Thứ hai 04/05/2026 21:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động quảng cáo trực tuyến

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động quảng cáo trực tuyến hiện nay và đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo nhằm quản lý tốt hơn hoạt động này.

1. Thực tiễn hoạt động quảng cáo trực tuyến hiện nay

Trong thời đại công nghệ số hiện nay, mọi lĩnh vực, ngành nghề đều chuyển dịch sang hướng khai thác và sử dụng các ứng dụng của công nghệ số để phát triển. Vì thế́, quảng cáo trên không gian mạng (hay còn gọi là quảng cáo online, quảng cáo trực tuyến) xuất hiện như một tất yếu khách quan. Quảng cáo trực tuyến phản ánh nhu cầu cũng như xu hướng của khách hàng trong giai đoạn mới. Không giống như các hình thức quảng cáo truyền thống, quảng cáo trực tuyến giúp người mua tiếp cận với sản phẩm nhanh hơn, dễ dàng ký kết các giao dịch giữa người mua với người bán. Quảng cáo trực tuyến còn tạo cơ hội cho các nhà quảng cáo hướng chính xác vào khách hàng của mình và giúp họ tiến hành quảng bá sản phẩm, dịch vụ theo đúng với sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng. Đặc điểm cơ bản của hình thức quảng cáo trực tuyến là khách hàng có thể tự động tương tác và click chuột vào quảng cáo để mua hàng, thoải mái tìm hiểu thông tin về mặt hàng, dịch vụ hay có thể so sánh giữa các sản phẩm, dịch vụ và các nhà cung cấp với nhau. Ngoài ra, quảng cáo trực tuyến còn giúp cho các doanh nghiệp kinh doanh có thể xác định được tệp khách hàng mục tiêu mà họ muốn hướng đến. Từ đó, doanh nghiệp không chỉ cắt giảm được nhiều chi phí cho việc chạy quảng cáo mà còn nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đây là đặc điểm ưu việt của quảng cáo trực tuyến mà các loại hình quảng cáo khác không thể có được.

Theo báo cáo của Datareportal và Wearesocial, tính đến đầu năm 2024, Việt Nam có 78,44 triệu người sử dụng internet và 72,70 triệu người sử dụng mạng xã hội (tương đương với 73,3% tổng dân số)[1]. Còn theo thống kê số thu thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế năm 2023, chỉ riêng khu vực trên mạng, nội dung doanh thu quảng cáo khoảng 4 tỷ USD, trong đó có tới 70% là từ các doanh nghiệp nước ngoài. Từ các con số này có thể thấy rằng, Việt Nam đang là mảnh đất “màu mỡ” đối với các doanh nghiệp kinh doanh quảng cáo trên nền tảng số. Với việc xu hướng người sử dụng internet, mạng xã hội ngày càng tăng và trở thành hình thức truy cập phổ biến. Một bộ phận lớn người Việt Nam thích và dành nhiều thời gian trong ngày để lên mạng tìm kiếm thông tin, làm việc, học tập và giải trí. Vì lẽ đó, quảng cáo trực tuyến cũng trở thành xu thế truyền thông tất yếu ở nước ta.

Ở Việt Nam hiện nay tồn tại một số hình thức quảng cáo trực tuyến: Quảng cáo trên công cụ tìm kiếm như Google; quảng cáo trên mạng xã hội như Facebook, Instagram, Zalo, Youtube; quảng cáo trên các website, diễn đàn, sàn thương mại điện tử Shopee, Lazada, Sendo, Tiki, Tiktokshop… Trong đó, xu hướng quảng cáo trên các kênh mạng xã hội và báo online được các doanh nghiệp tập trung đầu tư hơn cả. Các hình thức quảng cáo trực tuyến có các ưu điểm dễ nhận thấy đó là:

(i) Hình thức quảng cáo đa dạng: Dựa vào từng ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp có thể lựa chọn những hình thức quảng cáo phù hợp với ngân sách đầu tư khác nhau. Nhìn chung, các loại hình quảng cáo trực tuyến vẫn có giá rẻ hơn nhiều so với quảng cáo truyền thống nên giúp cho doanh nghiệp tiết kiệm được một phần chi phí đáng kể.

(ii) Tiếp cận đúng tệp khách hàng tiềm năng: Tất cả các loại hình quảng cáo trực tuyến đều có đặc điểm chung là tiếp cận đúng khách hàng mục tiêu, thể hiện sự quan tâm hoặc có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Việc tiếp cận đúng khách hàng tiềm năng sẽ giúp doanh nghiệp dễ dàng đo lường hoạt động quảng cáo, nâng cao hiệu quả bán hàng và tiết kiện chi phí tốt nhất.

(iii) Dễ dàng cài đặt và quản lý chiến dịch quảng cáo: Khi sử dụng hình thức quảng cáo trực tuyến, doanh nghiệp có thể cài đặt, quản lý và hoạch định ngân sách cho chiến dịch quảng cáo một cách dễ dàng dựa trên nhu cầu và khả năng tài chính của doanh nghiệp.

Nhìn chung, hình thức quảng cáo trực tuyến mang lại nhiều lợi ích thiết thực hơn so với quảng cáo truyền thống, giúp doanh nghiệp tiết kiệm tiền, thời gian và chi phí. Đặc biệt quảng cáo trực tuyến rất phù hợp với các doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động với nhiều quy mô lớn nhỏ khác nhau. Quảng cáo trực tuyến giúp các cá nhân, doanh nghiệp quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ một cách hiệu quả và là cách tìm kiếm khách hàng tiềm năng trên thị trường nhanh nhất.

Bên cạnh một số những ưu điểm trên, việc quảng cáo trực tuyến hiện nay ở Việt Nam cũng đang gây ra cho người tiêu dùng và các nhà quản lý nhiều thách thức. Một số tồn tại hiện nay đối với quảng cáo trực tuyến đó là[2]:

Thứ nhất, quảng cáo lệch lạc, sai sự thật. Một thực trạng nổi cộm hiện nay mà không ít người tiêu dùng gặp phải đó là những quảng cáo lệch lạc, sai sự thật, gây nhiễu thông tin xuất hiện dày đặc trên mạng xã hội. Những quảng cáo này thậm chí còn “gắn mác” những đơn vị truyền thông uy tín (như đài truyền hình) để tạo lập lòng tin, đánh lừa người tiêu dùng. Nhiều quảng cáo trực tuyến mang tính lừa dối, phóng đại công dụng của sản phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm thuốc đông y, sữa, thực phẩm chức năng… thường được “thần thánh hóa” dễ gây ngộ nhận về tác dụng thật của sản phẩm.

Thứ hai, quảng cáo sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng, hàng giả, hàng nhái, vi phạm bản quyền. Những quảng cáo này xuất hiện tràn lan trên các mạng xã hội, trên các sàn thương mại mà chưa được kiểm soát chặt chẽ tạo ra “ma trận” sản phẩm gây nhiễu cho người tiêu dùng. Các đối tượng còn lợi dụng dịch vụ quảng cáo của Facebook, Google, Youtube để phát tán các sản phẩm cờ bạc, cá độ, tín dụng đen… để dụ dỗ, lôi kéo người tiêu dùng.

Thứ ba, quảng cáo bị gắn những nội dung xấu, độc. Lợi dụng các nhãn hàng, thương hiệu thuê quảng cáo với những yêu cầu khá dễ dãi và chỉ ưu tiên việc tăng cao lượt xem, lượt tương tác đối với sản phẩm, dịch vụ của mình nên các đối tượng quảng cáo thường gắn các nội dung quảng cáo xấu, độc, thậm chí mang tính “chống phá” Đảng và Nhà nước, đưa những nội dung sai sự thật, trái thuần phong mỹ tục, mang tính chất giật gân… gây ảnh hưởng đến uy tín của thương hiệu, sản phẩm nói riêng và sự lành mạnh trong hoạt động quảng cáo trực tuyến nói chung.

2. Những hạn chế, vướng mắc của Luật Quảng cáo trong quản lý hoạt động quảng cáo trực tuyến

Luật Quảng cáo được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 21/6/2012 thay thế cho Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quảng cáo tại Việt Nam, phù hợp với sự phát triển của hoạt động quảng cáo và xu thế hội nhập quốc tế. Luật Quảng cáo năm 2012 điều chỉnh toàn diện các vấn đề liên quan đến hoạt động quảng cáo, từ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong hoạt động quảng cáo; trách nhiệm quản lý nhà nước; các hành vi bị cấm trong quảng cáo; yêu cầu, điều kiện đối với nội dung của quảng cáo; phương tiện quảng cáo cho đến các loại hình quảng cáo có yếu tố nước ngoài.

Sau hơn 10 năm triển khai thi hành Luật, hoạt động quảng cáo đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Các quy định của luật về quảng cáo đã tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển của ngành quảng cáo theo hướng công khai, minh bạch nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Thông qua các cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật về quảng cáo được ban hành, hoạt động quảng cáo đã phát triển mạnh mẽ không chỉ với sự gia tăng cả về số lượng, chất lượng hoạt động cũng như doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo mà còn đóng góp cho việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ với vai trò là cầu nối giữa người sản xuất, người kinh doanh với người tiêu dùng[3]. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số, pháp luật về quảng cáo đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong việc quản lý hoạt động quảng cáo trực tuyến, cụ thể:

Một là, chưa có quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ thể trung gian chuyển tải sản phẩm quảng cáo trên mạng.

Hiện nay, quảng cáo trực tuyến đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng khẳng định được vị trí dẫn đầu trong các loại hình quảng cáo. Do vậy, nhiều đối tượng đã lợi dụng sự phổ biến, thông dụng của phương tiện này, đặc biệt là mạng xã hội, dùng người chuyển tải sản phẩm quảng cáo có ảnh hưởng để truyền tải các nội dung quảng cáo sai sự thật, gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Thời gian gần đây, xuất hiện nhiều người dùng mạng xã hội có tầm ảnh hưởng (Influencer Advertising hoặc Influencer Marketing), đặc biệt là các nghệ sĩ nổi tiếng, giới thiệu, mời chào, quảng bá các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ kém chất lượng gây bức xúc cho nhiều người tiêu dùng.

Trong khi đó, Luật Quảng cáo năm 2012 chưa có quy định nào quy định về quyền và nghĩa vụ của người chuyển tải sản phẩm quảng cáo mà chỉ tập trung vào quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, trong trường hợp những cá nhân dùng mạng xã hội có tầm ảnh hưởng (như các nghệ sĩ, người nổi tiếng) chưa tìm hiểu, trải nghiệm về sản phẩm mà quảng cáo sản phẩm sai sự thật thì cũng chưa có chế tài xử lý; đồng thời, cũng chưa có quy định nào trong Luật Quảng cáo năm 2012 yêu cầu các đối tượng đó phải chịu trách nhiệm đối với những nội dung mà mình quảng cáo cho sản phẩm.

Hai là, quy định về sản phẩm quảng cáo trên mạng xã hội còn chưa cụ thể, rõ ràng.

Luật Quảng cáo năm 2012 chưa có quy định đặc thù về nội dung quảng cáo thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng trên môi trường mạng; chưa có quy định về thời gian chờ tắt quảng cáo, tần suất xuất hiện quảng cáo trên mạng dẫn đến khó kiểm soát nội dung sản phẩm quảng cáo trên mạng; chưa có quy định về hành vi vi phạm, trách nhiệm của các chủ thể trung gian đối với vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm quảng cáo trên mạng.

Ba là, một số quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động quảng cáo trên môi trường mạng không còn phù hợp với sự phát triển của công nghệ hiện nay.

Hiện nay, hoạt động quảng cáo đang có sự chuyển dịch từ quảng cáo theo hình thức truyền thống (quảng cáo ngoài trời trên bảng, biển, băng rôn, báo in, báo nói, báo hình…) sang hình thức quảng cáo trên môi trường mạng và dịch vụ quảng cáo xuyên biên giới (quảng cáo trên báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội, ứng dụng di động…) kéo theo sự khó khăn trong công tác quản lý nhà nước do việc ràng buộc trách nhiệm, phát hiện và xử lý vi phạm trong hoạt động quảng cáo trên phương tiện này áp dụng với một loại chủ thể không giới hạn phạm vi lãnh thổ.

3. Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo năm 2012

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung về chủ thể tham gia quảng cáo trực tuyến.

Cần bổ sung vào Luật Quảng cáo năm 2012 quy định về việc xác định tư cách của chủ thể tham gia quảng cáo trên mạng là cá nhân, đồng thời quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của chủ thể này khi thực hiện quảng cáo trên các trang cá nhân của mình và trên các nền tảng mạng xã hội. Trong hoạt động quảng cáo trực tuyến trên mạng xã hội thì chủ các tài khoản mạng xã hội là cá nhân có thể là “người quảng cáo”, cũng có thể là “người phát hành quảng cáo” trên mạng xã hội. Chính vì vậy, khi xác định được tư cách của chủ thế này thì cần phải quy định rõ các quyền và nghĩa vụ tương ứng.

Bên cạnh đó, cần bổ sung quy định về trách nhiệm, các hành vi vi phạm, chế tài áp dụng, trách nhiệm liên đới khi người nổi tiếng, người có tầm ảnh hưởng đến xã hội tham gia quảng cáo trực tuyến trên mạng xã hội.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung về các yêu cầu đối với sản phẩm quảng cáo, nhất là các sản phẩm đặc biệt khi quảng cáo trực tuyến.

Đối với những sản phẩm quảng cáo nói chung thì Luật Quảng cáo sửa đổi, bổ sung cần có quy định cụ thể, rõ ràng hơn nữa về yêu cầu đối với sản phẩm quảng cáo nhằm bảo đảm chất lượng hàng hóa, dịch vụ khi quảng cáo, tránh những thông tin sai sự thật, thổi phồng công dụng, tính năng của sản phẩm, dịch vụ, làm ảnh hưởng tới quyền lợi của người tiêu dùng.

Đối với những sản phẩm đặc biệt như thực phẩm chức năng, Luật Quảng cáo sửa đổi, bổ sung cần quy định về việc nêu rõ, chính xác tác dụng thực sự của thực phẩm chức năng; cần quy định bắt buộc khi quảng cáo sản phẩm này phải kèm theo cụm từ vào khuyến cáo “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”. Hiện nay, đa số các quảng cáo trực tuyến trên không gian mạng đều chưa thực hiện cảnh báo này khi tiến hành quảng cáo các sản phẩm là thực phẩm chức năng.

Thứ ba, cần quy định rõ thời lượng, tần suất xuất hiện của sản phẩm quảng cáo trên mạng.

Để khắc phục tình trạng quảng cáo tùy tiện về thời lượng, tần suất xuất hiện, “chèn quảng cáo” không có quy tắc trên mạng xã hội, Luật Quảng cáo năm 2012 cần sửa đổi, bổ sung theo hướng: Cần có điều khoản điều chỉnh về điều kiện, thời gian, tần suất quảng cáo chèn vào trong các video đang phát trên mạng xã hội. Khi pháp luật có quy định rõ về điều kiện để quảng cáo đối với dạng “chèn quảng cáo” này sẽ góp phần loại bỏ các trường hợp tổ chức, cá nhân lợi dụng “kẽ hở” của pháp luật để quảng cáo những nội dung “xấu”, “độc”, thậm chí mang tính “chống phá” Đảng và Nhà nước, đưa những nội dung sai sự thật, trái thuần phong mỹ tục.

Thứ tư, quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối với người truyền tải sản phẩm quảng cáo có tầm ảnh hưởng.

Sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo năm 2012 để quy định rõ quyền và nghĩa vụ đối với người truyền tải quảng cáo có tầm ảnh hưởng (chuyên gia, người có uy tín, người được xã hội chú ý trong lĩnh vực ngành, nghề cụ thể) tham gia hoạt động quảng cáo nhằm bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, lành mạnh hoạt động quảng cáo trên không gian mạng. Đối với những sản phẩm, dịch vụ có thể tác động trực tiếp đến môi trường hoặc sức khỏe con người thì cần phải có quy định cụ thể hơn để kiểm soát chặt chẽ. Việc sửa đổi cần bảo đảm phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có liên quan nhằm tạo ra một hệ thống các quy phạm pháp luật đồng bộ, thống nhất.

Thứ năm, về vấn đề kiểm tra, kiểm duyệt chất lượng hàng hóa được quảng cáo trực tuyến trên không gian mạng.

Đối với những sản phẩm quảng cáo trên các sàn thương mại điện tử, nền tảng mạng xã hội hoặc trên các mạng máy tính, mạng viễn thông, internet thì đơn vị cung cấp dịch vụ quảng cáo phải có trách nhiệm kiểm tra, thẩm duyệt về chất lượng hàng hóa hoặc phải có đơn vị kiểm duyệt về chất lượng trước khi thực hiện hoạt động quảng cáo trên không gian mạng, tránh việc tiếp tay cho hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, lừa đối người tiêu dùng. Các đơn vị truyền thông, đơn vị trung gian, tổ chức, cá nhân sử dụng nền tảng mạng xã hội truyền tải nội dung thông tin quảng cáo cũng phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình. Đây là một trong những nội dung rất quan trọng, cần thiết phải bổ sung vào Luật Quảng cáo nhằm xây dựng môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.

Như vậy, với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về quảng cáo, bao gồm sửa đổi, bổ sung Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong thời gian tới, những vi phạm trong quảng cáo trực tuyến trên không gian mạng sẽ được siết chặt hơn, không còn “lỗ hổng” để kẻ xấu lợi dụng, đe dọa an ninh, an toàn trên không gian mạng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động quảng cáo; góp phần thúc đẩy lĩnh vực quảng cáo phát triển./.

Trương Trọng Kiệt

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

[1]. Những con số về Digital tại Việt Nam 2024 mà bạn phải biết, đăng tải trên trang web https://vecom.vn/nhung-con-so-ve-digital-tai-viet-nam-2024-ma-ban-phai-biet.

[2]. Tràn lan quảng cáo bẩn vi phạm pháp luật trên không gian mạng, đăng tải trên trang web https://cand.com.vn/cong-nghe/tran-lan-quang-cao-ban-vi-pham-phap-luat-tren-khong-gian-mang-i717803/.

[3]. Đề xuất bổ sung quy định hoạt động quảng cáo của người nổi tiếng sử dụng mạng xã hội, đăng tải trên trang web https://vtv.vn/van-hoa-giai-tri/de-xuat-bo-sung-quy-dinh-hoat-dong-quang-cao-cua-nguoi-noi-tieng-su-dung-mang-xa-hoi-20240306222733828.htm.

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 410), tháng 8/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin - Tiếp cận từ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin của công dân đóng vai trò quan trọng trong bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước. Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã phát sinh nhiều bất cập. Nghiên cứu phân tích Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn thi hành, từ đó, chỉ ra những hạn chế trong quy định pháp luật, hiệu quả thực thi, khả năng thích ứng với môi trường số và cơ chế giải trình. Đồng thời, từ góc độ giám sát, phản biện xã hội, nghiên cứu làm rõ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chỉ ra những bất cập về cơ sở pháp lý và điều kiện bảo đảm thực hiện. Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng tăng cường công khai, minh bạch, gắn với trách nhiệm giải trình và phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi và củng cố niềm tin xã hội.
Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Hoàn thiện mô hình trung tâm tài chính quốc tế để phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Tóm tắt: Trung tâm tài chính quốc tế là thiết chế tài chính đặc thù được nhiều quốc gia áp dụng nhằm thu hút đầu tư, phát triển thị trường tài chính và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bài viết phân tích khái niệm, đặc điểm và bản chất của trung tâm tài chính quốc tế; đánh giá khung pháp lý trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam theo Nghị quyết số 222/2025/QH15 trong mối tương quan với Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; nhận diện thách thức và đề xuất giải pháp nhằm triển khai hiệu quả mô hình này, góp phần tạo động lực phát triển kinh tế tư nhân trong bối cảnh Việt Nam hướng tới kỷ nguyên phát triển mới.
Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và quá trình chuyển dịch từ mô hình Chính phủ điện tử sang Chính phủ số, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin pháp luật là yêu cầu cấp thiết nhằm khắc phục khoảng cách giữa Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và thực tiễn dữ liệu số. Nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin pháp luật, đồng thời, đánh giá những tác động của chính sách chuyển đổi số đến phạm vi, hình thức và cơ chế thực thi quyền này tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin pháp luật như dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu liên thông giữa các hệ thống thông tin và rào cản về kỹ năng số của một bộ phận người dân. Từ đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi quyền tiếp cận thông tin pháp luật của công dân trong bối cảnh xây dựng Chính phủ số ở Việt Nam.
Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thực hiện các chính sách quản lý nhà nước về tôn giáo từ thực tiễn phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu về công tác quản lý tôn giáo tại phường Hạc Thành, đơn vị cấp xã lớn nhất ở Thanh Hóa, với hoạt động tôn giáo sôi động. Bài viết đánh giá hiệu quả các chính sách hiện hành, nhận diện một số tồn tại, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, như tăng cường tuyên truyền, đào tạo cán bộ và cải thiện giám sát. Dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đang được trình Quốc hội xem xét, thông qua được kỳ vọng góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tại địa phương.
Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Quy định của Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất tôn giáo

Tóm tắt: Pháp luật quy định tổ chức tôn giáo có quyền được sử dụng đất. Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khác nhau, việc thực hiện quyền này trên thực tế còn phát sinh nhiều vấn đề, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất và quản lý nhà nước. Nghiên cứu phân tích quy định Luật Đất đai năm 2024 về nguồn gốc hình thành, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất của tổ chức tôn giáo và tổ chức tôn giáo trực thuộc, chỉ ra những bất cập trong việc xác định nguồn gốc, tiêu chí giao đất, cơ chế công nhận nguồn gốc hợp pháp, điều kiện thay đổi mục đích sử dụng, cũng như khoảng trống pháp lý khi chấm dứt hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất. Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đất tôn giáo nhằm bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp hướng tới phát triển bền vững

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp năm 2013, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Hiến pháp năm 2013) và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, bài viết phân tích các quy định pháp luật kết hợp đánh giá thực tiễn thi hành để làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy, việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, như: thông tin chưa được công khai đầy đủ, kịp thời; thủ tục yêu cầu cung cấp thông tin còn phức tạp; dữ liệu công phân tán, thiếu liên thông, đặc biệt, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs). Từ đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Hoàn thiện quy định về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm tắt: Hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc là nhóm hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc duy trì tổ chức, truyền đạt giáo lý, đào tạo nhân sự tôn giáo và mở rộng quan hệ tổ chức, giao lưu tôn giáo. Trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi), các nội dung này tiếp tục được điều chỉnh nhưng có một số thay đổi đáng quan trọng so với Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, đặc biệt, ở quyền học tại lớp bồi dưỡng về tôn giáo, điều kiện thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, cơ chế đăng ký hoặc thông báo mở lớp bồi dưỡng, cũng như quy định về hội nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc. Nghiên cứu phân tích các quy định liên quan trong dự thảo Luật, chỉ ra những điểm kế thừa, sửa đổi và một số vấn đề chưa thật sự thống nhất, kỹ thuật dẫn chiếu còn chưa rõ, và chưa thể hiện đầy đủ chế độ pháp lý áp dụng đối với hoạt động hội thảo. Trên cơ sở đó, đề xuất một số kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính minh bạch, khả thi và phù hợp với thực tiễn hoạt động tôn giáo hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về ký quỹ nhằm bảo đảm tiến độ thực hiện dự án kinh doanh bất động sản ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh thị trường bất động sản phát triển nhanh nhưng nhiều dự án chậm tiến độ, đình trệ, kéo dài, cơ chế ký quỹ được đặt ra như một công cụ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm năng lực tài chính và trách nhiệm triển khai của chủ đầu tư. Tuy nhiên, qua nghiên cứu quy định của Luật Đầu tư năm 2025, Luật Đất đai năm 2024 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 cho thấy, hệ thống pháp luật về ký quỹ còn phân tán, thiếu liên thông, dẫn đến hiệu quả thực thi chưa cao. Từ thực tế áp dụng cơ chế ký quỹ, bài viết kiến nghị hoàn thiện pháp luật theo hướng nâng cao tính ràng buộc của ký quỹ, tăng cường minh bạch, bảo đảm tiến độ dự án và phòng ngừa lãng phí nguồn lực đất đai.
Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Hoàn thiện chế định tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)

Tóm tắt: Chương VII dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định về tài sản của cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo gần như giữ nguyên nội dung Chương VII Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016. Tuy nhiên, phân tích từ góc độ liên thông giữa Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 với Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Đất đai năm 2024, cho thấy có một số bất cập, nếu được hoàn thiện trong dự thảo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) sẽ giúp hệ thống pháp luật liên quan đến chế định này được hoàn thiện, đồng bộ hơn.
Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính ở Việt Nam - Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Mặc dù có nhiều thay đổi phù hợp với các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi sắp xếp, tinh, gọn, pháp luật về giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính còn tồn tại một số bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng đòi hỏi thực tiễn, đặc biệt là việc bảo đảm dân chủ trong giám sát thực thi pháp luật của chủ thể có thẩm quyền. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật giải quyết tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm góp phần phòng chống tham nhũng, tiêu cực, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính.

Theo dõi chúng tôi trên: