án để thu giữ tài sản và xử lý tài sản bảo đảm[4]. Có thể nói, quy định này nhất thời có thể giải quyết được vấn đề, nhưng vẫn chưa bảo vệ tốt nhất quyền lợi của bên nhận bảo đảm. Quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý là một vật quyền quan trọng, có thể nói việc không thể trực tiếp thu giữ tài sản bảo đảm mà phải thông qua tố tụng ảnh hưởng không nhỏ đến bên nhận bảo đảm, tốn thời gian và công sức cho họ. Do vậy, nên chăng chúng ta vẫn cho phép thu giữ tài sản là động sản với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương về an ninh, trật tự và được xem như là một dịch vụ công, có chi phí cho dịch vụ này. Chi phí này được tính vào chi phí thu giữ tài sản và được khấu trừ vào tài sản bảo đảm. Bộ luật Dân sự năm 2015 dù không ghi nhận quyền trực tiếp thu giữ tài sản nhưng cũng không có quy định cấm việc trực tiếp thu giữ tài sản, và giao tài sản để xử lý được quy định là nghĩa vụ của bên bảo đảm. Do vậy, nếu văn bản hướng dẫn theo quan điểm trên cũng không thể nói là trái luật.

Đối với quan hệ thế chấp cũng như cầm cố tài sản, trong số các vật quyền, việc ghi nhận và bảo đảm quyền truy đòi và quyền ưu tiên thanh toán là những quyền quan trọng, được xem quyền xương sống trong quan hệ bảo đảm. Tuy nhiên, việc vận dụng lý thuyết vật quyền theo pháp luật Việt Nam chưa triệt để. Nếu như ở nhiều nước trên thế giới, trong quan hệ bảo đảm, do tài sản bảo đảm chưa chuyển giao quyền sở hữu cho bên nhận bảo đảm và tài sản này hoàn toàn có thể chuyển giao cho các chủ thể khác, ngoài ý chí của chủ thể nhận bảo đảm (ví dụ, Bộ luật Dân sự Pháp cho phép bên bảo đảm được chuyển nhượng tài sản đã sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ). Bởi lẽ, để bảo đảm quyền lợi, chủ thể mang quyền trong quan hệ bảo đảm không thể trông chờ vào sự hợp tác hay thiện chí của bên thứ ba mà phải có cơ chế vững chắc cho họ quyền đối với tài sản bảo đảm, bất kể tài sản đó ở đâu và thuộc quản lý của chủ thể này[5]. Tuy nhiên, Việt Nam có quy định khác hơn, thay vì cho phép bên nhận bảo đảm tự do chuyển nhượng tài sản thì luật lại hạn chế quyền định đoạt của chủ thể bảo đảm[6] và một khi chủ thể bảo đảm định đoạt tài sản trái quy định pháp luật, lúc bấy giờ quyền theo đuổi của bên nhận bảo đảm còn bị chi phối bởi các quy định về đòi lại sản liên quan đến giao dịch vô hiệu, điều này đôi khi tạo nên sự phức tạp khi giải quyết quyền lợi liên quan đến các chủ thể.

Ngoài ra, đối với các quyền khác đối với tài sản, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận quyền được chuyển giao đối với quyền bề mặt, có nghĩa chủ thể có quyền bề mặt cũng có thể cầm cố, thế chấp quyền bề mặt để bảo đảm nghĩa vụ, có thể hiểu đây là một quy định ngoại lệ liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ, bởi quyền bề mặt vốn là một quyền đối với tài sản, không là một dạng tài sản. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự không có quy định nào liên quan đến giao dịch bảo đảm có đối tượng là quyền bề mặt. Quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ bảo đảm, đặc biệt là vấn đề xử lý đối tượng bảo đảm khi bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Thiết nghĩ, trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể các vấn đề trên.

2.3. Nội dung vật quyền trong biện pháp cầm giữ tài sản

Cầm giữ là một dạng vật quyền trong quan hệ bảo đảm được ghi nhận tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Theo quy định này, thì cầm giữ là quyền của bên mang quyền trong hợp đồng song vụ. Quyền cầm giữ tài sản phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ. Do đó, có thể thấy quyền cầm giữ là quyền phát sinh trên cơ sở luật định mà không từ sự thỏa thuận của các bên.

Theo Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015, đối tượng của cầm giữ tài sản phải là tài sản và là đối tượng của hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, luật chuyên ngành có một số quy định khác, không chỉ là đối tượng của hợp đồng song vụ mà có thể là bất kỳ tài sản nào có thể cầm giữ. Bên cạnh đó, tài sản cầm giữ có thể là tài sản thuộc sở hữu của bên vi phạm khác, cũng có thể là tài sản của người khác[7]. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không khẳng định nhưng cũng không buộc tài sản bị cầm giữ là tài sản của bên có nghĩa vụ vi phạm, đồng thời các luật chuyên ngành cũng có những quy định cụ thể về vấn đề này, thậm chí tài sản đó có thể là đối tượng của biện pháp bảo đảm[8].

Xét về bản chất, cầm giữ tài sản theo Bộ luật Dân sự năm 2015 mang các đặc trưng quan trọng của một biện pháp bảo đảm. Bởi vì bên cầm giữ tài sản có quyền nắm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ để buộc bên có nghĩa vụ thanh toán các nghĩa vụ đã đến hạn. Tuy nhiên, quyền chi phối và các quyền khác đối với tài sản lại không đầy đủ. Cụ thể, quyền khai thác tài sản cầm giữ để thu hoa lợi, lợi tức lại phụ thuộc vào bên có nghĩa vụ. Do đó, ở khía cạnh này, quyền khai thác tài sản bị cầm giữ có thể nói là một loại trái quyền chứ không phải vật quyền. Hơn nữa, Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng không có quy định cho phép bên cầm giữ tài sản được quyền xử lý tài sản cầm giữ để thanh toán nghĩa vụ, nên trong nhiều trường hợp, bên thanh toán không thanh toán nghĩa vụ mà bên cầm giữ cũng chỉ được cầm giữ tài sản mà không được xử lý, khiến cho việc cầm giữ trở nên vô nghĩa. Do vậy, để đảm bảo cầm giữ là một biện pháp bảo đảm đúng bản chất của nó, để bên cầm giữ thật sự có vật quyền đối với tài sản cầm giữ là tài sản bảo đảm, theo đó nên sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng xác định quyền được khai thác tài sản cầm giữ đối với bên có quyền. Đồng thời, cần quy định thời hạn cầm giữ cho phép bên cầm giữ bảo đảm việc thanh toán nghĩa vụ.

Tóm lại, xét dưới khía cạnh vật quyền nói chung, vật quyền trong quan hệ bảo đảm nói riêng, đối chiếu với những quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015, chúng ta nhận thấy bên cạnh những mặt tích cực, hiện đại, Bộ luật này chưa thể hiện mạnh mẽ tính chất vật quyền đối với một số quy định liên quan đến bảo đảm nghĩa vụ như đã nêu trên. Do vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng lý thuyết vật quyền trong các quy định liên quan đến giao dịch bảo đảm cần tiếp tục thực hiện nhằm tận dụng ưu điểm của học thuyết, bảo vệ tốt hơn quyền của các bên trong quan hệ bảo đảm.

ThS. Huỳnh Anh

Đại học An Giang





[1]. Nguyễn Ngọc Điện (2010), “Sự cần thiết của việc xây dựng các chế định vật quyền và trái quyền trong luật dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (23) (184), tr. 56.

[2]. Điều 297 Bộ luật Dân sự năm 2015 không sử dụng thuật ngữ “quyền theo đuổi” mà sử dụng thuật ngữ “quyền truy đòi”, quyền truy đòi này phát sinh khi biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với bên thứ ba. Khác với quyền của chủ thể có quyền đối với tài sản bảo đảm trong mối quan hệ với bên bảo đảm được áp dụng theo quy chế hợp đồng cũng như các quy định tương ứng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong trái quyền để điều chỉnh.

[3]. Xem thêm: Nguyễn Minh Oanh và các tác giả (2018), Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 323 và tiếp theo.

[4]. Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân.

[5]. Xem thêm: Nguyễn Thị Oanh và các tác giả (2018), Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội.

[6]. Khoản 8 Điều 320 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này”; khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Không được bán, trao đổi, tặng cho, sử dụng tài sản cầm cố để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác”.

[7]. Xem khoản 1 Điều 40 Bộ luật Hàng hải năm 2015, theo đó có thể thấy người bồi thường có thể là chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu, trong khi tàu bị cầm giữ có thể không thuộc quyền sở hữu của họ.

[8]. Theo khoản 4 Điều 40 Bộ luật Hàng hải năm 2015, thì người có khiếu nại hàng hải có quyền cầm giữ hàng hải đối với tàu biển để bảo đảm cho các khiếu nại hàng hải, mặc dù tàu biển đó đã được thế chấp hoặc chủ tàu đã thực hiện giao dịch bảo đảm khác để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ khác trên cơ sở hợp đồng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: