Thứ năm 27/08/2026 06:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Tóm tắt: Bài viết này phân tích các nhu cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Tóm tắt: Bài viết này phân tích các nhu cầu và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

Abstract: This paper analyzes needs and proposes some solutions for strengthening the coordination relationship between legislative power and judicial power in state power control in Vietnam nowadays.

1. Đặt vấn đề

Mục tiêu xây dựng Việt Nam thành một quốc gia công nghiệp theo hướng hiện đại vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức rất lớn, thúc đẩy hơn nữa quá trình dân chủ hóa sâu rộng trong mọi mặt đời sống xã hội. Bên cạnh đó, nhiệm vụ hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh hội nhập quốc tế cùng với cải cách nền hành chính nhà nước được xác định là những nội dung đột phá mang tính chiến lược. Điều này sẽ tạo nên những tiền đề vật chất và môi trường cho bước phát triển mới đối với các quan hệ xã hội, tác động sâu sắc đến nhận thức và đòi hỏi của kiểm soát quyền lực nhà nước.

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới đã xuất hiện hai vấn đề, cụ thể:

Thứ nhất, những thành công trong phát triển kinh tế - xã hội đã tạo cơ hội thuận lợi cho đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin, tạo ra những phản ứng tích cực từ phía người dân đối với các chủ trương, quyết sách của Đảng và Nhà nước trong xây dựng, phát triển đất nước.

Thứ hai, những thất bại trong phát triển kinh tế cũng như thực thi các chính sách và chương trình xã hội đã ít nhiều gây ra tâm lý tiêu cực, suy giảm lòng tin của người dân, phá vỡ khối đồng thuận xã hội và mất động lực phát triển trong những chừng mực nhất định.

Cùng với đó, công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một định hướng có tính chất nguyên tắc trong chiến lược phát triển của đất nước ta. Do vậy, Nhà nước có nhiệm vụ chăm lo, phục vụ nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước phải theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”[1].

Việc thừa nhận nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức bộ máy nhà nước được xem là một trong những bước tiến quan trọng của Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, nguyên tắc này vẫn chỉ được áp dụng trên khía cạnh kỹ thuật tổ chức và phân công lao động mà chưa thể hiện được bản chất chính trị của việc phân công thực hiện quyền lực nhà nước. Việc phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập, thiếu chuyên nghiệp. Tình trạng này làm cho hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước chưa cao.

Một trong những lý do phải kể đến chính là mối quan hệ phối hợp giữa các nhánh quyền lực nói chung, giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp nói riêng chưa được phát huy một cách đầy đủ đã dẫn đến tình trạng quyền lực nhà nước bị tha hóa. Tình trạng này không chỉ làm suy yếu chức năng của các nhánh quyền lực trong việc thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mà còn trở thành lực cản rất lớn đối với quá trình thực thi dân chủ trong xã hội.

Thực trạng nêu trên đã đặt nhiệm vụ tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước trước những thách thức lớn. Xuất phát từ nhu cầu chuẩn hóa hệ thống lý luận về phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, tiếp thu những hạt nhân hợp lý trong các lý thuyết mới, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận về mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, trong đó mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung đặc biệt quan trọng.

2. Sự cần thiết phải tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước

Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước xuất phát từ những lý do sau đây:

Thứ nhất, xuất phát từ nhu cầu về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Để có được một Nhà nước thực sự như vậy thì trọng tâm là cần phải xử lý mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và quyền lực nhân dân, cũng như mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước liên quan đến việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân chính là một nhà nước dân chủ. Về mặt lý thuyết, dân chủ là một chế độ nhà nước mà ở đó mọi quyền lực đều bắt nguồn từ nhân dân. Chính vì vậy, nhân dân là chủ thể tối cao có quyền xác lập và phân công quyền lực nhà nước, tức là nhân dân thực hiện việc phân định quyền lực của mình và xác định phạm vi ủy quyền quyền lực cho các cơ quan nhà nước.

Vấn đề tiếp theo là sau khi những “ranh giới” quyền lực đã được xác định thì làm thế nào để tổ chức thực hiện quyền lực đó trên thực tế? Nhân dân còn nắm giữ quyền gì để kiểm soát được hoạt động của cơ quan nhà nước? Các cơ quan nhà nước sẽ phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau trong thực hiện quyền lực nhà nước như thế nào? Tất cả những câu hỏi trên đều nhằm đảm bảo để nhân dân nắm được quyền lực của mình, đảm bảo quyền lực sau khi được trao đi vẫn được bảo toàn và phát triển. Ý nghĩa và vai trò của sự phân công và phối hợp thực hiện quyền lực nhà nước được thể hiện ở chỗ nó là căn cứ để nhân dân đánh giá xem việc ủy quyền của mình đã hợp lý chưa, sự phối hợp thực hiện quyền lực giữa Nhà nước và nhân dân có hiệu quả không.

Như vậy, phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước như quy định của Hiến pháp được xem là một quá trình liên tục, là một chu trình khép kín để bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân. Nói cách khác, đây là cách thức để Nhà nước, cụ thể là các cơ quan nhà nước và những người thực thi công vụ cam kết với nhân dân về một chế độ dân chủ và mức độ dân chủ của Nhà nước.

Có thể nói, nhu cầu về một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân đặt ra yêu cầu phải có những thay đổi mang tính khoa học hơn đối với vấn đề phân công và phối hợp quyền lực nhà nước, trong đó có sự phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp để đảm bảo kiểm soát quyền lực nhà nước được hiệu quả hơn.

Thứ hai, xuất phát từ nhu cầu xây dựng Nhà nước kiến tạo, phát triển

Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm giới hạn quyền lực nhà nước trong phạm vi nhân dân ủy quyền chứ không phải để làm suy yếu quyền lực nhà nước hay làm cho vai trò của Nhà nước mờ nhạt đi, mà trái lại càng làm cho vai trò của Nhà nước rõ nét hơn, đủ sức tiếp nhận và tổ chức thực thi có hiệu quả quyền lực nhà nước được nhân dân giao phó. Nguyên tắc “Nhà nước mạnh và sáng suốt” được quy định ngay trong Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Nhà nước mạnh là Nhà nước có khả năng bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

Thực tế đã chứng minh rằng, khi “Nhà nước được tổ chức bằng con đường dân chủ sẽ làm nên tính chính danh của Nhà nước; Hiến pháp và pháp luật được xây dựng và ban hành dân chủ sẽ tạo nên hiệu lực của pháp luật. Cả hai yếu tố đó là cơ sở để cho Nhà nước mạnh”[2]. Các thể chế dân chủ chỉ yêu cầu về giới hạn đối với quyền lực nhà nước để chống lạm dụng quyền lực chứ không yêu cầu quyền lực nhà nước phải yếu đi. Khi nhân dân kiểm soát được quyền lực nhà nước, thống nhất với ý chí của Nhà nước thì sự ủng hộ của nhân dân sẽ làm cho Nhà nước vững mạnh hơn. Vì vậy, “Nhà nước mạnh là Nhà nước có nguồn gốc hình thành dân chủ và có nguyên tắc tổ chức và hoạt động dân chủ, mọi quyền lực đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân giao quyền, vì nhân dân phục vụ và chịu sự kiểm soát của nhân dân”[3].

Nhà nước mạnh ngày nay phải là Nhà nước dân chủ - pháp quyền. Đối với Việt Nam, đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước pháp quyền luôn đi liền với hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ về quyền và trách nhiệm của cả công dân lẫn Nhà nước; Nhà nước luôn phải thượng tôn pháp luật, sử dụng pháp luật để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và kiểm soát chính mình, sau đó mới kiểm soát xã hội. Pháp luật buộc mọi hoạt động của Nhà nước phải có trách nhiệm công khai, minh bạch và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Các hoạt động và quyết định của cơ quan nhà nước trong thực thi quyền lực nhà nước phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật; mọi tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật... là những nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp quyền và cũng là những yếu tố cơ bản để xây dựng một Nhà nước mạnh. Để các hoạt động và quyết định của cơ quan công quyền hợp hiến, hợp pháp thì cần phải có một cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ, hiệu quả từ chính nội bộ các cơ quan nhà nước và sự kiểm tra, giám sát của nhân dân. Chỉ khi quán triệt được quan điểm đó thì việc nhân dân, các tổ chức của nhân dân kiểm soát, giám sát cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước bằng các phương tiện pháp lý mới không bị can thiệp, đối phó hoặc bị cho là “gây cản trở”, làm khó khăn cho hoạt động của các cơ quan nhà nước. Chỉ khi nhận thức được rằng: Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là một biện pháp xây dựng để Nhà nước mạnh hơn thì chủ thể kiểm soát mới phát huy hết trách nhiệm tự thân và trách nhiệm pháp lý của mình trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước.

Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm xây dựng một Nhà nước mạnh đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống thể chế về dân chủ để phát huy được tiềm năng trí tuệ và sức mạnh của toàn xã hội, thống nhất được ý chí và hành động của nhân dân cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thể chế đó phải bảo đảm công khai, minh bạch về tổ chức; thực thi quyền lực nhà nước và trách nhiệm của Nhà nước trong quan hệ với nhân dân. Mặt khác, phải bảo đảm đầy đủ các quy định bằng pháp luật về quyền của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp để nhân dân có thể tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện cho mình kiểm soát quyền lực nhà nước một cách thuận tiện, có chất lượng và hiệu quả.

Thứ ba, xuất phát từ nhu cầu xây dựng môi trường dân chủ, công khai, minh bạch

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trên thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực; phải có cơ chế, pháp luật để nhân dân bày tỏ chính kiến, nguyện vọng và thực hiện quyền làm chủ của mình”[4].

Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước phải đi đôi với việc xây dựng môi trường dân chủ, công khai, minh bạch. Bởi không có môi trường dân chủ thực sự thì các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình cũng như thực hiện sự phối hợp giữa hai cơ quan trong kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì vậy, tạo lập môi trường thực sự dân chủ, công khai, minh bạch vừa là giải pháp, vừa là phương tiện bảo đảm để mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước được hoàn thiện và vận hành có hiệu quả. Môi trường đó đòi hỏi phải bảo đảm các yếu tố, điều kiện thông qua hệ thống thể chế, thiết chế tương ứng có khả năng thực thi trong thực tế. Ở nước ta, môi trường dân chủ, công khai, minh bạch chưa hoàn thiện, nó thể hiện ở chỗ tính pháp quyền chưa bao trùm, điều chỉnh hết các chủ thể và mối quan hệ xã hội.

Vì vậy, cần thiết phải tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp thực sự dân chủ, cởi mở, công khai, minh bạch để các cơ quan thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp phát huy được mọi tiềm năng sáng tạo của mình trong kiểm soát quyền lực nhà nước.

Thứ tư, xuất phát từ nhu cầu về kiểm soát quyền lực nhà nước

Để đảm bảo quyền lực nhà nước vận hành hiệu quả thì tất yếu phải tiến hành kiểm soát quyền lực nhà nước. Hoạt động kiểm soát này được đặt ra dưới hai góc độ, một là kiểm soát của nhân dân đối với cơ quan nhà nước về những nội dung ủy quyền và hai là các cơ quan nhà nước kiểm soát lẫn nhau để đảm bảo không chủ thể nào có thể lạm dụng hoặc vượt quá giới hạn quyền lực được nhân dân ủy quyền.

Sở dĩ nhân dân phải kiểm soát quyền lực nhà nước là vì quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân, thông qua Hiến pháp, nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước (cụ thể là những con người làm việc trong bộ máy nhà nước thực hiện). Trong khi đó, con người luôn chịu sự tác động của tình cảm, do đó không thể khẳng định được cơ quan nhà nước luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã trao cho trong mọi trường hợp. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền (nhân dân) đối với người được ủy quyền (cơ quan nhà nước). Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước là để giữ cho quyền lực nhà nước hoạt động trong khuôn khổ được ủy quyền, không bị tha hóa do lạm quyền, lộng quyền.

Kiểm soát quyền lực nhà nước không chỉ xuất phát từ nhân dân mà còn được đặt ra ngay trong hoạt động của bộ máy nhà nước, để đảm bảo cho các cơ quan nhà nước hoạt động theo đúng chức năng, thẩm quyền đã được pháp luật quy định. Cơ chế phân công rõ ràng và phối hợp chặt chẽ trong việc thực hiện quyền lực nhà nước được xem là yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước. Phân công nhiệm vụ, quyền hạn càng rõ ràng, minh bạch thì càng tạo điều kiện để các cơ quan nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước và đề cao trách nhiệm của mỗi nhánh quyền lực[5].

Như vậy, nhu cầu về kiểm soát quyền lực nhà nước không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát phạm vi hoạt động của quyền lực nhà nước do nhân dân ủy quyền mà còn là sự kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực sau khi đã được phân công cho các cơ quan nhà nước khác nhau nắm giữ. Lý luận và thực tế đã chứng minh rằng ở đâu có sự phân công rõ ràng và phối hợp chặt chẽ giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thì ở đó hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước sẽ đạt được mục đích như mong muốn. Chính vì vậy, nhu cầu về kiểm soát quyền lực nhà nước trở thành một trong những lý do của việc phải tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước thời gian tới.

Tóm lại, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa quyền hành pháp và quyền tư pháp trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay chính là một trong những bảo đảm chính trị, pháp lý quan trọng góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân theo quan điểm, đường lối của Đảng và Hiến pháp năm 2013.

ThS. Nguyễn Hữu Chính

Tòa án nhân dân TP. Hà Nội





[1]. Điều 2 Hiến pháp năm 2013.

[2]. Nguyễn Quang Anh (2014), Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ luật học.

[3]. Nguyễn Quang Anh (2014), Hoàn thiện cơ chế pháp lý nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ luật học.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

[5]. Hồ Bá Thâm (2009), Dân chủ hóa, phân quyền hoá cơ cấu hệ thống quyền lực nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11/2009

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.
Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tái cấu trúc động lực phát triển theo Nghị quyết Đại hội XIV, từ góc độ hoàn thiện thể chế và kiểm soát sở hữu chéo

Tóm tắt: Trong bối cảnh mô hình tăng trưởng truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV) xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Từ góc độ thể chế và pháp luật doanh nghiệp, nghiên cứu phân tích việc cấu trúc sở hữu trong công ty, đặc biệt là hiện tượng sở hữu chéo cổ phần, đang hỗ trợ hay cản trở quá trình hình thành các động lực phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của sở hữu chéo: vừa có thể thúc đẩy liên kết nguồn lực và đầu tư công nghệ, vừa tiềm ẩn nguy cơ làm suy giảm minh bạch, gây lệch lạc cơ chế quản trị, hạn chế cạnh tranh và cản trở đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đánh giá khung pháp luật hiện hành của Việt Nam, nghiên cứu làm rõ những khoảng trống, bất cập trong kiểm soát sở hữu chéo, qua đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách theo hướng gắn kiểm soát sở hữu chéo với thúc đẩy khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và quản trị doanh nghiệp minh bạch, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết Đại hội XIV.
Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Hoàn thiện khung pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo quy định chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu

Tóm tắt: Việt Nam là thành viên thứ 100 của Diễn đàn chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (IF on BEPS) và cam kết thực hiện các tiêu chuẩn tối thiểu trong khuôn khổ sáng kiến chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Đến nay, Việt Nam bước đầu triển khai 02 trong số 04 quy tắc tối thiểu thông qua xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trên cơ sở các quy định thuộc Trụ cột Hai OECD. Tuy nhiên, đối chiếu với điều kiện thực tiễn trong nước và kinh nghiệm lập pháp quốc tế, khung pháp luật hiện hành còn tồn tại một số hạn chế cần nghiên cứu, hoàn thiện. Trên cơ sở phân tích các quy định về chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu của OECD, so sánh kinh nghiệm triển khai tại Vương quốc Anh và Nhật Bản, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung theo cơ chế chống xói mòn cơ sở thuế toàn cầu tại Việt Nam.
Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cải cách tư pháp tại Việt Nam, phát triển nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm chất lượng xét xử và thực hiện quyền tư pháp. Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng nguồn nhân lực pháp luật trong hệ thống Tòa án nhân dân theo các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chất lượng và khả năng thích ứng với chuyển đổi số. Trên cơ sở sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu chỉ ra, đội ngũ cán bộ Tòa án có phát triển, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế như sự chênh lệch về chất lượng giữa các địa phương, áp lực công việc lớn, yêu cầu mới về năng lực công nghệ và những bất cập trong bảo đảm tính độc lập nghề nghiệp. Từ đó, nghiên cứu, đề xuất giải pháp nhằm phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay.
Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Hợp đồng thông minh trong pháp luật hợp đồng Việt Nam - Một số vấn đề pháp lý và đề xuất hoàn thiện trong bối cảnh chuyển đổi số

Tóm tắt: Sự phát triển của công nghệ chuỗi khối (blockchain) và cơ chế thực hiện tự động đã thúc đẩy ứng dụng hợp đồng thông minh, đặt ra yêu cầu xem xét khả năng điều chỉnh của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Nghiên cứu phân tích việc áp dụng nguyên tắc của pháp luật hợp đồng hiện hành đối với hợp đồng thông minh và giới hạn điều chỉnh phát sinh. Thông qua phương pháp phân tích và so sánh luật học, nghiên cứu đánh giá khả năng đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 khi hợp đồng được thể hiện bằng mã máy tính, đồng thời, làm rõ các vấn đề về ý chí, phân bổ rủi ro và trách nhiệm của bên thứ ba. Từ đó, nghiên cứu đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm an toàn pháp lý trong môi trường số.
Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Cơ sở pháp lý về hoạt động ngân hàng hồi giáo và khả năng áp dụng tại Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng, đa dạng, việc khơi thông dòng vốn từ thị trường tài chính Hồi giáo là nhu cầu cần thiết, song mô hình ngân hàng Hồi giáo chưa được triển khai tại Việt Nam do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có rào cản pháp luật, đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu dưới góc độ pháp luật. Trên cơ sở phân tích, so sánh pháp luật và kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới, nghiên cứu làm rõ cơ sở pháp lý, nguyên tắc đặc thù và quy định trong hoạt động của ngân hàng Hồi giáo; chỉ ra những điểm phù hợp, không phù hợp, từ đó, đề xuất các kiến nghị để Việt Nam có thể nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc nhằm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm, tạo điều kiện cho sự phát triển của ngân hàng Hồi giáo tại Việt Nam.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố bị can, hỏi cung bị can và đề xuất hoàn thiện

Tóm tắt: Trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp và tăng cường bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện các quy định về khởi tố bị can và hỏi cung bị can là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu phân tích một số vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành liên quan đến thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can; mối quan hệ giữa quyết định khởi tố bị can với hoạt động hỏi cung lần đầu; cơ chế triệu tập, trích xuất bị can và thực tiễn thực hiện. Từ đó nghiên cứu chỉ ra một số hạn chế trong kỹ thuật lập pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực tố tụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo hướng xác định rõ thẩm quyền, thời điểm khởi tố bị can, chuẩn hóa quy trình hỏi cung, tăng cường các thiết chế bảo đảm quyền con người, nhằm nâng cao tính công bằng, minh bạch và hiệu quả của tố tụng hình sự.
Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Hợp đồng điện tử - góc nhìn từ tư pháp quốc tế

Tóm tắt: Sự phát triển của hợp đồng điện tử trong bối cảnh chuyển đổi số sâu, rộng đặt ra nhiều thách thức đối với lĩnh vực tư pháp quốc tế. Nguyên nhân là do pháp luật hiện hành được thiết kế để điều chỉnh cho hợp đồng truyền thống trong xác định thẩm quyền tài phán và pháp luật áp dụng, tuy nhiên, đối với hợp đồng điện tử có những đặc thù pháp lý riêng biệt. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc giải quyết xung đột pháp luật và thẩm quyền, ảnh hưởng đến hiệu quả bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, nhất là bên yếu thế. Nghiên cứu phân tích thực trạng và so sánh các quy định liên quan theo pháp luật Việt Nam với Liên minh châu Âu (EU), từ đó, đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật.
Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Hoàn thiện quy định của luật thi hành án hình sự năm 2025 về vai trò của Tòa án trong thi hành án hình sự

Tóm tắt: Thi hành án hình sự là giai đoạn cuối cùng của quá trình tư pháp hình sự, có ý nghĩa quyết định bảo đảm hiệu lực đối với bản án, quyết định của Tòa án và bảo vệ quyền con người. Luật Thi hành án hình sự năm 2025 có nhiều sửa đổi nhằm làm rõ vai trò của Tòa án, song còn bộc lộ một số vấn đề có thể phát sinh bất cập trong thực tiễn thi hành. Trên cơ sở phân tích và đánh giá các quy định hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những bất cập về thẩm quyền, thủ tục và cơ chế phối hợp trong thi hành án hình sự, từ đó, đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả thi hành án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Quan điểm, chủ trương của Đảng và giải pháp thực hiện nhằm hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân trong giai đoạn mới

Tóm tắt: Quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định cơ bản, có ý nghĩa then chốt trong bảo đảm dân chủ, tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện chuyển đổi số quốc gia, sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, khuôn khổ pháp luật hiện hành về tiếp cận thông tin bộc lộ những hạn chế, cần sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện chính sách, pháp luật về tiếp cận thông tin trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng được thể hiện trong các nghị quyết, kết luận quan trọng của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, làm rõ vai trò của quyền tiếp cận thông tin trong việc thúc đẩy công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Nghiên cứu cho thấy, việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin là yêu cầu khách quan và cấp thiết nhằm bảo đảm thực thi hiệu quả quyền hiến định của công dân, đồng thời, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật Việt Nam - thực trạng và định hướng hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu chuyển đổi số và bảo vệ dữ liệu, nhiều quy định hiện hành bộc lộ hạn chế. Bài viết phân tích một số bất cập về phạm vi chủ thể cung cấp thông tin, cơ chế hạn chế quyền, sự thiếu đồng bộ với pháp luật dữ liệu; đồng thời, so sánh luật với chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó, đề xuất hoàn thiện pháp luật theo nguyên tắc công khai tối đa, áp dụng cơ chế kiểm tra tác hại và cân bằng lợi ích, mở rộng nghĩa vụ minh bạch và tăng cường số hóa, nhằm bảo đảm thực thi thực chất quyền tiếp cận thông tin trong Nhà nước pháp quyền.
Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Hoàn thiện Luật Công chứng nhằm khắc phục những bất cập từ thực tiễn

Tóm tắt: Trong bối cảnh cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, việc nhận diện các bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi. Bài viết tập trung nghiên cứu ba nhóm vấn đề: (i) quy định về kế thừa, chuyển giao và bảo đảm tính liên tục trong hoạt động của văn phòng công chứng; (ii) thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền trong trường hợp các bên không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng; (iii) quy định về giao dịch phải công chứng. Thông qua phương pháp phân tích quy phạm và thực tiễn hành nghề công chứng, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường tính thống nhất, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ và củng cố an toàn pháp lý cho giao dịch.
Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Bản chất và giá trị của pháp luật công chứng dưới góc nhìn triết học pháp luật

Tóm tắt: Xuất phát từ việc coi bản chất và giá trị của pháp luật là nền tảng của trật tự xã hội trong triết học pháp luật, nghiên cứu tiếp cận pháp luật công chứng dưới góc nhìn này nhằm làm rõ các đặc trưng cốt lõi của nó. Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích, đánh giá thực trạng Luật Công chứng năm 2024, qua đó, nhận diện một số bất cập, hạn chế của pháp luật thực định trong bối cảnh đời sống xã hội biến đổi, yêu cầu chuyển đổi số và xu hướng hoàn thiện thể chế. Từ những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật công chứng và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.

Theo dõi chúng tôi trên: