Thứ ba 06/10/2026 15:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tư pháp nói chung và trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nói riêng. Hoạt động Thi hành án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng dân sự, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm.

Hiệu quả thi hành án là một trong những yếu tố quan trọng để đo lường tính hiệu quả của hoạt động tư pháp, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội; tăng cường hiệu lực hiệu quả của bộ máy nhà nước. Quyết định, bản án của Tòa án chỉ thực sự có giá trị khi được thi hành trong thực tế. Bài viết dưới đây tác giả đã đề cập đến một vấn đề quan trọng trong thi hành án dân sự đó là tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật. Các tài liệu khác mà người dân phải cung cấp có thể là: Giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền), văn bản trả lời của Tòa án về việc đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại (nếu yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại). Đồng thời tác giả đã nêu lên thực tiễn áp dụng những quy định về tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành án dân sự theo quy định của pháp luật cũng như có những đề xuất, kiến nghị cụ thể với mục đích nâng cao chất lượng hệ thống thể chế nhằm phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn, giảm thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và hướng tới kết quả theo chỉ tiêu của Quốc hội, của Ngành giao.

Thi hành án dân sự có vai trò quan trọng trong hoạt động tố tụng nói chung và quá trình giải quyết vụ án nói riêng. Đây là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà nước. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước.

Để thi hành xong một bản án, quyết định, cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện rất nhiều thủ tục. Trong đó, việc ra quyết định thi hành án được xem là thủ tục đầu tiên của cơ quan thi hành án dân sự và là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng vì thông qua quyết định thi hành án, các giai đoạn tiếp theo của quá trình thi hành bản án, quyết định mới được thực hiện. Theo Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án khi có yêu cầu thi hành án, trừ một số trường hợp liên quan đến các nội dung như: Hình phạt tiền, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, án phí, lệ phí Tòa án; trả lại tiền, tài sản cho đương sự; tịch thu sung quỹ nhà nước, tịch thu tiêu hủy vật chứng, tài sản; các khoản thu khác cho Nhà nước; thu hồi quyền sử dụng đất và tài sản khác thuộc diện sung quỹ nhà nước; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định của Tòa án giải quyết phá sản. Đây được xem là loại hình thi hành án chủ động.

Điều này có nghĩa là, ngoài sáu trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), người được thi hành án muốn được thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì phải chủ động làm đơn gửi đến cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Đây được xem là loại thi hành án theo đơn yêu cầu.

1. Thực tiễn áp dụng

Luật Thi hành án dân sự hiện hành đã sửa đổi, bổ sung 55/183 điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Trong đó, có sửa đổi quy định liên quan đến việc tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án như: Thay đổi quy định “đơn yêu cầu thi hành án” bằng thuật ngữ “yêu cầu thi hành án” hoặc “thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu” thay cho việc cấp giấy xác nhận đã nhận đơn. Tuy nhiên, nội dung liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án thì vẫn giữ nguyên theo hướng chỉ quy định: “Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan”.

Xoay quanh các loại tài liệu kèm theo đơn yêu cầu thi hành, tác giả xin đưa ra một số vấn đề cần bàn luận như sau:

1.1. Liên quan đến “các tài liệu kèm theo” yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 4 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Bên cạnh loại tài liệu là “bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực” (bao gồm phán quyết của Trọng tài thương mại nếu yêu cầu thi hành đối với phán quyết của Trọng tài thương mại) được xem là tài liệu bắt buộc để cơ quan thi hành thụ lý yêu cầu thi hành án và ban hành được quyết định thi hành án dân sự, các “tài liệu khác có liên quan” là những tài liệu gì thì chưa được quy định rõ. Trên thực tế áp dụng, các tài liệu khác mà người dân phải cung cấp có thể là: (i) Giấy tờ tùy thân (giấy chứng minh nhân dân nếu là cá nhân, giấy chứng minh là người có thẩm quyền đại diện cho tổ chức); (ii) Giấy ủy quyền (nếu có sự ủy quyền); (iii) Văn bản trả lời của Tòa án về việc đến thời điểm hiện tại chưa tiếp nhận đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại (nếu yêu cầu thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại). Về vấn đề này, tác giả có quan điểm như sau:

Thứ nhất, đối với các giấy tờ nêu tại điểm (i) và (ii) cũng là một trong những loại giấy tờ cần thiết phải xuất trình khi nộp yêu cầu thi hành. Bởi nó là cơ sở để cơ quan thi hành án dân sự kiểm tra, đối chiếu xem người nộp yêu cầu thi hành án có phải là đối tượng được thi hành án hay không. Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự lại không có quy định và hướng dẫn cụ thể. Điều này đã gây ra một số bất cập trên thực tế áp dụng. Cụ thể:

- Đối với người dân, điều này sẽ khó khăn cho họ khi đến cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án vì không phải ai cũng đủ kiến thức pháp luật để có sự chuẩn bị đầy đủ các tài liệu kèm theo trước khi đến cơ quan thi hành án và như vậy lại mất thêm thời gian vì phải đi lại nhiều lần để bổ sung giấy tờ theo quy định của cơ quan thi hành án nơi người dân đến liên hệ nếu thiếu.

- Đối với cơ quan thi hành án, có thể dẫn đến việc tùy mỗi địa phương sẽ quy định những loại giấy tờ khác nhau, tạo ra sự không thống nhất. Đồng thời, điều này sẽ gây khó khăn cho bộ phận thụ lý yêu cầu trong trường hợp người dân dẫn chiếu quy định pháp luật và cho rằng cán bộ thụ lý gây khó khăn, nhũng nhiễu, nhưng chính điều này cũng có thể tạo ra cơ hội tiêu cực trong công chức thi hành án.

Thứ hai, đối với các tài liệu nêu tại điểm (iii) thì trên thực tế, hầu hết các đương sự khi đến cơ quan thi hành án nộp yêu cầu thi hành án đều không biết cần phải có văn bản này. Do đó, họ lại phải quay về và chờ một thời gian rất lâu để được Tòa án trả lời. Đồng thời, cũng có trường hợp, sau khi được hướng dẫn, đương sự đã có văn bản trả lời của Tòa án nhưng nội dung văn bản lại không thể hiện rõ ràng là có đơn yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài thương mại hay không. Lúc này, cơ quan thi hành án không thể từ chối yêu cầu của đương sự nhưng để đảm bảo chặt chẽ, cơ quan thi hành án nhận yêu cầu nhưng lại tiếp tục phải có văn bản gửi Tòa án. Như vậy, thời gian để ban hành quyết định thi hành án theo yêu cầu bị kéo dài. Trong khi đó, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) lại không quy định thời hạn bao lâu thì Tòa án phải có văn bản trả lời, dẫn đến vụ việc thi hành án có thể bị kéo dài, người dân không hiểu có thể sẽ khiếu nại vì cho rằng cơ quan thi hành án cố tình không thi hành vụ việc của họ.

1.2. Xét về hình thức của các loại giấy tờ bắt buộc kèm theo yêu cầu thi hành án

Các tài liệu này bắt buộc phải là bản chính hay có thể chỉ là bản sao và cơ quan nào thực hiện việc chứng thực bản sao được công nhận?

Đối với vấn đề này, hiện nay, tại mỗi địa phương, tùy vào quan điểm của lãnh đạo đơn vị mà có sự vận dụng khác nhau. Đề cập đến vấn đề này, tác giả cho rằng, do không có quy định và hướng dẫn cụ thể nên đã tạo ra sự không nhất quán trong cách áp dụng pháp luật giữa các cơ quan thi hành án. Điều này có thể sẽ dẫn đến hai trường hợp:

Một là, để đảm bảo chặt chẽ, khi đương sự nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án có quyền yêu cầu phải kèm theo bản chính bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định đương sự vẫn có quyền yêu cầu Tòa án cấp trích lục bản án trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa. Nghĩa là, đương sự vẫn có thể được cấp bản sao và có thể nộp cho cơ quan thi hành án dân sự bản sao. Vì vậy, nếu yêu cầu đương sự phải nộp bản chính thì thiết nghĩ cơ quan thi hành án dân sự có thể bị xem là đang đi ngược lại với xu hướng cải cách hành chính mà Đảng và Chính phủ đang đặt ra.

Hai là, sẽ có sự cải tiến hơn so với trường hợp thứ nhất, khi chỉ cần cung cấp bản sao bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, trong trường hợp này cũng đặt ra vấn đề bản sao này sẽ phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc” hay chỉ là “bản sao được chứng thực từ bản chính”. Bởi, theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) quy định giá trị pháp lý của hai loại bản sao này là khác nhau. Dù trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và Nghị định hướng dẫn không đề cập đến vấn đề này nhưng thực tế áp dụng hiện nay là đối với loại tài liệu bắt buộc là bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì phải là “bản sao được cấp từ sổ gốc”. Điều này có nghĩa, cơ quan thi hành án dân sự sẽ không chấp nhận các tài liệu là bản sao tại những cơ quan có thẩm quyền về chứng thực theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP.

Tác giả đồng ý với thực tế áp dụng này đối với bản án, quyết định của Tòa án. Bởi bản án, quyết định của Tòa án là một trong những văn bản đặc thù - văn bản do cơ quan tiến hành tố tụng ban hành và theo quy định tại Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án là cơ quan có thẩm quyền cấp bản sao bản án dưới hình thức trích lục: “Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án”. Do đó, việc quy định sao y đối với bản án, quyết định của Tòa án phải do Tòa án thực hiện dưới hình thức trích lục là phù hợp.

Riêng đối với “quyết định là phán quyết của Trọng tài thương mại”, tác giả còn băn khoăn là tài liệu này để được cơ quan thi hành án dân sự công nhận thì có phải cũng bắt buộc trích lục từ Trung tâm Trọng tài thương mại hay không. Đây là tổ chức được thành lập, hoạt động và chấm dứt như một doanh nghiệp, không phải là cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay cơ quan tiến hành tố tụng. Đồng thời, tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP chỉ liệt kê sáu loại bản chính giấy tờ, văn bản không được dùng làm cơ sở để chứng thực bản sao gồm: (i) Bản chính bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm, bớt nội dung không hợp lệ; (ii) Bản chính bị hư hỏng, cũ nát, không xác định được nội dung; (iii) Bản chính đóng dấu mật của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc không đóng dấu mật nhưng ghi rõ không được sao chụp; (iv) Bản chính có nội dung trái pháp luật, đạo đức xã hội; tuyên truyền, kích động chiến tranh, chống chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xuyên tạc lịch sử của dân tộc Việt Nam; xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức; vi phạm quyền công dân; (v) Bản chính do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp, công chứng hoặc chứng nhận chưa được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định tại khoản 1 Điều 20 của Nghị định này; (vi) Giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, phán quyết của Trọng tài thương mại vẫn có thể chứng thực bản sao tại các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Như vậy, cơ quan thi hành án dân sự không có lý do gì để yêu cầu bản sao phán quyết Trọng tài thương mại phải do chính Trung tâm Trọng tài thương mại cấp và từ chối nếu không đúng.

Ngoài ra, theo quy định về cải cách thủ tục hành chính hiện nay, trong một số thủ tục như: Cấp giấy khai sinh, đăng ký kết hôn, các thủ tục liên quan đến hộ tịch khác… việc cung cấp giấy tờ chứng minh nhân thân (chứng minh nhân dân, hộ khẩu) không cần phải có chứng thực. Người dân chỉ cần đem bản chính để đối chiếu. Trong khi đó, khi nộp yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự lại yêu cầu phải có giấy tờ chứng minh nhân thân là bản sao có chứng thực. Điều này tạo ra sự không tương thích với những quy định khác có liên quan và có thể là vi phạm về cải cách thủ tục hành chính.

2. Một số đề xuất, kiến nghị

Cải cách thủ tục hành chính được Chính phủ xác định là một nhiệm vụ trọng tâm bởi đây là đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta. Trong đó, về phía khối cơ quan hành chính, phải coi đây là việc làm thường xuyên, liên tục của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, là trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước. Thi hành án dân sự cũng không nằm ngoài xu hướng chung này với mục đích nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn, chất lượng hệ thống thể chế ngày một cao hơn. Đồng thời, phải xác định cải cách thủ tục hành chính không phải là sửa đổi được bao nhiêu quy định mà cốt lõi là những sửa đổi này phải đi vào cuộc sống, giảm thiểu gánh nặng, khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và hướng tới mục đích cuối cùng của công tác thi hành án dân sự là đạt được kết quả theo chỉ tiêu của Quốc hội, của Ngành giao.

Theo quan điểm tác giả, để khắc phục một số bất cập như đã nêu cần có thời gian và lộ trình thích hợp. Tuy nhiên, trước mắt cần triển khai một số hoạt động như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, quy định của pháp luật theo hướng:

- Tổng cục Thi hành án dân sự cần tham mưu cho Bộ Tư pháp, Chính phủ bổ sung cụ thể các loại tài liệu kèm theo yêu cầu thi hành trong Nghị định hướng dẫn. Từ đó tạo ra sự thống nhất trong việc áp dụng và thuận lợi cho người dân khi có nhu cầu.

- Cũng giống như các thủ tục hành chính khác và để tránh tình trạng như hiện nay, mỗi địa phương thực hiện quy trình tiếp nhận yêu cầu thi hành án khác nhau (có địa phương người dân nộp yêu cầu tại bộ phận tiếp nhận thuộc Văn phòng, có địa phương nộp tại Phòng nghiệp vụ…), Tổng cục Thi hành án dân sự sớm tham mưu cho Bộ Tư pháp ban hành quyết định quy định hướng dẫn các địa phương xây dựng quy trình giải quyết thi hành án. Trong đó, nêu rõ, cụ thể các bước mà cơ quan thi hành án phải thực hiện khi ra quyết định thi hành, thời gian thực hiện và các tài liệu bao gồm những loại giấy tờ gì, bản chính hay bản sao, nộp bao nhiêu bộ…

Thứ hai, tiến tới áp dụng các hình thức giải quyết thủ tục qua mạng khi cơ sở hạ tầng cho phép. Theo đó, cũng như một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực tư pháp thuộc Bộ Tư pháp quản lý hiện nay đang được áp dụng hình thức giải quyết qua internet, thì thiết nghĩ, công tác thi hành án cũng có thể áp dụng được hình thức này. Bước đầu là tiến hành ở khâu nộp yêu cầu thi hành án qua mạng thay vì phải đến trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự. Đến thời điểm hiện nay, cả nước đã có Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh tiến hành hình thức này từ ngày 01/6/2016 và đến ngày 04/7/2016, đã trao hai quyết định thi hành án đầu tiên theo cơ chế “một cửa”. Theo đó, các tổ chức, cá nhân chỉ cần gửi đơn yêu cầu thi hành án kèm theo bản án, quyết định của Tòa án, phán quyết đã có hiệu lực pháp luật (bản scan) vào hộp thư điện tử của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7. Trong thời gian một ngày làm việc, bộ phận tiếp nhận thủ tục thi hành án nhận email sẽ trả lời liền cho đương sự biết hồ sơ có đủ điều kiện thụ lý hay chưa và cần bổ sung thêm gì. Nếu hồ sơ đủ điều kiện, trong thời gian năm ngày làm việc (kể từ lúc nhận được email), bộ phận tiếp nhận hồ sơ sẽ gửi tin nhắn qua điện thoại cho đương sự biết kết quả thụ lý, số điện thoại của chấp hành viên tổ chức thi hành và hẹn ngày, giờ đến nhận quyết định thi hành án. Khi đến, đương sự sẽ nộp bản chính: Đơn yêu cầu thi hành án, bản án, quyết định.

ThS. Mai Thị Thùy Dung

Cục Công tác phía Nam, Bộ Tư pháp



In bài viết Gửi phản hồi

Các tin khác

Nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành án dân sự và xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại Vướng mắc trong thụ lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật và thụ lý ly hôn Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng Tạm dừng việc cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng trong trường hợp nào? Mối quan hệ giữa Toà án và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự liên quan đến giao dịch dân sự vô hiệu Hủy giấy chứng nhận kết hôn có coi là hủy hôn nhân trái pháp luật không? Xác định mục đích của nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2005

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: