Thứ bảy 17/10/2026 12:50
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sở hữu tài sản

Ở nước ta, Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự ghi nhận, tôn trọng sự đa dạng hình thức sở hữu, bảo hộ quyền sở hữu tư nhân. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, về cơ bản, hệ thống pháp luật Việt Nam đã được xây dựng, hoàn thiện và thể chế hóa tương đối đầy đủ những nguyên tắc hiến định về quyền sở hữu tài sản.


Trên cơ sở các nguyên tắc của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu tài sản, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục ghi nhận những quyền năng mà chủ sở hữu có được đối với tài sản của mình (nội dung quyền sở hữu); quy định các nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu tài sản (chủ sở hữu được toàn quyền trong việc đối xử với tài sản của mình nhưng phải phù hợp với pháp luật và không vi phạm quyền lợi của người khác); quy định nghĩa vụ của những chủ thể khác không phải là chủ sở hữu không được xâm phạm quyền của chủ sở hữu; xác định các căn cứ làm phát sinh và chấm dứt quyền sở hữu; quy định cơ chế xác lập, công khai hóa quyền sở hữu để mọi người biết (cơ chế đăng ký tài sản); quy định cơ chế (biện pháp, cách thức) giúp chủ sở hữu bảo vệ được quyền sở hữu... Kết quả của các nội dung nêu trên là sự hình thành các nhóm quy định pháp luật về sở hữu trong hàng loạt các đạo luật quan trọng gồm:

(i) Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh “quan hệ tư” (các giao dịch dân sự, hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại) gồm Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Đầu tư công, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công… và các văn bản hướng dẫn thi hành;

(ii) Nhóm văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề tổ chức bộ máy nhà nước (thiết chế tổ chức về đăng ký, công nhận quyền tài sản, bảo vệ quyền tài sản...), quản lý trật tự công (như các tội danh xâm phạm quyền sở hữu tại Bộ luật Hình sự, các hành vi xâm phạm quyền bị xử phạt theo pháp luật về xử lý vi phạm hành chính) và các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng (như Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự).

Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã tạo thành hệ thống pháp luật về quyền sở hữu tài sản và cơ cấu, tổ chức, bộ máy của các thiết chế bảo vệ quyền sở hữu tài sản.

1. Về các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015

Với mục tiêu trở thành luật chung của hệ thống pháp luật tư điều chỉnh các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; ghi nhận và bảo vệ tốt hơn các quyền của cá nhân, pháp nhân trong giao lưu dân sự; góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ổn định môi trường pháp lý cho sự phát triển kinh tế - xã hội sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có những quy định mang tính nguyên tắc điều chỉnh quyền sở hữu tài sản.

Thứ nhất, ghi nhận căn cứ xác lập quyền sở hữu. Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật mà không phân biệt tài sản đó thuộc sở hữu của ai (Điều 236).

Thứ hai, cải cách quy định về việc phân loại các hình thức sở hữu bảo đảm phù hợp với bản chất pháp lý của quan hệ sở hữu và thông lệ quốc tế về vấn đề này, góp phần làm cho các quy định về quan hệ sở hữu của Bộ luật Dân sự có vai trò tích cực hơn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế thị trường. Bộ luật quy định 03 hình thức sở hữu là sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung thay cho 06 hình thức sở hữu được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005. Việc phân loại các hình thức sở hữu tại Bộ luật Dân sự năm 2015 căn cứ vào các đặc thù trong việc thực hiện các quyền của chủ sở hữu, chứ không phải căn cứ vào tính chất, chức năng của các chủ sở hữu. Quy định này đảm bảo phù hợp với nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu, theo đó, Hiến pháp năm 2013 không quy định cụ thể về các chế độ sở hữu, hình thức sở hữu hay các thành phần kinh tế như các bản Hiến pháp trước đây (khoản 1 và khoản 2 Điều 51). Về sở hữu chung, nếu trong Bộ luật Dân sự năm 2005, sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể mặc dù vẫn có hình thức thuộc sở hữu chung song lại thuộc mục riêng thì trong Bộ luật Dân sự năm 2015, các loại hình trên được gộp thành hình thức sở hữu chung. Cũng giống như việc gộp sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của tổ chức thành sở hữu riêng thì việc gộp sở hữu của tổ chức, sở hữu tập thể, sở hữu chung thành hình thức sở hữu chung nhằm tạo sự ngắn gọn, bớt rườm rà, dễ dàng hơn trong việc áp dụng pháp luật.

Thứ ba, tách quyền chiếm hữu thành một nội dung độc lập với quyền sở hữu. Theo đó, chế định chiếm hữu được thiết kế độc lập với quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản như là một tình trạng thực tế giữa người với tài sản: Chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Các quy định này nhằm đáp ứng sự đa dạng của quan hệ xã hội, đảm bảo sự ổn định trong quá trình tài sản được đưa vào giao dịch dân sự, xây dựng chế độ pháp lý phù hợp với bản chất của từng loại quan hệ đối với tài sản, nhất là chế độ pháp lý giữa quan hệ thực tế giữa người với tài sản (chiếm hữu, quan hệ đối vật) và quan hệ giữa người với người với tài sản (quan hệ đối nhân). Chế định chiếm hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được xây dựng trên cơ sở tôn trọng tình trạng thực tế về chiếm hữu, hạn chế tối đa những hành xử mang tính vũ lực để đòi lại tài sản, qua đó bảo đảm trật tự trong các quan hệ xã hội; là cơ sở để mọi chủ thể có thể yên tâm đầu tư khai thác tài sản một cách hiệu quả và không lãng phí (từ Điều 179 đến Điều 185).

Thứ tư, hoàn thiện và ghi nhận quyền của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản của người khác (gọi là quyền khác đối với tài sản) gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt. Bên cạnh đó, mối quan hệ pháp lý giữa người không phải là chủ sở hữu với chủ sở hữu khi họ đều có lợi ích trên cùng một tài sản… đã được quan tâm xây dựng, hoàn thiện. Việc hoàn thiện thể chế pháp luật nhằm tăng cơ hội pháp lý và bảo đảm pháp lý về tài sản và quyền đối với tài sản làm cho các chủ sở hữu mạnh dạn đầu tư hoặc yên tâm giao tài sản của mình cho người khác đầu tư, khai thác sử dụng và những người không phải là chủ sở hữu cũng mạnh dạn, yên tâm đầu tư vào tài sản thuộc sở hữu của người khác. Các quyền khác được Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung cho phép người không phải là chủ sở hữu được quyền trực tiếp nắm giữ, chi phối bao gồm quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt.

Thứ năm, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về giới hạn quyền dân sự, theo đó, quyền dân sự, trong đó có quyền sở hữu chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (Điều 2).

Thứ sáu, khẳng định cơ chế bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản, cụ thể:

- Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản không bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật; trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường (Điều 163).

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật; quyền yêu cầu người khác chấm dứt hành vi vi phạm (Điều 11, Điều 12).

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ bằng phương thức khiếu nại hành chính tại cơ quan hành chính; khởi kiện tại Tòa án để thông qua đó bảo vệ quyền của mình (như đòi lại tài sản của mình đang bị người khác chiếm giữ bất hợp pháp; chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại...). Pháp luật hành chính cũng quy định về các biện pháp hành chính mà Nhà nước được sử dụng để thực hiện việc bảo vệ quyền sở hữu khi có hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản nhà nước như các biện pháp cưỡng chế, phòng ngừa và ngăn chặn. Pháp luật hình sự bảo vệ quyền sở hữu thông qua việc quy định những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền sở hữu bị coi là tội phạm và quy định các mức hình phạt tương xứng với những loại hành vi phạm đó.

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền kiện đòi tài sản (Điều 166). Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133. Trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133, chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại (khoản 3 Điều 133).

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu chủ thể khác chấm dứt hành vi xâm phạm quyền (Điều 164, Điều 169).

- Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu chủ thể gây thiệt hại cho tài sản phải bồi thường (Điều 170).

2. Về Luật Đất đai năm 2013

Nhằm thể chế hóa quy định tại Điều 53, Điều 54 Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 đã có các quy định về việc quản lý và sử dụng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu:

Thứ nhất, quy định cụ thể về trách nhiệm của Nhà nước, quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai và thống nhất quản lý đất. Nhà nước thực hiện quyền quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định hạn mức giao đất nông nghiệp, hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận quyền sử dụng đất ở và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp; quy định thời hạn sử dụng; trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất; quyết định thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; quyết định trưng dụng đất trong trường hợp thật cần thiết để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh hoặc trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai; quy định nguyên tắc, phương pháp định giá đất, ban hành khung giá đất, bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể; quyết định chính sách thu, chi tài chính về đất đai; điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi (Điều 13).

Thứ hai, phân cấp rõ việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai của các cơ quan nhà nước. Theo đó, Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước. Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương. Về việc quản lý đất đai theo lãnh thổ, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước; Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thống nhất quản lý nhà nước về đất đai; bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giúp Chính phủ trong quản lý nhà nước về đất đai; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai tại địa phương theo thẩm quyền (Điều 23).

Thứ ba, quy định quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộ, tuy nhiên, đặt trong bối cảnh phải hài hòa với quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước và cá nhân, tổ chức khác (Điều 26). Việc bảo đảm, tôn trọng quyền của chủ sử dụng đất được thể hiện thông qua:

- Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thể hiện sự công nhận quyền của Nhà nước của cá nhân, tổ chức đối với phần đất đai đó;

- Người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối không có đất sản xuất do quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế được tạo điều kiện đào tạo nghề, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm;

- Người sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo quy định của pháp luật;

- Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

- Đồng bào dân tộc thiểu số được tạo điều kiện về đất ở, đất sinh hoạt cộng đồng cho phù hợp với phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa và điều kiện thực tế của từng vùng cũng như trực tiếp sản xuất nông nghiệp ở nông thôn có đất để sản xuất nông nghiệp;

- Quyền tiếp cận của tổ chức, cá nhân đối với hệ thống thông tin đất đai được bảo đảm.

3. Về Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014

Luật Nhà ở được ban hành năm 2014 đã có các quy định điều chỉnh hầu hết các vấn đề liên quan đến lĩnh vực nhà ở từ phát triển nhà ở, sở hữu nhà ở, quản lý, sử dụng nhà ở, giao dịch về nhà ở, quản lý nhà nước về nhà ở. Các quy định của Luật này đã tạo cơ sở thúc đẩy đầu tư xây dựng nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Luật Nhà ở năm 2014, Chính phủ đã ban hành 05 nghị định hướng dẫn. Căn cứ nhiệm vụ được giao tại Luật Nhà ở cũng như tại nghị định của Chính phủ, Bộ Xây dựng cũng đã ban hành 04 thông tư để hướng dẫn thực hiện Luật Nhà ở và các nghị định này. Có thể nói, việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về nhà ở đã tạo hành lang pháp lý cho các tổ chức, cá nhân tham gia lĩnh vực nhà ở và giúp cơ quan chức năng tăng cường quản lý nhà nước về lĩnh vực nhà ở.

Luật Nhà ở năm 2014 cùng với các Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường… đã có các quy định cụ thể về đầu tư kinh doanh nhà ở[1]. Các quy định này góp phần xóa bỏ một loạt các rào cản đầu tư, kinh doanh không phù hợp với thông lệ kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Bên cạnh đó, các lĩnh vực như quản lý sử dụng nhà chung cư, nhà ở thuộc sở hữu nhà nước ngày một đi vào nề nếp, nâng cao chất lượng sống của người dân tại các khu nhà này.

Về sở hữu nhà ở của cá nhân, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam, Luật Nhà ở năm 2014 mở rộng điều kiện, đối tượng và quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực nhà ở đã tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy hợp tác kinh tế quốc tế, đồng thời khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư vào Việt Nam.

Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 cũng đã định hướng, tạo hành lang pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước từng bước quản lý hiệu quả, đưa hoạt động của thị trường bất động sản đi vào nề nếp, ngày càng minh bạch, công khai.

Để triển khai Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Chính phủ đã ban hành 03 nghị định hướng dẫn thi hành, giao Bộ Xây dựng ban hành 03 thông tư hướng dẫn, tổ chức triển khai Luật.

4. Về Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019)

Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009 và năm 2019) đã cụ thể hóa các quy định của quyền sở hữu đối với một loại tài sản vô hình là tài sản sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng), theo đó:

Thứ nhất, Luật Sở hữu trí tuệ đã đưa ra các căn cứ xác lập quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế xác lập quyền nhằm bảo vệ tối đa quyền của chủ sở hữu, như: (i) Quyền tác giả và quyền liên quan được xác lập và bảo hộ hoàn toàn “tự động” chứ không cần phải đăng ký xác lập quyền với điều kiện đối tượng quyền tác giả phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phải chỉ là những ý tưởng trong đầu tác giả (Điều 6); (ii) Quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng chỉ được xác lập trên cơ sở đăng ký xác lập quyền và đáp ứng đầy đủ các điều kiện bảo hộ (Điều 90, Điều 91)…

Thứ hai, Luật Sở hữu trí tuệ cũng đặt ra một số giới hạn của chủ sở hữu tài sản sở hữu trí tuệ để bảo vệ lợi ích công cộng, bảo vệ an ninh, quốc phòng, đó là: Trong một số trường hợp (tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân; trích dẫn hợp lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận hoặc minh họa trong tác phẩm của mình…), việc sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho tác giả hoặc đối với sáng chế, chủ sở hữu sáng chế có nghĩa vụ sản xuất sản phẩm được bảo hộ hoặc áp dụng quy trình được bảo hộ để đáp ứng nhu cầu quốc phòng, an ninh, phòng bệnh, chữa bệnh, dinh dưỡng cho nhân dân hoặc các nhu cầu cấp thiết khác của xã hội. Khi có các nhu cầu quy định tại khoản này mà chủ sở hữu sáng chế không thực hiện nghĩa vụ đó thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho người khác mà không cần sự cho phép của chủ sở hữu sáng chế (Điều 25, Điều 133, Điều 136).

5. Về Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014

Cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013, Điều 5 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp, chủ sở hữu doanh nghiệp, nhà đầu tư”. Tài sản và vốn đầu tư hợp pháp của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu, trưng thu bằng biện pháp hành chính. Khoản 1 Điều 7 Luật này cũng quy định một trong các quyền của doanh nghiệp là “tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm”.

Luật Đầu tư năm 2014 cũng đã có quy định về bảo đảm đầu tư, bao gồm: Bảo đảm quyền sở hữu tài sản; bảo đảm hoạt động đầu tư kinh doanh; bảo đảm chuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài; bảo đảm đầu tư kinh doanh trong trường hợp thay đổi pháp luật (các điều 9, 10, 11, 13). Thực chất, đây cũng là cam kết của Chính phủ về bảo đảm quyền sở hữu tài sản theo nghĩa rộng đối với nhà đầu tư.

Lê Thị Luyến

Vụ Pháp luật dân sự - kinh tế, Bộ Tư pháp

[1]. Như các điều từ Điều 56 đến Điều 59 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Điều 21 Luật Đầu tư năm 2014, Điều 56 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam và Trung Quốc - So sánh bối cảnh lịch sử và con đường phát triển

Tóm tắt: Pháp quyền xã hội chủ nghĩa là khái niệm được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, nhưng có nội hàm và cách tiếp cận khác nhau, trong khi các nghiên cứu so sánh về vấn đề này còn tương đối hạn chế. Nghiên cứu so sánh quá trình hình thành và phát triển mô hình pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và Trung Quốc cho thấy, Việt Nam chủ yếu tiếp thu mô hình Xô Viết và chịu ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hóa, thể hiện xu hướng phổ quát pháp lý; ngược lại, Trung Quốc chủ động “Trung Quốc hóa” các học thuyết phương Tây theo hướng đặc thù pháp lý. Trên cở sở đó, nghiên cứu đề xuất Việt Nam có thể tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của Trung Quốc trong xây dựng và hoàn thiện nền pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với thực tiễn đất nước.
Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Quyền tác nghiệp báo chí tại phiên tòa công khai theo Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024 - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Khoản 3 Điều 141 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024, được sửa đổi, bổ sung một số điều bởi Luật số 81/2025/QH15 (Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2024) cho phép ghi âm trong suốt phiên tòa và ghi hình ở phần khai mạc và tuyên án. Các nghiên cứu trong nước về xét xử công khai, quyền tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin hầu như chưa đánh giá riêng quy định này theo học thuyết tương xứng và cân bằng quyền hiến định. Áp dụng ba điều kiện hạn chế quyền tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15 (Hiến pháp năm 2013) cho thấy quy định này phù hợp nhưng chưa đáp ứng đầy đủ tính cần thiết và tính tương xứng, bởi tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn mà vẫn bảo vệ tương đương nhóm chủ thể yếu thế. Từ học thuyết cân bằng quyền, nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên giữa quyền tự do báo chí và quyền riêng tư; đồng thời, đề xuất sửa đổi khoản 3 Điều 141 và tiếp tục hoàn thiện Dự thảo Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định về nội quy phiên tòa, phiên họp và việc ghi âm lời nói, ghi hình ảnh diễn biến phiên tòa, phiên họp** (Dự thảo Thông tư) để tương thích với khoản 4 Điều 27 Luật Báo chí năm 2025 và thiết lập cơ chế phối hợp giữa Tòa án và báo chí.
Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh

Tóm tắt: Quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh là hai phạm trù pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội. Trong bối cảnh truyền thông số phát triển mạnh mẽ, việc sử dụng hình ảnh trẻ em trong hoạt động báo chí ngày càng phổ biến, làm tăng nguy cơ xâm phạm đời sống riêng tư của trẻ em và phát sinh xung đột pháp lý giữa quyền tự do báo chí với quyền được bảo vệ đời sống riêng tư của trẻ em. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các dạng xung đột pháp lý giữa hai quyền, nghiên cứu chỉ ra những hạn chế của pháp luật trong giải quyết xung đột và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền tự do báo chí và quyền đời sống riêng tư của trẻ em đối với hình ảnh.
Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Tóm tắt: Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giữ vai trò quan trọng trong phát huy dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, đồng thời, nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật. Nghiên cứu phân tích hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với chính sách và pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Trên cơ sở phương pháp phân tích, tổng hợp, đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện, nghiên cứu làm rõ thực trạng chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Quyền và nghĩa vụ của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng đất tại Việt Nam theo Luật Đất đai năm 2024 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Đất đai năm 2024 xác lập địa vị pháp lý riêng đối với người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam trong quan hệ sử dụng đất. Nghiên cứu phân tích quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong sử dụng đất để đầu tư, kinh doanh và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; đồng thời, chỉ ra một số tồn tại, hạn chế, bất cập trong quyền tiếp cận, nhận chuyển nhượng và thừa kế quyền sử dụng đất. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo đảm tính thống nhất của pháp luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản và quyền, lợi ích hợp pháp của người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Hồ sơ điện tử vụ án trong tố tụng hình sự - Từ quản lý hồ sơ đến quản trị dữ liệu tố tụng

Tóm tắt: Hồ sơ điện tử vụ án hình sự là một bước chuyển từ phương thức quản lý hồ sơ truyền thống sang quản lý và quản trị dữ liệu tố tụng trên môi trường số. Nghiên cứu phân tích sự hình thành hồ sơ điện tử vụ án hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số trong tố tụng hình sự, trên cơ sở Luật số 99/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự và văn bản chỉ đạo của Chính phủ1, thông tư quy định chi tiết2. Từ góc độ quản trị dữ liệu tố tụng, nghiên cứu làm rõ sự chuyển dịch từ quản lý hồ sơ giấy sang quản trị dữ liệu tố tụng số; phân tích các chức năng pháp lý của hồ sơ điện tử vụ án hình sự và những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, gồm chuẩn hóa dữ liệu, liên thông dữ liệu và xây dựng khung kiến trúc dữ liệu tố tụng hình sự. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện khung pháp luật và cơ chế quản trị dữ liệu nhằm triển khai thống nhất hồ sơ điện tử vụ án trong hoạt động tố tụng hình sự.
Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về lấn biển dưới góc độ pháp luật đất đai tại Việt Nam

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia có đường bờ biển dài và có nhiều lợi thế về lấn biển. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh để làm rõ khái niệm lấn biển; lịch sử quy định về lấn biển trong các Luật Đất đai; khoảng trống pháp lý về lấn biển trước khi Luật Đất đai năm 2024 được ban hành. Đồng thời, nghiên cứu phân tích những hạn chế của pháp luật đất đai hiện hành và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về lấn biển trong thời gian tới như nguyên tắc, điều kiện lấn biển, tọa độ khu vực lấn biển, quản lý, sử dụng đất lấn biển, quỹ đất xây dựng công trình hạ tầng công cộng, sử dụng khu vực biển để tạo quỹ đất thanh toán cho dự án BT.
Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Công chứng bắt buộc đối với giao dịch về quyền sử dụng đất trong dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) - Tiếp cận từ yêu cầu bảo đảm an toàn pháp lý

Tóm tắt: Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi)[1] (dự thảo Luật) đang xem xét bỏ công chứng bắt buộc đối với một số giao dịch về quyền sử dụng đất, đặt ra yêu cầu hài hòa giữa cải cách thủ tục hành chính với bảo vệ quyền tài sản, phòng ngừa tranh chấp và bảo đảm an toàn pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất. Trên cơ sở phương pháp phân tích pháp lý, kinh tế học pháp luật, pháp luật so sánh và thực tiễn xét xử, nghiên cứu làm rõ sự cần thiết phải công chứng đối với quyền sử dụng đất - một loại tài sản và hàng hóa đặc biệt, có giá trị lớn, cần được nhìn nhận như chi phí phòng ngừa rủi ro, thay vì chỉ là chi phí thủ tục. Từ đó, nghiên cứu đề xuất duy trì công chứng bắt buộc đối với các giao dịch có rủi ro pháp lý cao hoặc liên quan đến chủ thể cần được bảo vệ đặc biệt; đối với giao dịch có rủi ro thấp hơn, có thể mở rộng quyền lựa chọn công chứng hoặc cơ chế xác thực khác khi hạ tầng dữ liệu, hệ thống đăng ký và cơ chế trách nhiệm thay thế bảo đảm đáp ứng yêu cầu an toàn pháp lý.
Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh của nền kinh tế nền tảng trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi cấu trúc quan hệ lao động và đặt ra những thách thức mới đối với việc bảo vệ quyền của người lao động. Nghiên cứu phân tích địa vị pháp lý và các quyền cơ bản của lao động nền tảng tại Việt Nam trong các lĩnh vực lao động như vận tải, giao hàng và dịch vụ trực tuyến. Bằng phương pháp phân tích, so sánh pháp luật và tổng hợp thực tiễn, nghiên cứu nhận diện khoảng trống của pháp luật trong bảo đảm quyền của nhóm lao động này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, pháp luật Việt Nam chưa theo kịp đặc thù của mô hình lao động nền tảng như xác định quan hệ lao động, an sinh xã hội và kiểm soát thuật toán. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một số định hướng hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường bảo vệ quyền của người lao động trong kinh tế nền tảng.
Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Một số đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trong giai đoạn hiện nay

Tóm tắt: Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức làm công tác thi hành án dân sự là tập hợp các dấu hiệu/nhóm dấu hiệu phản ánh năng lực, hành vi công vụ, phẩm chất đạo đức và kết quả thực thi nhiệm vụ của công chức thi hành án dân sự, sử dụng để đo lường, so sánh và cải thiện hiệu suất làm việc của đội ngũ công chức trong hệ thống thi hành án dân sự. Nghiên cứu cho thấy, hiện, tiêu chí đánh giá chất lượng còn thiếu, nhất là tiêu chí phản ánh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, tư duy cải cách... Vì vậy, nghiên cứu phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức làm công tác thi hành án dân sự trên nền tảng quản trị công vụ hiện đại, gắn với vị trí việc làm, khung năng lực và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Trên cơ sở phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành, nghiên cứu chỉ ra những kết quả đạt được, đồng thời, nhận diện hạn chế, bất cập trong thực trạng đánh giá hiện nay. Từ đó, nghiên cứu đề xuất hệ tiêu chí đánh giá theo hướng kết hợp giữa tiêu chí chung của công chức với tiêu chí đặc thù của từng chức danh như Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thư ký thi hành án nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức ngành thi hành án dân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến năm 2030.
Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Một số kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh mới

Tóm tắt: Trong bối cảnh yêu cầu phát triển đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam ở cấp độ cấu trúc, thay vì sửa đổi từng văn bản riêng lẻ. Trên cơ sở định hướng của Kết luận số 09-KL/TW và đối chiếu với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025*, nghiên cứu phân tích, làm rõ các vấn đề liên quan đến cấu trúc nguồn luật, hình thức văn bản quy phạm pháp luật, nguyên tắc xử lý xung đột pháp luật, nguồn bổ trợ, văn bản hợp nhất và cơ chế đánh giá sau ban hành, từ đó, chỉ ra một số nội dung chưa được thể chế hóa đầy đủ và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật theo hướng tinh, gọn, thống nhất, minh bạch, dễ tiếp cận, có khả năng kiến tạo phát triển.
HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

HÀNH LANG PHÁP LÝ CHO LỚP HỌC KHÔNG BIÊN GIỚI

Một bài giảng hôm nay có thể được truyền từ một lớp học nhỏ tới hàng nghìn người học ở nhiều không gian khác nhau; một học sinh chỉ cần vài giây để nhận câu trả lời từ trí tuệ nhân tạo (AI) cho vấn đề từng đòi hỏi hàng giờ tra cứu. Công nghệ đang làm cho lớp học vượt khỏi bốn bức tường. Tuy nhiên, khi những giới hạn vật lý dần biến mất, những giới hạn pháp lý về quyền sáng tạo, dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm của con người càng phải được xác lập rõ hơn. Bởi lớp học có thể không còn biên giới, nhưng quyền và trách nhiệm phải luôn được xác định rõ.
Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Quyền được đào tạo của người lao động là một trong những quyền cơ bản, có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm việc làm bền vững và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Trong quan hệ lao động, nguyên tắc tự do hợp đồng không được áp dụng tuyệt đối, mà chịu sự điều chỉnh và giới hạn nhất định nhằm bảo vệ người lao động là bên yếu thế. Trên cơ sở phân tích các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, nghiên cứu làm rõ các giới hạn tự do hợp đồng trong quan hệ lao động nhằm bảo đảm quyền được đào tạo của người lao động, từ đó, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Từ khóa: tự do hợp đồng; quan hệ lao động; quyền được đào tạo.
Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch

Tóm tắt: Xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm trật tự quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, đồng thời, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh du lịch an toàn, lành mạnh và bền vững. Thời gian qua, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch từng bước được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành còn một số hạn chế như thiếu thống nhất, chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa bao quát đầy đủ một số hành vi vi phạm đặc thù. Trên cơ sở phân tích một số bất cập của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối với cơ sở lưu trú du lịch, nghiên cứu đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt trong thực tiễn.
Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Hoàn thiện nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động ở Việt Nam từ triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và kinh nghiệm của Australia

Tóm tắt: Bình đẳng giới trong lao động đang đối diện các hình thức phân biệt đối xử được trung gian bởi dữ liệu và thuật toán. Điều này dẫn đến những bất lợi gắn liền với giới trở nên khó nhận diện hơn trong thực tiễn tuyển dụng và quản trị nhân sự. Trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Nghị quyết Đại hội XIV), yêu cầu hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới không chỉ dừng ở bảo vệ quyền của lao động theo cách tiếp cận truyền thống, mà còn đặt ra yêu cầu đổi mới nhận thức về nội hàm pháp lý của bình đẳng giới trong lao động theo hướng phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế. Từ kinh nghiệm của Australia, pháp luật Việt Nam cần tiếp thu có chọn lọc, mở rộng nội hàm bình đẳng giới trong lao động, đáp ứng mục tiêu Nghị quyết Đại hội XIV. Theo đó, khung pháp lý hướng tới độ mở phù hợp với thực tiễn, lấy con người làm trung tâm cho động lực phát triển xã hội.

Theo dõi chúng tôi trên: