Thứ ba 10/03/2026 00:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói riêng. Hoạt động Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng dân sự, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm.

Hiệu quả thi hành án là một trong những yếu tố quan trọng để đo lường tính hiệu quả của hoạt động tư pháp, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội; tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quyết định, bản án của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trong thực tế. Bài viết dưới đây tác giả đã đề cập đến một vấn đề quan trọng trong thi hành án dân sự đó là tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Các tài liệu khác mà người dân phải cung cấp có thể là: Giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền), văn bản trả lời của Tòa án về việc đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại (nếu yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại). Đồng thời tác giả đã nêu lên thực tiễn áp dụng những quy định về tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật cũng như có những đề xuất, kiến nghị cụ thể với mục đích nâng cao chất lượng hệ thống thể chế nhằm phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn, giảm thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và hướng tới kết quả theo chỉ tiêu của Quốc hội, của Ngành giao.

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Để thi hành xong một bản án, quyết định, cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện rất nhiều thủ tục. Trong đó, việc ra quyết định thi hành án được xem là thủ tục đầu tiên của cơ quan thi hành án dân sự và là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng vì thông qua quyết định thi hành án, các giai đoạn tiếp theo của quá trình thi hành bản án, quyết định mới được thực hiện. Theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ một số trường hợp liên quan đến các nội dung như: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Đây được xem là loại hình thi hành án chủ động.

Điều này có nghĩa là, ngoài sáu trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), người được thi hành án muốn được thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải chủ động làm đơn gửi đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Đây được xem là loại thi hành án theo đơn yêu cầu.

1. Thực tiễn áp dụng

Luật Thi hành án dân sự hiện hành đã sửa đổi, bổ sung 55/183 điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Trong đó, có sửa đổi quy định liên quan đến việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án như: Thay đổi quy định “đơn yêu cầu thi hành án” bằng thuật ngữ “yêu cầu thi hành án” hoặc “thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu” thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn. Tuy nhiên, nội dung liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án thì vẫn giữ nguyên theo hướng chỉ quy định: “Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan”.

Xoay quanh các loại tài liệu kèm theo đơn yêu cầu thi hành, tác giả xin đưa ra một số vấn đề cần bàn luận như sau:

1.1. Liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Bên cạnh loại tài liệu là “bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực” (bao gồm phán quyết của Trọng tài thương mại nếu yêu cầu thi hành đối với phán quyết của Trọng tài thương mại) được xem là tài liệu bắt buộc để cơ quan thi hành thụ lý yêu cầu thi hành án và ban hành được quyết định thi hành án dân sự, các “tài liệu khác có liên quan” là những tài liệu gì thì chưa được quy định rõ. Trên thực tế áp dụng, các tài liệu khác mà người dân phải cung cấp có thể là: (i) Giấy tờ tùy thân (giấy chứng minh nhân dân nếu là cá nhân, giấy chứng minh là người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức); (ii) Giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền); (iii) Văn bản trả lời của Tòa án về việc đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại (nếu yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại). Về vấn đề này, tác giả có quan điểm như sau:

Thứ nhất, đối với các giấy tờ nêu tại điểm (i) và (ii) cũng là một trong những loại giấy tờ cần thiết phải xuất trình khi nộp yêu cầu thi hành. Bởi nó là cơ sở để cơ quan thi hành án dân sự kiểm tra, đối chiếu xem người nộp yêu cầu thi hành án có phải là đối tượng được thi hành án hay không. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự lại không có quy định và hướng dẫn cụ thể. Điều này đã gây ra một số bất cập trên thực tế áp dụng. Cụ thể:

- Đối với người dân, điều này sẽ khó khăn cho họ khi đến cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án vì không phải ai cũng đủ kiến thức pháp luật để có sự chuẩn bị đầy đủ các tài liệu kèm theo trước khi đến cơ quan thi hành án và như vậy lại mất thêm thời gian vì phải đi lại nhiều lần để bổ sung giấy tờ theo quy định của cơ quan thi hành án nơi người dân đến liên hệ nếu thiếu.

- Đối với cơ quan thi hành án, có thể dẫn đến việc tùy mỗi địa phương sẽ quy định những loại giấy tờ khác nhau, tạo ra sự không thống nhất. Đồng thời, điều này sẽ gây khó khăn cho bộ phận thụ lý yêu cầu trong trường hợp người dân dẫn chiếu quy định pháp luật và cho rằng cán bộ thụ lý gây khó khăn, nhũng nhiễu, nhưng chính điều này cũng có thể tạo ra cơ hội tiêu cực trong công chức thi hành án.

Thứ hai, đối với các tài liệu nêu tại điểm (iii) thì trên thực tế, hầu hết các đương sự khi đến cơ quan thi hành án nộp yêu cầu thi hành án đều không biết cần phải có văn bản này. Do đó, họ lại phải quay về và chờ một thời gian rất lâu để được Tòa án trả lời. Đồng thời, cũng có trường hợp, sau khi được hướng dẫn, đương sự đã có văn bản trả lời của Tòa án nhưng nội dung văn bản lại không thể hiện rõ ràng là có đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại hay không. Lúc này, cơ quan thi hành án không thể từ chối yêu cầu của đương sự nhưng để đảm bảo chặt chẽ, cơ quan thi hành án nhận yêu cầu nhưng lại tiếp tục phải có văn bản gửi Tòa án. Như vậy, thời gian để ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu bị kéo dài. Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) lại không quy định thời hạn bao lâu thì Tòa án phải có văn bản trả lời, dẫn đến vụ việc thi hành án có thể bị kéo dài, người dân không hiểu có thể sẽ khiếu nại vì cho rằng cơ quan thi hành án cố tình không thi hành vụ việc của họ.

1.2. Xét về hình thức của các loại giấy tờ bắt buộc kèm theo yêu cầu thi hành án

Các tài liệu này bắt buộc phải là bản chính hay có thể chỉ là bản sao và cơ quan nào thực hiện việc chứng thực bản sao được công nhận?

Đối với vấn đề này, hiện nay, tại mỗi địa phương, tùy vào quan điểm của lãnh đạo đơn vị mà có sự vận dụng khác nhau. Đề cập đến vấn đề này, tác giả cho rằng, do không có quy định và hướng dẫn cụ thể nên đã tạo ra sự không nhất quán trong cách áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thi hành án. Điều này có thể sẽ dẫn đến hai trường hợp:

Một là, để đảm bảo chặt chẽ, khi đương sự nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu phải kèm theo bản chính bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cấp trích lục bản án trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa. Nghĩa là, đương sự vẫn có thể được cấp bản sao và có thể nộp cho cơ quan thi hành án dân sự bản sao. Vì vậy, nếu yêu cầu đương sự phải nộp bản chính thì thiết nghĩ cơ quan thi hành án dân sự có thể bị xem là đang đi ngược lại với xu hướng cải cách hành chính mà Đảng và Chính phủ đang đặt ra.

Hai là, sẽ có sự cải tiến hơn so với trường hợp thứ nhất, khi chỉ cần cung cấp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng đặt ra vấn đề bản sao này sẽ phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc” hay chỉ là “bản sao được chứng thực từ bản chính”. Bởi, theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định giá trị pháp lý của hai loại bản sao này là khác nhau. Dù trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định hướng dẫn không đề cập đến vấn đề này nhưng thực tế áp dụng hiện nay là đối với loại tài liệu bắt buộc là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc”. Điều này có nghĩa, cơ quan thi hành án dân sự sẽ không chấp nhận các tài liệu là bản sao tại những cơ quan có thẩm quyền về chứng thực theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Tác giả đồng ý với thực tế áp dụng này đối với bản án, quyết định của Tòa án. Bởi bản án, quyết định của Tòa án là một trong những văn bản đặc thù - văn bản do cơ quan tiến hành tố tụng ban hành và theo quy định tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao bản án dưới hình thức trích lục: “Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án”. Do đó, việc quy định sao y đối với bản án, quyết định của Tòa án phải do Tòa án thực hiện dưới hình thức trích lục là phù hợp.

Riêng đối với “quyết định là phán quyết của Trọng tài thương mại”, tác giả còn băn khoăn là tài liệu này để được cơ quan thi hành án dân sự công nhận thì có phải cũng bắt buộc trích lục từ Trung tâm Trọng tài thương mại hay không. Đây là tổ chức được thành lập, hoạt động và chấm dứt như một doanh nghiệp, không phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ liệt kê sáu loại bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao gồm: (i) Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ; (ii) Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung; (iii) Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp; (iv) Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân; (v) Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định này; (vi) Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, phán quyết của Trọng tài thương mại vẫn có thể chứng thực bản sao tại các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự không có lý do gì để yêu cầu bản sao phán quyết Trọng tài thương mại phải do chính Trung tâm Trọng tài thương mại cấp và từ chối nếu không đúng.

Ngoài ra, theo quy định về cải cách thủ tục hành chính hiện nay, trong một số thủ tục như: Cấp giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, các thủ tục liên quan đến hộ tịch khác… việc cung cấp giấy tờ chứng minh nhân thân (chứng minh nhân dân, hộ khẩu) không cần phải có chứng thực. Người dân chỉ cần đem bản chính để đối chiếu. Trong khi đó, khi nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự lại yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh nhân thân là bản sao có chứng thực. Điều này tạo ra sự không tương thích với những quy định khác có liên quan và có thể là vi phạm về cải cách thủ tục hành chính.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Cải cách thủ tục hành chính được Chính phủ xác định là một nhiệm vụ trọng tâm bởi đây là đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong đó, về phía khối cơ quan hành chính, phải coi đây là việc làm thường xuyên, liên tục của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Thi hành án dân sự cũng không nằm ngoài xu hướng chung này với mục đích nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn, chất lượng hệ thống thể chế ngày một cao hơn. Đồng thời, phải xác định cải cách thủ tục hành chính không phải là sửa đổi được bao nhiêu quy định mà cốt lõi là những sửa đổi này phải đi vào cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và hướng tới mục đích cuối cùng của công tác thi hành án dân sự là đạt được kết quả theo chỉ tiêu của Quốc hội, của Ngành giao.

Theo quan điểm tác giả, để khắc phục một số bất cập như đã nêu cần có thời gian và lộ trình thích hợp. Tuy nhiên, trước mắt cần triển khai một số hoạt động như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định của pháp luật theo hướng:

- Tổng cục Thi hành án dân sự cần tham mưu cho Bộ Tư pháp, Chính phủ bổ sung cụ thể các loại tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành trong Nghị định hướng dẫn. Từ đó tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng và thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu.

- Cũng giống như các thủ tục hành chính khác và để tránh tình trạng như hiện nay, mỗi địa phương thực hiện quy trình tiếp nhận yêu cầu thi hành án khác nhau (có địa phương người dân nộp yêu cầu tại bộ phận tiếp nhận thuộc Văn phòng, có địa phương nộp tại Phòng nghiệp vụ…), Tổng cục Thi hành án dân sự sớm tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành quyết định quy định hướng dẫn các địa phương xây dựng quy trình giải quyết thi hành án. Trong đó, nêu rõ, cụ thể các bước mà cơ quan thi hành án phải thực hiện khi ra quyết định thi hành, thời gian thực hiện và các tài liệu bao gồm những loại giấy tờ gì, bản chính hay bản sao, nộp bao nhiêu bộ…

Thứ hai, tiến tới áp dụng các hình thức giải quyết thủ tục qua mạng khi cơ sở hạ tầng cho phép. Theo đó, cũng như một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp thuộc Bộ Tư pháp quản lý hiện nay đang được áp dụng hình thức giải quyết qua internet, thì thiết nghĩ, công tác thi hành án cũng có thể áp dụng được hình thức này. Bước đầu là tiến hành ở khâu nộp yêu cầu thi hành án qua mạng thay vì phải đến trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự. Đến thời điểm hiện nay, cả nước đã có Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành hình thức này từ ngày 01/6/2016 và đến ngày 04/7/2016, đã trao hai quyết định thi hành án đầu tiên theo cơ chế “một cửa”. Theo đó, các tổ chức, cá nhân chỉ cần gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm theo bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết đã có hiệu lực pháp luật (bản scan) vào hộp thư điện tử của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7. Trong thời gian một ngày làm việc, bộ phận tiếp nhận thủ tục thi hành án nhận email sẽ trả lời liền cho đương sự biết hồ sơ có đủ điều kiện thụ lý hay chưa và cần bổ sung thêm gì. Nếu hồ sơ đủ điều kiện, trong thời gian năm ngày làm việc (kể từ lúc nhận được email), bộ phận tiếp nhận hồ sơ sẽ gửi tin nhắn qua điện thoại cho đương sự biết kết quả thụ lý, số điện thoại của chấp hành viên tổ chức thi hành và hẹn ngày, giờ đến nhận quyết định thi hành án. Khi đến, đương sự sẽ nộp bản chính: Đơn yêu cầu thi hành án, bản án, quyết định.

ThS. Mai Thị Thùy Dung

Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: